CHƯƠNG 1 Từ xưa đến nay, trong hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán, bất kể NĐT nào cũng đều phải đối mặt với rủi ro, đặc biệt là rủi ro biến động giá CP. Rủi ro này gây ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả đầu tư của tất cả chủ thể đang giao dịch trên SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 13 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp TTCK. Để góp phần hạn chế rủi ro đã có rất nhiều lý thuyết tài chính hiện đại hỗ trợ NĐT mà điển hình là lý thuyết Markowitz về danh mục đầu tư tối ưu và mô hình định giá tài sản vốn. Đặc biệt, hệ số beta cũng đóng một vai trò quan trọng và ý nghĩa trong lượng hoá rủi ro biến động giá CP đối với các NĐT ngắn hạn.
Từ nền tảng lý thuyết đó thúc đẩy các NĐT nên tìm hiểu rõ rủi ro biến động giá CP trên TTCK Việt Nam và tác động của rủi ro này đến hoạt động đầu tư để có thể tìm được giải pháp, ứng dụng các lý thuyết trên nhằm hạn chế rủi ro cho danh mục đầu tư của mình và đạt tỷ suất sinh lợi cao nhất. SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 14 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp CHƯƠNG 2. RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU VÀ TÁC ĐỘNG CỦA RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 2.1 Rủi ro biến động giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam.1 Bức tranh toàn cảnh TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012. Ra đời từ năm 2000, TTCK nước ta là cột mốc quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế.
Tính đến nay TTCK Việt Nam đã gần 13 năm hình thành và phát triển, có những lúc thị trường tăng trưởng vượt bậc, cũng có những lúc hoạt động khá trầm lắng. Đáng chú ý là có những thời điểm ngân hàng còn nhiều khó khăn, TTCK nước ta hoạt động khá hiệu quả, xứng đáng là kênh huy động vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Bên cạnh những thành tựu đạt được, TTCK nước ta vẫn còn gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức.1 Những kết quả đạt được của TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012. Từ năm 2006 đến nay, TTCK nước ta bùng nổ và tăng trưởng khá mạnh mẽ.
Đặc biệt là vào năm 2007 khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO thì mức độ tăng trưởng rất nhanh. Điều này thể hiện qua các chỉ số vốn hoá của thị trường, số lượng các công ty niêm yết, số lượng các tài khoản giao dịch… • Về số lượng tài khoản của nhà đầu tư, số lượng tài khoản của các NĐT gia tăng rất nhanh. Theo thống kê của UBCK Nhà nước, giai đoạn đầu mới thành lập hoạt động kinh doanh chứng khoán vẫn còn rất xa lạ với khá nhiều NĐT khi chỉ có khoảng 2.908 tài khoản giao dịch được mở. Nhưng chỉ 5 năm tìm hiểu, vào năm 2005 nhận thấy kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực hấp dẫn, hàng hoạt NĐT đổ xô vào thị trường khiến số lượng tài khoản giao dịch tăng 10,7 lần so với năm 2000 đạt hơn 30.
Đặc biệt có thể nói năm 2007 là “thời kỳ hoàng kim” của TTCK Việt Nam khi số lượng người giao dịch trên cả hai sàn Hà Nội và TP.HCM đông như trẩy hội, sang đến năm 2008 tốc độ gia tăng số tài khoản giao SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 15 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp dịch là lớn nhất trong lịch sử lên gần 1.153,02% so với năm 2007 làm cho thị trường sôi nổi hẳn lên. Đó chính là mốc son đáng ghi nhớ trong giai đoạn phát triển của thị trường.1 Số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán của khách hàng giai đoạn 2000 – 2012. Năm Số tài khoản khách hàng Tốc độ gia tăng (%) 2000 2.vn) Thật vậy, TTCK nước ta ngày càng chứng tỏ là kênh đầu tư hấp dẫn với tỷ suất sinh lợi cao không chỉ đối với NĐT trong nước mà còn cả các NĐT nước ngoài. Số tài khoản giao dịch của khách hàng tăng vùn vụt và đến cuối năm 2012 đạt hơn 1,2 triệu tài khoản, trong đó NĐT nước ngoài chiếm trên 20%.
• Về số lượng công ty niêm yết, số lượng công ty niêm yết tăng rất mạnh. Theo thống kê năm 2000 chỉ có 5 công ty niêm yết trên thị trường, trong đó nổi bật là công ty điện lạnh REE và công ty vật liệu bưu chính viễn thông SACOM. Nhận thấy nhiều lợi ích của việc niêm yết trong huy động vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh, bên cạnh được hưởng khá nhiều ưu đãi từ Nhà nước nên những năm gần đây, số lượng công ty niêm yết tăng rất mạnh, trung bình mỗi năm có khoảng 100 công ty. Trong điều kiện huy động vốn tại các ngân hàng thương mại còn nhiều khó khăn thì huy động vốn trên thị trường chứng khoán là một một lựa chọn sáng suốt.
