Đặt vấn đề Chỉ tính riêng Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo thống kê của trung tâm thu mua hạt ca cao lên men Cargill năm 2012 có hơn 3.200 hecta trồng ca cao. Mỗi vụ thu hoạch ước tính sản lượng 70.400 tấn ca cao tươi, trung bình 11 kg trái tươi sẽ cho 1 kg hạt khô. Như vậy, mỗi vụ thu hoạch và chế biến có khoảng hơn 6.400 tấn vỏ trái ca cao thải ra môi trường. Nếu không xử lí nguồn phế phẩm này sẽ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng vì thành phần vỏ trái ca cao khá giàu dinh dưỡng và nước tự do tạo điều kiện thuận cho vi sinh vật phát triển mạnh.
Bên cạnh đó một số loài nấm bệnh bám trên vỏ ca cao, hoặc từ những trái ca cao thối rụng như Phytophthora, Fusarium. hay ấu trùng bọ xít muỗi có khả năng sẽ phát tán gây nhiễm cho vườn ca cao và các loại cây trồng khác [24]. Mặt khác đất canh tác hiện nay đang được khai thác triệt để, đa số là chưa đúng kỹ thuật nên đã làm suy thoái sức sản xuất của đất, làm sụt giảm hàm lượng chất hữu cơ trong đất, giảm độ phì, cấu trúc đất cũng bị sụt giảm theo. Thực tế sản xuất đã khẳng định vai trò thiết yếu của phân hữu cơ trong việc duy trì độ phì nhiêu của đất, ổn định năng suất cây trồng, góp phần vào sản xuất nông nghiệp bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay nguồn phân hữu cơ từ chất thải của gia súc ngày càng khan hiếm không đủ để đáp ứng cho canh tác nông nghiệp của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu nói riêng và cả nước nói chung. Trong khi đó, vỏ quả ca cao là một nguồn nguyên liệu hữu cơ tốt, có sẵn, có thể sản xuất thành phân hữu cơ để thay thế một phần hay toàn bộ phân chuồng. Tăng giá trị sử dụng của trái ca cao, giúp người nông dân giảm chi phí phân bón cho vườn ca cao và vườn cây trồng khác. Ngoài ra, nấm Trichoderma còn có khả năng ức chế sự phát triển của nấm Phytophthora, Fusarium đang là nỗi lo của những người trồng ca cao [24, 25, 26].
Gần đây ở một số địa phương đã xuất hiện một số cơ sở sản xuất phân bón hữu cơ dựa trên nguyên tắc phối trộn giữa than bùn với các phế thải của nông nghiệp và phân chuồng, thêm một tỷ lệ thấp phân hóa học đạm, lân, kali. Các quy trình ủ và phối trộn này phụ thuộc vào bản chất của hệ vi sinh vật có sẵn trong phân, rác và một phần do tác dụng của acid mùn: acid humic, fulvic… có sẵn trong than bùn. Tuy nhiên hầu hết các quy trình ủ trên đều sử dụng chế phẩm vi sinh vật thương mại, theo Sv Nguyễn Văn Tới – Lớp DH09H1 1 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHBRVT TS. Nguyễn Đăng Nghĩa - Viện Thổ Nhưỡng Nông Hóa Việt Nam và ThS.
Nguyễn Thu Hà Trưởng bộ môn Vi sinh vật - Trưởng phòng chủ nghiệm nông nghiệp số 12, các chủng VSV trong các sản phẩm thương mại rất khó hoạt hóa, khả năng thích ứng với môi trường kém. Dẫn đến thời gian ủ trộn kéo dài và chất lượng không ổn định. Mặt khác, vấn đề an toàn các sản phẩm nông nghiệp trong những thập kỷ tới đang được xếp là một trong những hạng mục ưu tiên hàng đầu, cần thiết phải đảm bảo an toàn về sử dụng phân bón. Vấn đề an toàn trong lĩnh vực này phải đảm bảo an toàn về số lượng, chủng loại và chất lượng phân bón.
