Mở đầu Giao diện kết nối trong mạng NGN được thực hiện giữa các thực thể mạng giữa các mặt phẳng chức năng được chỉ ra trong hình 1. Bao gồm giao diện kết nối giữa Server ứng dụng và Server điều khiển cuộc gọi MGC , MGC (Softswitch) và MG, hay giữa các MGC. Đây là các giao diện chính, tuy nhiên tùy theo điều kiện triển khai của nhà khai thác và giải pháp của các nhà cung cấp còn có thể xuất hiện thêm một số thực thể vật lý riêng được tách ra từ một số chức năng của các phần tử trên như: Server báo hiệu, Server phương tiện… do đó cũng sẽ có thêm một số giao diện mới. Các giao diện kết nối mạng NGN được thực hiện bởi các giao thức giữa các phần tử mạng trong mạng NGN.
Các giao thức đó là: − BICC − Megaco/H.323 − INAP − SIGTRAN Ngoài ra còn có các giao thức giữa các phần tử mạng và phần quản lý trong mạng NGN. BICC Trong nửa cuối năm 1999 và đầu năm 2000 nhóm nghiên cứu 11 – SG11 của ITU đã tiến hành các hoạt động để ban hành tập khả năng số 1 của BICC vào tháng 6 năm 2000. Trong đó BICC CS1 được thiết kế để cho phép các nhà khai thác mạng cỡ lớn đang sử dụng ISUP có thể tiến hành chuyển đổi từ việc sử dụng mạng truyền tải TDM và mạng báo hiệu trên nền MTP3 hướng đến công nghệ gói một cách dần dần. Mô hình của BICC CS 1 cho phép từng đoạn ATM được đưa vào trong một mạng ISUP băng hẹp hiện có mà không làm mất đi các tính năng và dịch vụ của ISUP hay của IN.
BICC CS1 cũng đưa ra nhứng khả năng lựa chọn mới mà chưa được định nghĩa trong ISUP băng hẹp là “ codec negotiation” và “ codec Đào Ngọc Nam Trang 19/95 LuËn v¨n tèt nghiÖp Cao häc modification “. Điều này cho phép BICC đưa ra các thao tác chuyển mã tự do trong mạng , chẳng hạn như đối với dịch vụ di động thao tác chuyển mã tự do sẽ cải thiện đuợc chất lượng thoại do tránh được việc chuyển mã không cần thiết giữa các lần mã hoá/nén thoại trong mạng. Mô hình của ISN được sử dụng trong BICC CS1 bao gồm các chức năng sau : Chức năng dịch vụ cuộc gọi CSF thực hiện vai trò là giao diện giữa báo hiệu ISUP truyền thống trong mạng TDM, là giao diện dẫn tới bộ chuyển đổi chuyển tải báo hiệu ( STC Signalling transport specific converter ), là giao diện dẫn đến chức năng phối hợp hoạt động /điều khiển mang ( bearer ) BIWF/BCF. STC chuyển đổi từ BICC sang chuyển tải báo hiệu riêng.
Đối với BICC CS1, STC được định nghĩa bởi ITU cho các loại chuyển tải báo hiệu như sau : − MTP3/3B − SSCOP − SSCOPMCE BIWF cung cấp phối hợp hoạt động giữa các công nghệ mạng khác nhau ( TDM và ATM). BCF cung cấp báo hiệu đặc biệt về “ mang” để thiết lập “ mang “ mới sử dụng bởi cuộc gọi BICC. BICC CS1 CSF điều khiển BIWF/ BCF thông qua giao diện “ primitive”. Để cho phép đảm bảo sự tương thích giữa các ISN của các nhà sản xuất khác nhau cần phải đưa ra chi tiết về chuyển đổi BICC tới/từ các công nghệ mạng “mang”.
trong trường hợp BICC CS1 việc chuyển đổi được định nghĩa bởi ITU-T như sau: − AAL1 sử dụng báo hiệu DSS2. − AAL1 sử dụng báo hiệu B-ISUP. − AAL2 sử dụng báo hiệu AAL2 ( CS1 ). Ngoài ra , diễn đàn ATM cũng đã định nghĩa việc chuyển đổi của BICC như sau : − AAL1 sử dụng báo hiệu ATM-F UNI − AAL1 sử dụng báo hiệu ATM-F PNNI − AAL1 sử dụng báo hiệu AINI Đào Ngọc Nam Trang 20/95 LuËn v¨n tèt nghiÖp Cao häc BICC CS1 được chỉ định đi cùng với ISUP 2000.