Vì vậy SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 16 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp ngay cả khi điều kiện nền kinh tế biến động như các năm 2011 – 2012 thị trường chứng khoán nước ta cũng đã đón nhận hơn 700 công ty niêm yết.1 ta thấy rằng giai đoạn 2009 – 2010 là giai đoạn tăng vượt bậc số lượng cả công ty niêm yết và CTCK trên thị trường. Mặc dù đầu năm 2009 TTCK nước ta chịu ảnh hưởng bởi cơn bão khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng từ giữa năm 2009 thị trường dần hồi phục bởi sự nỗ lực đưa ra những gói kích cầu của Chính Phủ giúp khơi thông dòng vốn cho doanh nghiệp, kéo thị trường tăng trở lại.1 Số lượng công ty niêm yết và công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2000 – 2012. 900 105 800 105 103 700 712 673 649 600 101 500 Số công ty 455 chứng khoán 400 Số công ty niêm yết 78 98 300 53 253 238 200 193 100 14 9 11 2613 41 5 5 8 20 22 0 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 (Nguồn: Uỷ ban chứng khoán Nhà nước). • Về số lượng công ty chứng khoán, khi thị trường chứng khoán Việt Nam hoạt động sôi nổi cũng chính là một mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của các CTCK.
Bên cạnh thực hiện hoạt động kinh doanh của mình, các CTCK còn đi kèm các nghiệp vụ môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư, bảo lãnh phát hành cho các NĐT SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 17 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp trên thị trường. Nếu như năm 2000 chỉ có 3 CTCK được thành lập thì năm 2005 đã có 14 công ty. Năm 2007 các CTCK mọc lên ồ ạt như nấm sau mưa để phục vụ nhu cầu của các NĐT cũng như hoà chung xu hướng thị trường. Tính đến năm 2012 thị trường đã có 105 CTCK.
Trong đó, nhiều CTCK là công ty con của các ngân hàng thương mại lớn, các tập đoàn kinh tế lớn. • Về mức độ vốn hoá, mức độ vốn hoá của thị trường chứng khoán nước ta giai đoạn 2000 - 2012 so với GDP cũng tăng rất nhanh khi nước ta trở thành thành viên chính thức của WTO. Năm 2012 mức vốn hoá toàn thị trường đạt khoảng 750.000 tỷ đồng, tăng gần 190.000 tỷ đồng tương đương 25,3% so với mức vốn hoá cuối năm 2011 và ở mức trên 28% GDP. • Điểm đáng chú ý là trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước năm 2012 phải chống chọi với nhiều khó khăn, việc TTCK Việt Nam vẫn thuộc nhóm 40 TTCK có mức tăng trưởng cao trên thế giới là một điểm sáng đáng ghi nhận.
Đó chính là chỉ số VN-Index đã tăng trên 17,7% đạt 413,73 điểm so với mức 351,55 điểm của cuối năm 2011. Tình hình khó khăn nhưng việc tăng trưởng của VN-Index chính là nhờ sự gia tăng mạnh mẽ của các cổ phiếu blue chip như VNM, STB, MSN…Bên cạnh đó, tính thanh khoản thị trường có sự cải thiện, đặc biệt sau khi kéo dài thời gian giao dịch và áp dụng lệnh thị trường. • Ngoài ra, một kết quả đáng mừng khác chính là Bộ Tài chính và UBCK Nhà nước đã tập trung chủ yếu hoàn thiện văn bản pháp lý, cơ chế chính sách và công tác tái cấu trúc TTCK, đồng thời xử lý vấn đề thanh khoản nhằm hỗ trợ TTCK vượt qua khó khăn, chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển dài hạn. Một khối lượng lớn văn bản Pháp luật đã được hoàn thiện và ban hành, trong đó có chiến lược phát triển TTCK đến năm 2020, đề án quản lý vốn đầu tư gián tiếp, đề án tái cấu trúc CTCK…Đặc biệt là công tác tái cấu trúc TTCK, hình thành 2 chỉ số mới là VN30 và HNX30, tạo thêm công cụ để NĐT đánh giá, lựa chọn CP.
Ngoài ra, chất lượng hàng hoá trên thị trường cũng từng bước được nâng cao. Theo nghị định 58/2012/NĐ-CP ngày 20/7/2012 của Chính phủ, tiêu chuẩn niêm yết về vốn tối thiểu là 30 tỷ đồng trên sàn HASTC và 120 tỷ đồng trên sàn HOSE, tiêu chuẩn về SVTH: Bồ Thị Bích Nhung Trang 18 GVHD: Tiến sĩ Nguyễn Thị Uyên Uyên Luận văn tốt nghiệp lãi có bổ sung yêu cầu không có lỗ luỹ kế và chỉ tiêu lãi vốn trên vốn chủ sở hữu là ROE phải tối thiểu 5%. Việc thành lập 7 đoàn thanh tra, 60 đoàn kiểm tra đối với các CTCK, công ty quản lý quỹ, công ty đại chúng, ngân hàng giám sát, công ty kiểm toán từng bước làm cho thị trường minh bạch hơn.2 Những khó khăn gặp của TTCK Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010. Bên cạnh những nổ lực từ cơ quan quản lý trong hoàn thiện khung pháp lý thì thời gian vừa qua TTCK Việt Nam cũng gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt trong năm 2012 do chịu tác động nặng nề từ diễn biến không mấy tích cực của kinh tế vĩ mô.
• Thứ nhất, về tổng huy động vốn, tổng huy động vốn trên TTCK từ cổ phần và cổ phần hoá năm 2012 có sự sụt giảm chỉ đạt 10.100 tỷ đồng giảm 42% so với năm 2011. Mặc dù huy động vốn toàn thị trường khoảng 152.600 tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm 2011. Nhưng mức độ tăng huy động vốn này tập trung chủ yếu vào trái phiếu Chính phủ là chính.