Tổng quan nghiên cứu

Sản xuất chè là ngành kinh tế mũi nhọn tại nhiều vùng trung du và miền núi phía Bắc, tuy nhiên việc lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật đang tạo ra những thách thức nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Theo các khảo sát dịch tễ học nghề nghiệp, có tới 78,4% người canh tác chè gặp biểu hiện hoa mắt, 77,9% bị chóng mặt và 73,1% bị đau đầu sau khi tiếp xúc với hóa chất. Tỷ lệ nông dân mắc các bệnh lý liên quan cũng ở mức đáng báo động với 86,9% mắc bệnh tai mũi họng, 84,8% mắc bệnh về mắt, 63,7% gặp vấn đề cơ xương khớp và 40,1% bị bệnh da liễu. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc 89,5% người lao động không mang trang bị phòng hộ đầy đủ, 75,5% để thuốc dính vào da trong khi pha chế, và nhiều hộ tự ý tăng nồng độ phun gấp 1,5 đến 3 lần so với khuyến cáo.

Trước thực trạng đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Y học dự phòng của tác giả Trần Thế Hoàng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Quang Mạnh tại Trường Đại học Y - Dược Thái Nguyên, đã thực hiện đề tài nghiên cứu hành vi dự phòng nhiễm độc hóa chất ở người làm chè. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá mức độ kiến thức, thái độ, hành vi dự phòng và xác định các yếu tố liên quan của người dân. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 02/2011 đến tháng 11/2011 tại xã La Bằng, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên – một địa bàn miền núi có 3.767 nhân khẩu, 328 ha diện tích trồng chè và 40% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp căn cứ khoa học chuẩn xác để các cơ quan y tế công cộng thiết lập giải pháp can thiệp nhằm giảm thiểu 50% nguy cơ ngộ độc nghề nghiệp và nâng cao chỉ số an toàn lao động nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng Thuyết hành vi sức khỏe và Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model - HBM) do Rosenstock, Hochbaum khởi xướng từ thập niên 1950 và được Becker hoàn thiện vào năm 1974. Mô hình HBM giải thích sự thay đổi hành vi thông qua bốn cấu phần nhận thức cốt lõi: nhận thức về sự nhạy cảm với nguy cơ bệnh tật, nhận thức về tính trầm trọng của hậu quả ngộ độc, nhận thức về lợi ích của hành vi phòng ngừa, và nhận thức về các rào cản khi thực hiện biện pháp an toàn. Bên cạnh đó, mô hình tích hợp các biến số nhân khẩu học xã hội và động lực hành động bắt nguồn từ công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.

Hệ thống lý thuyết phân loại ba nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến hành vi gồm: nhóm yếu tố tiền đề (kiến thức, thái độ, niềm tin và giá trị cá nhân), nhóm yếu tố củng cố (ảnh hưởng từ gia đình, đồng nghiệp, cán bộ y tế thôn bản và người có uy tín), cùng nhóm yếu tố điều kiện thuận lợi (nguồn lực kinh tế, khả năng tiếp cận trang thiết bị bảo hộ và các quy định pháp luật môi trường). Đề tài làm rõ 3 khái niệm trọng tâm: hành vi sức khỏe cá nhân, hóa chất bảo vệ thực vật dùng trong nông nghiệp, và phương tiện bảo vệ cá nhân thiết yếu bao gồm mũ nón, khẩu trang than hoạt tính, găng tay cao su, kính mắt và quần áo bảo hộ chuyên dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật thu thập định lượng và định tính trong khoảng thời gian từ tháng 02/2011 đến tháng 11/2011.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (hệ số Z = 1,96), sai số tuyệt đối ấn định e = 0,05, và tỷ lệ sử dụng găng tay ước tính p = 0,54 dựa trên y văn chuyên ngành. Cỡ mẫu tối thiểu tính toán là 382, cộng thêm 5% dự phòng sai số điều tra, xác định cỡ mẫu chính thức là 400 chủ hộ gia đình trực tiếp canh tác chè. Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu chọn chủ đích xã La Bằng, sau đó lập danh sách toàn bộ 810 hộ gia đình canh tác chè đủ tiêu chuẩn (có thâm niên từ 1 năm trở lên và trực tiếp phun, hái, sao hoặc làm cỏ chè) và tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách chọn k = 2.

