Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn chuyên ngành Ngôn ngữ học ứng dụng (Mã số: 62.05) của nghiên cứu sinh Vũ Văn Lăng, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Diệp Quang Ban tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2013), mang tiêu đề "Một số tác phẩm của Nam Cao dưới ánh sáng của Phân tích diễn ngôn và Dụng học". Công trình đại diện cho bước chuyển dịch mô thức (paradigm shift) từ thi pháp học hình thức và phê bình văn học trực cảm truyền thống sang trường phái phê bình ngôn ngữ học (Linguistic Criticism) mang tính liên ngành thực nghiệm. Bối cảnh khoa học của luận án xuất phát từ sự vận động bước ngoặt của ngôn ngữ học thế giới cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI: chuyển trục khảo sát từ việc xác lập cấu trúc nội tại "ngôn ngữ là cái gì" (what language is) sang giải mã chức năng dụng hành "ngôn ngữ là để làm gì" (why language is / how language means).
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án khu biệt là: phần lớn các công trình phê bình văn học trước đây chỉ tiếp cận tác phẩm như một chỉnh thể đóng kín (total), diễn giải nội dung thông qua trực giác cảm thụ chủ quan mà thiếu vắng các cứ liệu ngôn ngữ học khả chứng; ngược lại, các nghiên cứu ngôn ngữ học thuần túy về liên kết câu hay dụng học thường dừng lại ở ngữ liệu câu rời rạc mà chưa thẩm thấu vào cấu trúc chỉnh thể của diễn ngôn nghệ thuật bậc cao. Luận án đặt ra hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết cụ thể:
- Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Các công cụ của Phân tích diễn ngôn (PTDN) và Dụng học (DH) có khả năng giải mã quy luật tổ chức văn bản nghệ thuật ở cấp độ siêu câu (macro-level) và vi mô (micro-level) như thế nào?
- Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Mạng lưới nhân vật, trật tự thời gian tự sự và cấu trúc lập luận trong văn xuôi Nam Cao biểu hiện bản chất dụng học và ý thức hệ thẩm mỹ gì?
- Giả thuyết nghiên cứu (H1): Cấu trúc bố cục và cách tổ chức ngôn từ của Nam Cao không vận hành theo trình tự thời gian vật lý tuyến tính đơn thuần mà là một chiến lược diễn ngôn có chủ đích (discursive strategy), nhằm kiến tạo mô hình ký hiệu học xã hội (Social Semiotics) phản ánh sâu sắc bản chất hiện thực phân cực giai cấp và sự bế tắc của trí thức trước Cách mạng Tháng Tám 1945.
Khung lý thuyết của luận án tích hợp chặt chẽ: Lý thuyết Hành động nói (Speech Acts) của J.L. Austin (1962) và J.R. Searle (1969), Nguyên lý cộng tác và Hàm ý hội thoại (Conversational Implicature) của H.P. Grice (1975), Lý thuyết Cấu trúc diễn ngôn và Ngôn vực (Register) của M.A.K. Halliday và Zellig Harris (1952/1979), cùng Lý thuyết Chức năng tự sự của Vladimir Propp. Phạm vi khảo sát (scope) tập trung vào hai cứ liệu đỉnh cao khác biệt về thể loại của Nam Cao: truyện ngắn Chí Phèo (viết tháng 02/1941, dung lượng 32 trang, tr. 69–101) đại diện cho kịch tính hành động nông thôn bần cùng hóa, và tiểu thuyết Sống mòn (hoàn thành ngày 01/10/1944, dung lượng 212 trang, tr. 132–344) đại diện cho dòng tự sự tâm lý trí thức tiểu tư sản đô thị hóa.