Nông dân từ lâu đã biết sử dụng nguồn phân bón hữu cơ trong quá trình canh tác. Hơn nữa, mục tiêu của tỉnh là mở rộng phát triển diện tích trồng cây ca cao, vì vậy nhu cầu phân bón cho cây ca cao ngày một tăng. Cùng với diện tích trồng tăng, khối lượng vỏ ca cao sau thu hoạch ngày một tăng, do đó việc xử lý và tận dụng nguồn hữu cơ giàu dinh dưỡng này như thế nào cho hợp lý là một vấn đề cần được quan tâm. Mục tiêu của đề tài Phân lập, tuyển chọn được một số chủng nấm mốc từ môi trường tự nhiên có khả năng phân giải tốt cellulose trong vỏ ca cao.
Rút ngắn thời gian ủ. Xác định tỷ lệ phối trộn thích hợp để phân nhanh hoai mục. Kiểm soát và điều chỉnh các yếu tố trong quá trình ủ. Xây dựng quy trình đơn giản có thể chuyển giao cho nông dân nhưng vẫn đảm bảo chất lượng phân thành phẩm.
Kiểm tra, đánh giá chất lượng phân thành phẩm. Nội dung nghiên cứu - Phân tích một số chỉ tiêu của vỏ ca cao: độ ẩm, hàm lượng carbon, hàm lượng nitơ, hàm lượng cellulose, hàm lượng phospho. - Phân lập và tuyển chọn những chủng nấm mốc có khả năng sinh tổng hợp enzyme cellulase tốt từ mẫu đất ở Xà Bang, Châu Đức; Bông Trang, Xuyên Mộc và TP. - Xác định công thức phối trộn các thành phần cho đống ủ.
- So sánh tốc độ hoai mục và sự biến đổi của các yếu tố trong quá trình ủ ở 3 nghiệm thức A1, A2, A3: A1- Nghiệm thức 1: bổ sung chế phẩm nấm Trichoderma thương mại Sv Nguyễn Văn Tới – Lớp DH09H1 2 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHBRVT A2 - Nghiệm thức 2: bổ sung nấm mốc được phân lập và tuyển chọn tại phòng thí nghiệm A3 - Nghiệm thức 3: không bổ sung nấm mốc - Đánh giá một số chỉ tiêu chất lượng của phân thành phẩm. Sv Nguyễn Văn Tới – Lớp DH09H1 3 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHBRVT CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2. Giới thiệu cây ca cao 2. Nguồn gốc cây ca cao [11] Nguồn gốc của cây ca cao ở lưu vực sông Amazon, Nam Mỹ.
Từ đó cây ca cao phát tiển sang các nước khác ở Trung và Nam Mỹ với hai loài chính là Criollo và Forastero. Criollo có hạt dạng tròn, có hương vị nhẹ nhưng tương đối dễ nhiễm bệnh. Forastestero có dạng cây cao, khỏe, hạt to hơn Criollo nhưng hương vị nhạt hơn. Hạt Foratestero dạng dẹp, lá mầm bên trong màu tím, chứa nhiều loại chất béo hơn Criollo.
Do vậy, hầu hết các vùng trồng ca cao lớn trên thế giới hiện nay đều trồng dạng Foratestero. Thổ dân Nam Mĩ dùng ca cao làm đồ uống. Hạt ca cao được rang lên, nghiền nhỏ, trộn thêm bột ngô, vanilla và đôi khi cả ớt. Ngày nay, ở một số nước như Colombia, Philippin, dạng đồ uống đặc sệt như vậy còn tồn tại, mặc dù có thay đổi chút ít như thêm đường, vanilla hoặc tinh dầu quế.
Ở Nicaragua, hạt ca cao có lúc được dùng như một thứ tiền tệ trong trao đổi mua bán. Ca cao được sử dụng rộng rãi từ thế kỉ thứ 6 ở các bộ tộc Maya và đến thế kỉ thứ 16 lưu hành rộng rãi ở Trung Mỹ. Từ thế kỉ thứ 16, ca cao bắt đầu phát triển rộng ra các nước khác trên thế giới, trước hết là các nước Nam Mỹ và vùng biển Caribe như Venezuela, Haiti, Jamaica. Ca cao vượt Thái Bình Dương và được trồng ở Philippin vào đầu thế kỉ 17, sau đó tiếp tục mở rộng qua Ấn Độ và Scrilanca vài chục năm sau.