Nguồn dữ liệu định lượng được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp 400 đối tượng bằng bộ câu hỏi cấu trúc gồm 5 phần, được chuẩn hóa và kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach Alpha đạt 0,74. Dữ liệu định tính được thu thập qua 3 cuộc thảo luận nhóm trọng tâm tại các xóm Lau Sau, La Bằng và Đồng Tiến. Dữ liệu được làm sạch ngay tại thực địa, nhập bằng phần mềm EpiData 3.0 và phân tích bằng các thuật toán thống kê mô tả cùng kiểm định Chi-square test (mức ý nghĩa p < 0,05) để xác định mối liên quan logic giữa các biến số độc lập và biến số hành vi.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát nhân khẩu học trên 400 đối tượng cho thấy độ tuổi trung bình của người canh tác chè là 41,92 ± 12,3 tuổi, trong đó nhóm tuổi lao động chính từ 30 đến 49 tuổi chiếm tỷ lệ áp đảo 52,8%. Cơ cấu giới tính cân bằng với 49,8% nam giới và 50,2% nữ giới. Về thành phần dân tộc, dân tộc Kinh chiếm 52,8%, dân tộc Nùng chiếm 37,8% và các dân tộc khác chiếm 9,4%. Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu ở mức trung bình thấp khi 50,2% mới học hết tiểu học, 29,5% học trung học cơ sở, 7,3% chỉ biết đọc biết viết và 1,0% mù chữ. Thời gian canh tác chè trung bình đạt 18,2 ± 9,9 năm, đặc biệt có tới 66,8% người dân đã canh tác thâm niên trên 10 năm.

Về mức độ kiến thức dự phòng, tỷ lệ người đạt mức kiến thức tốt chỉ chiếm 9,8% (39/400 người), mức khá chiếm 24,8%, trong khi mức trung bình chiếm tới 65,5% (262/400 người). Tỷ lệ hiểu biết tốt về ảnh hưởng độc hại chỉ đạt 9,4%, về đường lây nhiễm đạt 12,0% và về các biện pháp dự phòng đạt 16,2%. Kết quả định tính cho thấy 9/12 đối tượng thảo luận nhóm nhận biết được triệu chứng nhiễm độc cấp tính nhưng chỉ có 4/12 người kể tên đầy đủ các phương tiện bảo hộ cần thiết.

Về thực hành an toàn, mặc dù tỷ lệ sử dụng khẩu trang khi phun thuốc đạt mức cao 92,2%, tỷ lệ tuân thủ đầy đủ 5 trang bị bảo hộ cá nhân (mũ, kính, khẩu trang, găng tay, quần áo bảo hộ) chỉ dừng lại ở mức 6,5%. Đáng chú ý, tỷ lệ sử dụng kính mắt bảo hộ dao động rất thấp từ 4,0% đến 11,9%. Thói quen pha thuốc sai kỹ thuật diễn ra phổ biến với 29,6% người pha nồng độ đậm đặc hơn hướng dẫn và 82,3% tự ý phối trộn từ 2 đến 3 loại hóa chất trong một bình phun. Tỷ lệ vứt bỏ vỏ chai bao bì bừa bãi tại nương chè hoặc tái sử dụng không an toàn chiếm từ 21,8% đến 23,88%.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu phản ánh sự mâu thuẫn lớn giữa nhận thức và thực hành của người nông dân. Mặc dù đa số người dân bày tỏ thái độ lo lắng cho sức khỏe bản thân (97,4%) và thừa nhận sự cần thiết của đồ bảo hộ (98,7%), tỷ lệ thực hành an toàn thực tế lại rất thấp. Thực trạng này hoàn toàn tương đồng với các công bố của Bùi Thanh Tâm tại Hải Dương (tỷ lệ pha đặc 29,6%, dùng đúng bảo hộ 57,0%) và nghiên cứu của Dilshad Ahmed Khan tại Pakistan khi tỷ lệ người có kiến thức bảo hộ đạt chuẩn chỉ là 14,6%. Tại Trung Quốc, nghiên cứu của Hong Zhang và Yonglong Lu cũng chỉ ra 64,0% nông dân cất giữ hóa chất không an toàn và 79,4% vẫn ăn uống trong quá trình phun thuốc.