Literature Review và Positioning
Luận án tiến hành tổng quan hệ thống hóa hai nhánh nghiên cứu học thuật lớn: lý thuyết và ứng dụng, cả ở bình diện quốc tế lẫn trong nước. Về mặt lý thuyết, PTDN hình thành từ nền tảng ngôn ngữ học cấu trúc của Zellig Harris (1952), ban đầu thử nghiệm mở rộng các mô hình "ngữ pháp văn bản" hay "cú pháp văn bản" nhưng gặp bế tắc suốt gần ba thập kỷ do chỉ áp dụng cơ học các thuật ngữ bậc câu lên văn bản. Bước ngoặt xuất hiện từ năm 1979 khi giới ngôn ngữ học thừa nhận diễn ngôn là một đơn vị ngữ nghĩa và dụng học thực tế chứ không thuần túy là cấu trúc hình thức. Song song đó, Dụng học phát triển từ triết học phân tích ngôn ngữ Anh-Mỹ với J.L. Austin và H.P. Grice, kết hợp cùng nhánh trường phái Thụy Sĩ - Pháp (đại diện bởi nhóm Geneva) với khái niệm "tham thoại" (intervention) chú trọng ngữ nghĩa, đối lập với khái niệm "lượt lời" (turn) dựa trên sự chuyển giao vật lý giữa người nói 1 (SP1) và người nói 2 (SP2) của trường phái phân tích hội thoại Anh-Mỹ (Sacks, Schegloff, Jefferson, 1974).
Tại Việt Nam, các công trình đặt nền móng lý thuyết dụng học tiêu biểu gồm Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (1993), Đỗ Hữu Châu (2000, 2001), và Diệp Quang Ban (1999, 2004, 2008) với hệ thống hóa lý thuyết diễn ngôn và liên kết văn bản. Về mảng ứng dụng, tác giả tổng thuật hàng loạt luận án tiến sĩ đương thời như: Phan Thị Ai (2011) về mạch lạc văn bản, Trần Thị Vân Anh (2008) về mạch lạc trong Truyện Kiều, Trần Xuân Điệp (2002) về định kiến giới tính đối chiếu Anh-Việt, Nguyễn Thị Hường (2010) về diễn ngôn hành chính công vụ, Lương Đình Khánh (2007) và Bùi Văn Năm (2010) về phương thức liên kết nối, Nguyễn Thị Việt Thanh (1997) và Nguyễn Phú Thọ (2008) về liên kết từ vựng, Phạm Văn Tình (2001) về phép tỉnh lược.
Điểm định vị học thuật (academic positioning) của luận án là bước bứt phá khỏi các công trình trước: trong khi các nghiên cứu tiền nhiệm chủ yếu khảo sát các phương thức liên kết ngữ pháp tĩnh tại hoặc phân tích văn bản chức năng (hành chính, đàm phán thương mại của Nguyễn Xuân Thơm 2001), luận án này tiên phong áp dụng tích hợp đồng bộ PTDN và Dụng học vào chất liệu văn xuôi nghệ thuật phức hợp. So sánh với các nghiên cứu quốc tế như công trình của Roger Fowler (1981) về Linguistic Criticism và Norman Fairclough (1989, 1995) về Critical Discourse Analysis (CDA), luận án vận dụng phương pháp suy diễn ngôn ngữ học (discursive deduction) để bóc tách thế giới quan tác giả mà vẫn duy trì tính cẩn trọng khoa học, không gán ghép ý thức hệ cực đoan lên văn bản khi chưa đủ cứ liệu xác thực.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và kiểm chứng các lý thuyết ngôn ngữ học kinh điển trong không gian văn học tiếng Việt:
- Mở rộng lý thuyết Hội thoại và Lập luận: Chứng minh rằng sự vi phạm các phương châm hội thoại Grice (như phương châm Quan hệ hay Cách thức) trong văn bản nghệ thuật không phải là lỗi giao tiếp ngẫu nhiên (communication error) mà là chiến lược cố ý (deliberate non-observance) nhằm tạo ra hàm ý hội thoại và định hình xung đột kịch tính.
- Xác lập mô hình trật tự thời gian tự sự: Đối chiếu với lý thuyết tự sự học cấu trúc của Gérard Genette (1972), luận án làm rõ sự phân tách triệt để giữa "tuyến thời gian sự kiện thực tế" (story time) và "tuyến thời gian truyện kể" (discourse time), chứng minh cách thức đảo lộn trật tự thời gian (anachrony: hồi quy anaphora và dự báo cataphora) nhằm phục vụ mục tiêu dụng học.
- Phát triển khái niệm Ký hiệu học xã hội (Social Semiotics): Cụ thể hóa lý thuyết của Halliday bằng cách nhận diện các cấu trúc từ ngữ phản ánh thiết chế xã hội phong kiến - thực dân mục rỗng (tệ mua quan bán tước, hối lộ, mê tín dị đoan, thương mại hóa giáo dục).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án kết hợp đa tầng bậc (multi-level analytical framework):
- Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khảo sát cấu trúc mạng lưới nhân vật (character network), phân định thứ bậc tầm quan trọng (prominence hierarchy), và mô hình tổ chức các tuyến nhân vật trực tiếp/gián tiếp.