Cho đến thời gian này loại phụ Criollo vẫn chiếm diện tích chủ yếu. Brazil và Ecurador là những nước đầu tiên phát triển loại phụ Foratestero và đầu thế kỉ 19 ca cao bắt đầu được xuất khẩu với quy mô 2000-5000 tấn từ các nước Nam Mỹ. Cuối thế kỉ 19 ca cao mới được trồng tại các nước Tây Phi, trước hết là Ghana và Nigieria. Ngày nay, ca cao phát triển rất nhanh do có thị trường ở Châu Âu.
Năm 1900 Châu Phi chỉ chiếm 17 % tổng sản lượng ca cao thế giới nhưng đến năm 1960, tỷ lệ này đã lên đến 73 %. Từ năm 1985 trở lại đây, các nước Châu Á bắt đầu phát triển mạnh cây ca cao, trước hết là ở các nước Malaysia, Indonesia, Ấn Độ, SriLanka…. Vào đầu thế kỷ 20, người Pháp đã đưa cây ca cao vào miền nam Việt Nam, tuy nhiên do một số yếu tố cây ca cao thời điểm đó chưa thật sự phát triển. Khoảng năm 1994, một dự án về trồng cây ca cao với quy mô 10.000 ha được thực hiện, chủ yếu ở Sv Nguyễn Văn Tới – Lớp DH09H1 4 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHBRVT tỉnh Quảng Ngãi tuy nhiên vẫn thất bại không thể phát triển mạnh như cây cao su và cây cà phê.
Những năm gần đây, cây ca cao đã được trồng nhiều hơn và bắt đầu gia nhập thị trường thế giới. Từ năm 2005, Bộ NN&PTNT đã thành lập Ban điều phối ca cao Việt Nam (VCCC) nhằm hỗ trợ việc xây dựng các chính sách liên quan đến ngành sản xuất ca cao Việt Nam. Năm 2005, công ty TNHH Cargill Việt Nam, doanh nghiệp 100 % vốn của Mỹ ở Đồng Nai đã chi ra cả tỷ đồng để lập trạm thu mua ca cao ở Bến Tre, sau đó mở tiếp trạm thu mua ở Đaklak, những địa phương có diện tích trồng ca cao lớn hiện nay. Hệ thống tiêu chuẩn cho cây ca cao và sản phẩm ca cao cũng được xây dựng vào năm 2006.
Để thúc đẩy ngành sản xuất ca cao phát triển, 14/9/2007 Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định 2678/2007/QĐ-BNN-KH đề ra mục tiêu đến năm 2015 phải đạt 60.000 ha ca cao và đến năm 2020 diện tích trồng ca cao ở Việt Nam sẽ đạt 80. Năm 2002, tổ chức Success Alliance có dự án phát triển cây ca cao mà khởi đầu từ tỉnh Bến Tre, sau đó là các tỉnh Tiền Giang, Bình Phước, Bà Rịa Vũng Tàu, Đaklak và 01 bộ giống ca cao gồm 8 dòng thương mại đã được công nhận để nhân giống phục vụ sản xuất. Vào thời điểm hiện tại, tính riêng tại địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có đến hơn 3.200 ha trồng ca cao, dự án phát triển ca cao đang được đẩy mạnh phát triển. Trong tương lai tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũng như các tỉnh ĐBSCL, Đaklak sẽ trở thành khu vực có ngành sản xuất ca cao phát triển mạnh.
Cây ca cao 2. Đặc điểm của cây ca cao [11] Ca cao là loài thân gỗ nhỏ có thể cao đến 10-20 m nếu mọc tự nhiên trong rừng. Trong sản xuất người ta thường xén bớt để việc thu hoạch có thể dễ dàng hơn và độ Sv Nguyễn Văn Tới – Lớp DH09H1 5 Khoa Hóa học và Công nghệ thực phẩm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường ĐHBRVT cao của cây khi đã trưởng thành không quá 7,5 m, đường kính thân cây từ 10-15 cm.