Nguyên nhân chính của tình trạng trên là do người dân canh tác chè chủ yếu dựa vào thói quen truyền khẩu, đánh đổi an toàn lấy sự tiện lợi trước mắt, và chịu áp lực kinh tế khiến họ ưu tiên bảo vệ cây chè hơn sức khỏe. Ngoài ra, rào cản chi phí trang bị bảo hộ chuyên dụng và thời tiết miền núi nóng ẩm gây khó chịu khi mặc đồ bảo hộ kín cũng làm giảm tính tuân thủ. Toàn bộ các tương quan này được thể hiện trực quan thông qua các bảng thống kê mô tả tần số học vấn, kinh nghiệm canh tác và bảng phân tích Chi-square thể hiện mối liên hệ có ý nghĩa giữa kiến thức, thái độ với hành vi dự phòng. Đồng thời, hệ thống biểu đồ thanh và biểu đồ cột phản ánh chi tiết khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ nhận thức lý thuyết và tỷ lệ thực hành bảo hộ cá nhân thực tế tại địa bàn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp. Trạm Y tế xã La Bằng phối hợp cùng Trung tâm Y tế huyện Đại Từ tổ chức định kỳ các lớp tập huấn kỹ thuật an toàn hóa chất theo mô hình trực quan tại 10 xóm. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ người canh tác chè đạt kiến thức tốt từ 9,8% lên trên 70% và giảm tỷ lệ pha thuốc sai nồng độ xuống dưới 10% trong vòng 12 tháng.

Thứ hai, chuẩn hóa hệ thống thu gom và tiêu hủy rác thải hóa chất nông nghiệp. Ủy ban nhân dân xã La Bằng cùng Hội Nông dân cơ sở tiến hành xây dựng 30 bể chứa bê tông đạt chuẩn môi trường phân bố đều tại các cánh đồng chè có diện tích 328 ha. Giải pháp này hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ vứt bao bì bừa bãi từ 21,8% xuống dưới 5% trước quý IV năm 2013.

Thứ ba, trợ giá và phân phối trang thiết bị bảo hộ lao động đạt chuẩn. Hợp tác xã sản xuất chè liên kết với Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Thái Nguyên cung ứng các gói phương tiện bảo hộ chuyên dụng (kính chắn giọt bắn, găng tay chống thấm, khẩu trang lọc độc) với mức trợ giá tối thiểu 50%. Chỉ tiêu hành động là nâng tỷ lệ nông dân sử dụng đầy đủ 5 phương tiện bảo vệ cá nhân từ 6,5% lên trên 60% trong giai đoạn 2012-2014.

Thứ tư, thiết lập chương trình giám sát y tế nghề nghiệp định kỳ. Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Thái Nguyên chủ trì tổ chức khám sức khỏe định kỳ 6 tháng một lần, kết hợp xét nghiệm hoạt độ men Cholinesterase trong máu nhằm tầm soát sớm nguy cơ nhiễm độc mạn tính cho 100% chủ hộ trực tiếp canh tác chè trên địa bàn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ y tế dự phòng và chuyên viên y tế công cộng: Luận văn cung cấp bộ công cụ khảo sát đã chuẩn hóa với hệ số tin cậy Cronbach Alpha đạt 0,74 và khung can thiệp hành vi dựa trên mô hình HBM, giúp cán bộ y tế dễ dàng nhân rộng mô hình giám sát tại các vùng chuyên canh nông nghiệp khác.

Nhóm nhà quản lý nông nghiệp và chính quyền địa phương: Các nhà hoạch định chính sách cấp huyện và tỉnh có thể sử dụng số liệu thực chứng từ 400 hộ dân tại xã La Bằng để xây dựng nghị quyết về an toàn vệ sinh lao động nông thôn, quy hoạch các điểm thu gom rác thải nguy hại và phân bổ ngân sách hỗ trợ trang thiết bị cho nông dân.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên y khoa: Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kỹ thuật kết hợp định lượng với định tính, phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống và quy trình xử lý số liệu dịch tễ học bằng phần mềm EpiData.

Nhóm ban quản trị hợp tác xã chè và doanh nghiệp chế biến nông sản: Tài liệu hỗ trợ các chủ doanh nghiệp xây dựng quy trình canh tác an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, đào tạo nông dân tuân thủ thời gian cách ly phun thuốc nhằm bảo vệ nguồn nhân lực và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu chè an toàn.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ người canh tác chè có kiến thức tốt về dự phòng nhiễm hóa chất tại địa bàn là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát trên 400 đối tượng, tỷ lệ người có kiến thức đạt mức tốt chỉ chiếm 9,8%, mức khá là 24,8% và mức trung bình chiếm tới 65,5%. Phần lớn nông dân chỉ nắm được các triệu chứng ngộ độc cấp tính thông thường nhưng thiếu hiểu biết toàn diện về độc tính tích lũy lâu dài và kỹ thuật an toàn.