- Cấp độ tương tác hội thoại (Meso-level): Ứng dụng kỹ thuật phân tích cấu trúc lượt lời (turn-taking), phân tích chuỗi lập luận đối kháng giữa các cặp nhân vật điển hình.
- Cấp độ vi mô (Micro-level): Bóc tách ngữ nghĩa từ vựng, trật tự cú pháp trong chuỗi liệt kê, các tiểu từ tình thái và phương thức liên kết hồi chiếu/khứ chiếu mang chức năng giải thích nghĩa.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án vận hành theo lập trường triết học hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp diễn giải luận (Interpretivism), xác lập nguyên tắc nghiên cứu: mọi kết luận về tư tưởng, tâm lý nhân vật hay thái độ tác giả đều phải được suy diễn có căn cứ xác thực (discursively substantiated) từ cứ liệu ngôn từ thực chứng trong ngữ cảnh tình huống (context of situation).
Thiết kế nghiên cứu thực hiện so sánh đa thể loại đối sánh (cross-genre comparative design):
- Thể loại truyện ngắn (Chí Phèo): Phân tích mô hình cấu trúc cô đọng, hành động kịch tính, quan hệ nhân vật tập trung trong không gian làng xã khép kín.
- Thể loại tiểu thuyết (Sống mòn): Phân tích mô hình tự sự đa tuyến, diễn biến tâm lý phức hợp trải dài trên không gian đa cực (làng quê - ngoại thành Hà Nội - trường học tư thục).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình phân tích dữ liệu tuân thủ các bước nghiêm ngặt:
- Phân đoạn ngữ liệu (Data Segmentation): Tách lập các trích đoạn đối thoại, độc thoại nội tâm và lời kể trần thuật theo bảng mã hóa lượt lời (SP1, SP2).
- Tam giác đạc lý thuyết (Theoretical Triangulation): Kết hợp đồng thời góc nhìn Ngữ pháp chức năng, Dụng học tương tác và Tự sự học nhằm loại trừ tính chủ quan của người phân tích.
- Mã hóa cứ liệu (Coding & Mapping): Thiết lập sơ đồ mạng lưới nhân vật (Hình 2.1), bảng đối chiếu các khoảng thời gian cuộc đời nhân vật Thứ (Hình 3.1) và bảng tính tổng thời gian truyện kể.
Data và phân tích
Ngữ liệu được trích xuất nguyên bản từ văn bản tác phẩm Nam Cao trong Tuyển tập do NXB Văn học ấn hành (2004):
- Ngữ liệu Chí Phèo: Phân tích cấu trúc 7 ngày đêm cuối cùng trong cuộc đời Chí Phèo; phân lập 2 nhóm nhân vật tương ứng với 2 giai đoạn quyền lực của Bá Kiến (thời kỳ làm Lý trưởng và thời kỳ làm Bá hộ).
- Ngữ liệu Sống mòn: Khảo sát toàn diện 5 lớp xã hội đan cài (lớp trí thức giáo viên nghèo Thứ - Đích - Oanh - San; lớp học sinh nông thôn/thành thị; lớp dân quê ngoại thành; lớp thị dân cho thuê trọ; lớp gia đình nông thôn ở quê). Khảo sát cấu trúc diễn ngôn tranh biện về hai chủ đề cốt lõi: triết lý giáo dục ("việc học") và đạo đức giới tính ("quan hệ nam nữ").
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
[!NOTE] Định nghĩa cốt lõi của Diệp Quang Ban được tác giả luận án vận dụng: "Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếp cận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/văn bản) từ tính đa dạng hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng..." (Diệp Quang Ban, dẫn theo Vũ Văn Lăng, tr. 17).
Luận án mang lại 5 phát hiện mang tính đột phá về cấu trúc tác phẩm của Nam Cao:
- Bố cục khởi đầu phi tuyến tính và thủ pháp dự báo (Narrative Prolepsis): Cả hai tác phẩm không mở đầu bằng biến cố xuất sinh của nhân vật mà khởi đầu bằng các lát cắt ngôn ngữ dị thường. Chí Phèo mở đầu bằng tiếng chửi vu vơ lặp lại theo trật tự đối tượng thu hẹp dần (trời $\rightarrow$ đời $\rightarrow$ làng Vũ Đại $\rightarrow$ đứa đẻ ra Chí Phèo), vận hành như một chỉ dấu báo trước bế tắc giao tiếp hoàn toàn. Sống mòn mở đầu bằng một cảnh sinh hoạt vụn vặt về sự nghèo đói và kết thúc bằng bức tranh mòn mỏi vô vọng.