Tập khuyến nghị ISUP 2000 bao gồm ITU-T Q761 đến Q764 ( bao gồm cả Addendum Q762 và Q763 ) và Q765. Phụ lục của khuyến nghị ITU-T Q1901 mô tả việc phối hợp hoạt động của ISUP với BICC tại một ISN và các yêu cầu về bộ chuyển đổi chuyển tải báo hiệu. ứng dụng đặc biệt của BICC/ISUP – cơ chế chuyển tải ứng dụng APM được sử dụng trong BICC để hỗ trợ cho các thủ tục mang riêng biệt được định nghĩa trong khuyến nghị ITU-T Q765. Mô tả hoạt động của BICC với các hệ thống báo hiệu điều khiển “ mang” nằm trong các khuyến nghị bổ sung của ITU − TRQ.3020 ( BICC với BISUP cho AAL1 ) Mô tả hoạt động của BICC với hệ thống báo hiệu điều khiển ATM-F nằm trong AF-CS-VMOA-0146.000 ( BICC với SIG4.0/AINI ) BICC trong mạng IP hay BICC CS2 Giao thức điều khiển cuộc gọi BICC CS2 xây dựng trên cơ sở BICC CS1, nó bao gồm hầu hết các dịch vụ được hỗ trợ trong ISUP với kiến trúc hiện tại tính đến cả chức năng của tổng đài nội hạt.
Điều này sẽ đẫn đến các khuyến nghị về cuộc gọi cơ bản được phát triển bởi ITU SG 11 thay cho bản tương ứng của ISUP trong CS1. Các khuyển nghị đối với cuộc gọi cơ bản đuợc thể hiện như sau: − Q1902.2 Tham số và bản tin ( Được chia sẻ cùng với ISUP ) − Q1902.3 Khuôn dạng và mã ( được chia sẻ cùng với ISUP ) − Q1902.4 Thủ tục Thủ tục để hỗ trợ cho các dịch vụ bổ trợ trong ISUP được thể hiện ở Q1902. Việc thực hiện chức năng phối hợp hoạt động giữa BICC với các hệ thống báo hiệu khác đựoc thể hiện dưới đây : − Q1912.1 Phối hợp hoạt động giữa BICC và SS7 ISUP − Q1912.2 Phối hợp hoạt động giữa BICC với các kiểu báo hiệu ( truy nhập PSTN, DSS1, C5, R1,R2, TUP ) − Q1912.3 Phối hợp hoạt dộng giữa BICC và H323 Đào Ngọc Nam Trang 21/95 LuËn v¨n tèt nghiÖp Cao häc − Q1912.4 Phối hợp hoạt động giữa BICC và DSS2 − Q1922.2 Phối hợp hoạt động giữa BICC và INAP CS2 Một khía cạnh quan trọng nữa được thể hiện trong CS2 đó là việc hỗ trợ IP “mang “ và việc điều khiển mang này với điều khiển cuộc gọi được tách biệt ra. Điều này cho phép một CSF có thể điều khiển được nhiều BIWF và một BIWF cũng có thể được điều khiển bởi một hay nhiều CSF.
Điều này có nghĩa là khối lượng thông tin được mang đi từ một điểm SN gốc tới điểm kế tiếp sẽ được tăng lên cho cuộc gọi để đáp ứng mục đích nhận dạng và thông tin liên quan đến cuộc gọi/mang. Các khuyến nghị cho phần này được thể hiện dưới đây : − Q1950 Call Bearer Control Protocol - CBC − Q1970 IP Bearer Control Protocol – BCP − Q1990 Bearer Control Tuneling Protocol Một số các khuyến nghị liên quan đến BICC đuợc thể hiện sau đây : − Q2150.0 Generic Signalling Transport Service − Q2150.1 Signalling transport converter on MTP3&MTP3B − Q2150.2 Signalling transport converter on SCCOP&SCCOPMCE − Q2150.3 Signalling tranport converter on SCTP. SIP Giao thức khởi tạo phiên (SIP) là một giao thức được phát triển để hỗ trợ cho việc cung cấp các dich vụ thoại thông qua mạng Internet. SIP được đề xuất bởi IETF và được mô hình hoá dựa trên các giao thức khác của Internet chẳng hạn như SMTP (simple mail tranfer protocol ) và HTTP (Hypertext tranfer protocol ).