Biện pháp bảo vệ cá nhân nào được nông dân áp dụng nhiều nhất và ít nhất khi làm việc? Biện pháp được thực hiện phổ biến nhất là sử dụng khẩu trang với tỷ lệ thường xuyên đạt 92,2%. Ngược lại, biện pháp ít được tuân thủ nhất là đeo kính mắt bảo hộ chuyên dụng (chỉ từ 4,0% đến 11,9%) và tỷ lệ mang đầy đủ đồng bộ 5 trang bị bảo hộ cá nhân chỉ đạt 6,5%.

Những sai sót kỹ thuật phổ biến nhất của người dân trong quá trình sử dụng hóa chất là gì? Người dân thường mắc hai sai sót nghiêm trọng: tự ý pha nồng độ đậm đặc hơn hướng dẫn trên nhãn (chiếm 29,6% số hộ) và phối trộn tùy tiện từ 2 đến 3 loại thuốc trừ sâu trong một bình xịt (chiếm 82,3%). Ngoài ra, có tới 21,8% người dân vẫn vứt vỏ chai thuốc bừa bãi ngay tại nương chè.

Mô hình lý thuyết nào được áp dụng để giải thích hành vi sức khỏe trong đề tài? Luận văn ứng dụng Mô hình niềm tin sức khỏe (Health Belief Model) do Becker hoàn thiện năm 1974. Mô hình phân tích mối tương quan giữa nhận thức về mối đe dọa bệnh tật, nhận thức về lợi ích - rào cản phòng ngừa, kết hợp với các yếu tố nhân khẩu học và tác động của truyền thông giáo dục sức khỏe.

Trình độ học vấn và kinh nghiệm canh tác ảnh hưởng như thế nào đến hành vi dự phòng? Nghiên cứu chỉ ra 50,2% đối tượng có trình độ tiểu học và 66,8% có trên 10 năm thâm niên làm chè. Thói quen canh tác lâu năm tạo ra tâm lý chủ quan, ỷ lại vào kinh nghiệm cá nhân, khiến người dân ít tiếp nhận các khuyến cáo khoa học mới nếu không có các chương trình can thiệp giáo dục trực quan.

Kết luận

  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện thực trạng dự phòng nhiễm độc hóa chất bảo vệ thực vật của 400 chủ hộ canh tác chè tại xã La Bằng năm 2011 với tỷ lệ kiến thức tốt chỉ đạt 9,8%.
  • Tỷ lệ tuân thủ đồng bộ 5 phương tiện bảo vệ cá nhân ở mức rất thấp (6,5%), trong khi tỷ lệ tùy tiện phối trộn nhiều loại hóa chất chiếm tới 82,3%.
  • Nghiên cứu chứng minh tính ứng dụng xuất sắc của Mô hình niềm tin sức khỏe (HBM) trong việc phân tích các yếu tố thúc đẩy và rào cản hành vi vệ sinh lao động nông nghiệp.
  • Mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn, thâm niên canh tác (bình quân 18,2 năm) với hành vi an toàn đã khẳng định vai trò cấp thiết của công tác truyền thông cơ sở.
  • Bộ công cụ điều tra chuẩn hóa với hệ số Cronbach Alpha 0,74 là đóng góp phương pháp luận quan trọng cho ngành y tế dự phòng và sức khỏe nghề nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh dịch tễ học thực chứng, vạch rõ khoảng cách giữa nhận thức và thực hành tại vùng chuyên canh chè trọng điểm. Giai đoạn 2012-2015 đòi hỏi các cấp chính quyền và ngành y tế triển khai đồng bộ các giải pháp can thiệp can thiệp truyền thông trực quan, trợ giá bảo hộ và xây dựng hạ tầng thu gom rác thải nguy hại. Hãy chủ động ứng dụng kết quả nghiên cứu này vào công tác quản trị an toàn lao động nông nghiệp để bảo vệ sức khỏe người trồng chè và thúc đẩy phát triển nông thôn bền vững.