- Sự bất đối xứng trong cấu trúc lập luận giữa Chí Phèo và Bá Kiến: Phân tích các cuộc đối thoại đối đầu chứng minh Bá Kiến luôn áp dụng chiến lược chuyển bậc hội thoại, sử dụng các tiền giả định quyền lực và hành động làm dịu thể diện gián tiếp để thao túng; trong khi Chí Phèo ở hồi kết đã triệt để phá vỡ mọi quy ước lịch sự, thực hiện các hành động ngôn từ trực tiếp mang tính hủy diệt tối hậu ("Ai cho tao lương thiện?").
- Sự giải cấu trúc trật tự thời gian trong Sống mòn: Luận án chứng minh có sự chênh lệch lớn giữa tuyến thời gian cuộc đời thực tế của Thứ (khoảng vài năm dạy học tại trường tư của Đích) với trình tự sắp xếp thời gian trần thuật. Tác giả sử dụng dày đặc các liên kết hồi chiếu (anaphora) để đan dệt dòng suy tưởng tâm lý, tạo nên nhịp điệu tự sự luẩn quẩn, trì trệ tương ứng với trạng thái "sống mòn" của nhân vật.
- Quy luật sắp xếp trật tự từ ngữ trong chuỗi liệt kê: Phân tích cú pháp chỉ ra Nam Cao thường xuyên sử dụng các chuỗi liệt kê đi kèm tiểu từ tình thái có sắc thái mỉa mai, làm nổi bật sự tha hóa nhân phẩm và thói đạo đức giả của tầng lớp thống trị nông thôn.
- Dấu hiệu ký hiệu học xã hội phản ánh hiện thực: Văn bản Nam Cao chứa đựng các mã ký hiệu phản ánh sâu sắc thiết chế xã hội: "tệ mua quan bán chức" (qua sự thăng tiến của cụ Bá), "tệ hối lộ", "tệ ghen tuông", và quan niệm thực dụng biến việc học hành thành một thương vụ buôn bán thuần túy ("cho con đi học là làm một việc buôn bán").
[!IMPORTANT] Nhận định bước ngoặt về phương pháp luận của luận án: "Từ việc tìm hiểu 'ngôn ngữ là cái gì' ('what language is') trong nửa đầu thế kỷ XX... chuyển sang giải thích 'ngôn ngữ là để làm gì' ('why language is'), nhằm tìm biết ý định của người dùng ngôn ngữ và bằng cách dùng ngôn ngữ, để đạt được ý định đó." (Vũ Văn Lăng, tr. 2).
Bảng đối chiếu phát hiện ngôn ngữ học giữa hai tác phẩm
| Tiêu chí phân tích | Truyện ngắn Chí Phèo (1941) | Tiểu thuyết Sống mòn (1944) |
|---|---|---|
| Dung lượng & Quy mô corpus | 32 trang (tr. 69–101 Tuyển tập) | 212 trang (tr. 132–344 Tuyển tập) |
| Không gian nghệ thuật | Làng quê thuần nông cô lập (làng Vũ Đại) | Đa không gian: Ngoại ô Hà Nội - Trường tư - Làng quê |
| Cấu trúc tuyến thời gian | Tập trung cao độ: 7 ngày đêm cuối đời | Trải dài, phân mảnh, đan xen hồi ức và độc thoại nội tâm |
| Mô hình tương tác hội thoại | Đối kháng kịch tính, bộc phát, xung đột thể diện | Tranh luận triết lý, bàn luận đạo đức, độc thoại phân thân |
| Hiện tượng Dụng học nổi bật | Vi phạm phương châm lịch sự; hành vi đe dọa trực tiếp | Tiền giả định nhận thức; hàm ý hội thoại mỉa mai, bi quan |
| Chỉ dấu Ký hiệu học Xã hội | Cường hào áp bức, tha hóa lưu manh, hối lộ quan chức | Sự bế tắc trí thức, thương mại hóa giáo dục, mê tín dị đoan |
Implications đa chiều
- Về mặt lý thuyết: Chứng minh tính khả thi tuyệt đối của việc áp dụng PTDN và Dụng học vào nghiên cứu tác phẩm văn học tiếng Việt, xác lập một cầu nối liên ngành vững chắc giữa Ngôn ngữ học và Văn học.
- Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ thao tác chuẩn hóa (phân tích lượt lời, lập bản đồ thời gian tự sự, phân tích cấu trúc lập luận) có khả năng tái sử dụng để khảo sát các tác gia hiện thực phê phán khác như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng hay Nam Cao ở các giai đoạn sau 1945.
- Về mặt giảng dạy và thực tiễn: Cung cấp tài liệu tham khảo then chốt cho việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong nhà trường phổ thông và đại học, giúp người học tránh lối phân tích cảm tính mà biết dựa vào các cứ liệu ngôn từ xác thực.
Limitations và Future Research
Luận án thừa nhận một số giới hạn nghiên cứu xuất phát từ bối cảnh dung lượng học vị:
- Giới hạn về phạm vi khảo sát: Luận án mới chỉ giới hạn ở 2 tác phẩm tiêu biểu trước 1945, chưa bao quát toàn bộ di sản sáng tác của Nam Cao (bao gồm các truyện ngắn xuất sắc khác như Lão Hạc, Đời thừa, Giăng sáng hay mảng văn học sau Cách mạng Tháng Tám như Đôi mắt).
- Điểm dừng phân tích điểm nhìn: Tác giả chủ động dừng lại ở việc khám phá cách nhìn, thái độ cá nhân của nhà văn (authorial viewpoint) mà chưa nâng tầm khái quát hóa lên toàn bộ cấu trúc ý thức hệ xã hội (ideological superstructures) theo đường hướng PTDN phê bình triệt để (CDA), nhằm đảm bảo tính thận trọng khoa học đối với dữ liệu khảo sát hạn định.
Định hướng nghiên cứu tương lai:
- Ứng dụng ngôn ngữ học ngữ đoàn (Corpus Linguistics) để định lượng hóa tần suất xuất hiện của các vị từ tình thái, kiểu câu hỏi tu từ và chuỗi liên kết trên toàn bộ tác phẩm Nam Cao.
- Mở rộng phân tích so sánh liên tác giả (inter-author discourse analysis) giữa diễn ngôn hiện thực của Nam Cao với diễn ngôn phóng túng trào phúng của Vũ Trọng Phụng hoặc chất phóng sự hiện thực của Tam Lang.
Tác động và ảnh hưởng
Công trình của Vũ Văn Lăng đã tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến giới nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng và giảng dạy văn học tại Việt Nam:
- Tác động học thuật: Luận án trở thành một hình mẫu tiêu biểu trong việc vận dụng lý thuyết diễn ngôn của trường phái GS.TS. Diệp Quang Ban vào văn học; mở ra hàng loạt luận văn, luận án tiếp nối khai thác phương diện dụng học trong văn học hiện thực 1930–1945.
- Tái định hình phê bình văn học: Thúc đẩy giới phê bình văn học văn đại học chuyển đổi phương pháp tiếp cận, kết hợp phân tích thi pháp học với các chứng cứ ngôn ngữ học khách quan, khắc phục tình trạng phê bình suy diễn tùy tiện.
- Giá trị chuẩn hóa giáo dục: Đóng góp luận cứ khoa học chuẩn xác cho việc biên soạn giáo trình đại học về Phân tích diễn ngôn, Dụng học tiếng Việt và Phong cách học văn bản.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Ngôn ngữ học: Tiếp cận khung phân tích mẫu chuẩn mực về cách thức kết hợp lý thuyết Dụng học và Phân tích diễn ngôn trên ngữ liệu văn bản dài.
- Giảng viên và nhà nghiên cứu Văn học: Sở hữu phương pháp luận thực nghiệm để chứng minh các giá trị tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Nam Cao thông qua cấu trúc hiển ngôn và hàm ngôn.