Hiện tại tiêu chuẩn SIP đang sử dụng trên mạng là RFC 2543, nhưng hiện nay IETF đã có phiên bản mới là RFC 3261. Các điểm thay đổi so với RFC 2543 được thể hiện tại mục 28 của RFC 3261. Nó được sử dụng để thiết lập, thay đổi và xoá các cuộc gọi được thiết lập giữa một hay nhiều người sử dụng trong một mạng IP. Để đảm bảo yêu cầu cung cấp dịch vụ thoại SIP được sử dụng cùng với một số các giao thức hay tiêu chuẩn khác như RTP cho việc đảm bảo chuyển tải, các báo hiệu liên quan đến sự phối hợp hoạt động với mạng hiện có, các giao thức như RSVP để đảm bảo cho chất lượng thoại, RADIUS hay DIAMETER cho việc nhận thực người sử dụng.
SIP được mô tả như giao thức điều khiển cho các phiên kiến tạo, sửa đổi, kết cuối với một hay nhiều thành phần. Khái niệm phiên ở đây bao gồm hội nghị đa phương tiện Internet, Đào Ngọc Nam Trang 22/95 LuËn v¨n tèt nghiÖp Cao häc các cuộc điện thoại Internet ( hoặc mạng IP bất kỳ ) và phân phối đa phương tiện. Những thành viên trong một phiên có thể thông tin với nhau theo kiểu đa hướng hay là thông qua kết nối theo kiểu quan hệ đơn hướng hoặc là bao gồm cả hai phương pháp trên. SIP hỗ trợ những mô tả để cho phép người tham dự đồng ý thiết lập kiểu phương tiện tương ứng.
SIP cũng hỗ trợ tính di động của người sử dụng bởi các Proxy và chuyển tiếp các yêu cầu đến vị trí hiện tại của người sử dụng. SIP đảm bảo cho các chức năng sau đây : - Định vị người dùng và chuyển đổi tên : Đảm bảo để cuộc gọi tìm thấy bị gọi và vị trí hiện tại. Nó không mang theo bất kỳ thông tin nào về việc mô tả chuyển đổi vị trí nhưng đảm bảo rằng tất cả các thông tin của cuộc gọi đều được hỗ trợ. - Dàn xếp đặc tính : cho phép một nhóm người sử dụng tham gia trongmột cuộc gọi đồng ý về tính năng được hỗ trợ - công nhận rằng không phải tất cả các thành viên đều có thể hỗ trợ cùng một mức như nhau.
Chẳng hạn như video có thể có được hỗ trợ cho tất cả các thành viên hay không. - Quản lý thành viên tham gia cuộc gọi : Trong khi tham gia một cuộc gọi, thành viên tham dự có thể kết nối với một thành viên khác vào trong cuộc gọi hoặc cũng có thể huỷ bỏ kết nối với một người sử dụng khác. Hơn thế nữa, người sử dụng còn có thể chuyển hay giữ cuộc gọi. - Thay đổi đặc tính cuộc gọi : người sử dụng có thể thay đổi các đặc tính của cuộc gọi trong khi đang thực hiện chúng.
Chẳng hạn, một cuộc gọi chỉ được thiết lập với đặc tính chỉ là thoại, thế nhưng trong khi đang thực hiện có thể sử dụng chức năng video. Thành phần thứ ba tham dự trong cuộc gọi có thể yêu cầu sử dụng các tính năng khác để đảm bảo cho việc tham dự trong cuộc gọi. Đào Ngọc Nam Trang 23/95 LuËn v¨n tèt nghiÖp Cao häc Client Network SIP Server TCP Connection Set-up SDP SIP SIP Request/Response UDP TCP IP TCP Connection close Link Layer ( a) (b) Hình 2.1 (a) Mô hình khách/chủ sử dụng TCP, (b) Chồng giao thức sử dụng UDP/TCP SIP được chia ra làm hai thành phần: Đại lý người dùng SIP (SIP user agent) và Server mạng SIP.