- Giáo viên Ngữ văn bậc THPT: Nắm vững cấu trúc lập luận đối thoại Chí Phèo – Bá Kiến và thủ pháp nghệ thuật trần thuật trong Chí Phèo, Sống mòn để nâng cao chất lượng giảng dạy đọc hiểu văn bản theo chương trình giáo dục phổ thông mới.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đóng góp độc đáo nhất là việc tích hợp thành công lý thuyết Dụng học tương tác (Austin, Searle, Grice) với Lý thuyết Diễn ngôn bậc trên câu (Harris, Halliday, Diệp Quang Ban) để chứng minh rằng: phong cách hiện thực bậc thầy của Nam Cao được định hình chính xác từ các chiến lược tổ chức lượt lời, việc cố ý vi phạm các phương châm hội thoại và sự phá vỡ trật tự thời gian tuyến tính để tạo ra các hàm ý phê phán hiện thực sâu cay.
2. Phương pháp nghiên cứu có điểm gì cải tiến so với các nghiên cứu tiền nhiệm?
So với các nghiên cứu trước đây (như Phan Thị Ai 2011, Trần Thị Vân Anh 2008 chỉ tập trung vào liên kết mạch lạc thuần túy), luận án của Vũ Văn Lăng đã thiết lập quy trình phân tích đồng thời 3 bình diện: Ngữ cảnh tình huống (vật lý và văn hóa - xã hội) $\rightarrow$ Cấu trúc tương tác vi mô (lượt lời, lập luận, hành động nói) $\rightarrow$ Cấu trúc vĩ mô (mạng lưới nhân vật, trật tự thời gian tự sự).
3. Phát hiện bất ngờ nhất về mặt dữ liệu là gì?
Phát hiện bất ngờ nhất là trong cấu trúc tự sự của Sống mòn, tuyến thời gian tâm lý của nhân vật Thứ hoàn toàn chi phối và bẻ gãy cấu trúc thời gian biên niên sử. Nam Cao sử dụng một mật độ dày đặc các cấu trúc liên kết hồi chiếu (anaphoric reference) không phải để giải thích hành động mà để trì hoãn hành động, tạo ra một cảm giác trì trệ, mòn mỏi về mặt tâm lý học ngôn ngữ cho người tiếp nhận.
4. Luận án có cung cấp quy trình tái lặp nghiên cứu (replication protocol) không?
Có. Quy trình phân tích được chuẩn hóa rõ ràng thông qua: tiêu chí xác định lượt lời (SP1/SP2), tiêu chí phân loại 5 lớp nhân vật xã hội, hệ thống bảng biểu đối chiếu thời gian truyện kể với thời gian sự kiện, và bộ tiêu chí nhận diện ký hiệu học xã hội.
5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được vạch ra như thế nào?
Luận án gợi mở lộ trình mở rộng khung phân tích diễn ngôn sang toàn bộ các thể loại báo chí, tiểu luận, phóng sự của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930–1945, tiến tới xây dựng hệ thống từ điển ngữ dụng học cho văn học hiện thực phê phán Việt Nam.
Kết luận
[!TIP] Đánh giá tổng kết của Trần Đăng Suyền về vị thế Nam Cao được luận án khẳng định qua cứ liệu ngôn ngữ học: "Nam Cao đã đem đến những cách tân lớn lao đối với nền văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trước cách mạng, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy và hoàn thiện quá trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc... đánh dấu ý thức nghệ thuật của dòng văn học hiện thực phê phán (1930-1945) đi từ tự phát đến hoàn toàn tự giác." (Trần Đăng Suyền, dẫn theo Vũ Văn Lăng, tr. 28).
Luận án tiến sĩ của Vũ Văn Lăng đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật cốt lõi:
- Xác lập thành công mô hình phê bình ngôn ngữ học liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa Phân tích diễn ngôn và Dụng học tại Việt Nam.
- Giải mã khoa học cấu trúc tự sự và bản chất bế tắc của nhân vật trong Chí Phèo và Sống mòn bằng các cứ liệu ngôn ngữ học khả chứng.
- Chứng minh quy luật phân bổ mạng lưới nhân vật và cấu trúc lập luận bất đối xứng trong diễn ngôn truyện ngắn và tiểu thuyết của Nam Cao.
- Làm sáng tỏ giá trị ký hiệu học xã hội của các đơn vị từ ngữ phản ánh hiện thực phân cực và thiết chế xã hội mục ruỗng trước 1945.
- Đặt nền móng phương pháp luận vững chắc cho các nghiên cứu tiếp nối về ngôn ngữ học văn bản và thi pháp học ngôn ngữ tại Việt Nam.