chương I Công ước UNIDROIT về BTT quốc tế (UNIDROIT Convention on International Factoring) bổ sung thêm một chức năng nữa của BTT là tài trợ cho người bán, bao gồm việc cho vay lẫn việc ứng trước tiền thanh toán. Theo Quyết định số 1096/2004/QĐ-NHNN ban hành ngày 06/09/2004 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), BTT là một hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua bán các khoản phải thu phát sinh từ việc mua bán hàng hóa giữa bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận trong hợp đồng mua bán. Nói tóm lại, BTT được hiểu là sự chuyển nhượng công nợ của người mua hàng (người mang nợ) từ người bán hay cung ứng dịch vụ (chủ nợ cỗ) sang đơn vi BTT (chủ nợ mới). Về cơ bản, BTT là một hình thức tài trợ vốn ngắn hạn của đơn vị BTT, trong đó đơn vị BTT được đảm bảo bằng cách nắm giữ quyển được thu hồi khoản tiển thanh toán và các quyền lợi khác có liên quan từ người mua đang nợ tiền hàng, Đơn vị BTT có thể thay người mua trả trước toàn bộ hay một phần các khoản công nợ sau khi trích thu một khoản dịch vụ phí.
Đồng thời, đơn vị BTT còn đảm nhiệm việc thu hổi công nợ, phòng ngừa và hạn chế các rủi ro người mua không trả nợ hoặc mất khả năng trả nợ. Trong một số trường hợp, mọi rủi ro không thu được tiền hàng sẽ do đơn vị BTT gánh chịu. Trên thực tế, một số đơn vị BTT còn cung cấp một số dịch vụ khác như quản lý tài khoản phải thu của khách hàng, cung cấp các thông tin kinh tế, tiền tệ, tín dụng và thương mại nhằm tăng thu nhập và giữ quan hệ lâu dài với khách hàng. Lịch sử hình thành nghiệp vụ BTT BTT có một lịch sử hình thành và phát triển khá lâu đời và phong phú.
Bất cứ một nền văn minh nào có hoạt động thương mại đều áp dụng một hình thức nào đó của BTT. Nhiễu chuyên gia cho rằng BTT khởi nguồn từ thời Hammurabi cách đây 4. Cũng có nhà nghiên cứu cho rằng nguồn gốc của một trong những loại hình tín dụng thương mại lâu đời nhất này xuất phát từ thời đế chế La Mã (Rutberg 1994), trong đó đặc biệt nổi bật là việc lần đầu tiên xuất hiện các giao địch mua bán chiết khấu các lệnh phiếu. Vào thế kỷ 14, BTT được sử dụng rất phổ biến ở Anh.
Thời điểm đó, công nghiệp dệt may phát triển cực thịnh. Công việc của các đơn vị BTT lúc bấy giờ chủ yếu là làm đại lý bán hàng hưởng hoa hồng của các nhà máy dét. Cum ty “factor” có gốc từ chữ Latin “farcio” có nghĩa là “người làm việc cho người khác ”. Bản thân tên gọi của từ này cũng đã phần nào nói lên ý nghĩa lịch sử của BTT như là một địch vụ đại lý.
Chức năng ban đầu của các đơn vị BTT là giải quyết các khó khăn và thách thức trong thương mại do sự cách biệt về vị trí địa lý gây nên. Tuy nhiên, chức năng quan trọng nhất của các đơn vị này vẫn là lực lượng bán hàng cho các nhà máy đệt. Là một mắt xích trong chuỗi phân phối hàng hóa, các đơn vị BTT đảm nhận trách nhiệm của kênh marketing và phân phối gồm cung cấp thông tin về nhu cầu của khách hàng, chuẩn bị kho bãi,. để hàng được đưa từ nơi sản xuất, thông qua đơn vị BTT, đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Bên cạnh đó, các đơn vị BTT còn có chức năng tư vấn tài chính cho nhà sản xuất. Họ sẽ đưa ra lời khuyên cho nhà sản xuất là có nên bán chịu và bán chịu bao nhiêu cho những khách hàng tiểm năng. Họ cũng sẽ đứng ra bảo lãnh với nhà sản xuất về các khoản thanh toán, và hoàn toàn chịu trách nhiệm về mức độ tín nhiệm của người mua. Để tự bảo vệ mình, các đơn vị BTT lập ra một quỹ dự phòng bồi thường cho các trường hợp khiếu nại về chất lượng hàng hóa hay bất cứ tranh chấp nào phát sinh từ các khiếu nại đó.
Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, các đơn vi BTT con tai trd vốn cho các nhà máy đệt dựa trên trị giá lượng hàng bán được. Cùng với sự bùng nổ cách mạng công nghiệp, BTT càng xoáy sâu thêm vào việc cấp tín dụng. Thông qua việc giúp đỡ người bán xác định mức độ đáng tin cậy của người mua và thiết lập hạn mức tín dụng, đơn vị BT đã thực sự bảo lãnh thanh toán cho những người mua đủ điều kiện. Người ta gọi hành động trên là BTT miễn truy đòi, rất phổ biến trong thương mại hiện nay.
| Trước những năm 1930, BTT chủ yếu được sử dụng trong ngành công nghiệp đệt và may mặc, vì đây là những ngành được trực tiếp kế thừa từ nên kinh tế thực dân mà trong đó BTT được sử dụng rất phổ biến. Hiện nay, các đơn vị BTT tổn tại với nhiều hình thức và quy mô khác nhau. Nó có thể là một bộ phận của một định chế tài chính hay là một tổ chức do tư nhân sở hữu và điều hành. Số lượng các đơn vị BTT bùng nổ nhanh chóng khi lãi suất tăng cao trong thập niên 60 và 70 của thế kỹ trước, chủ yếu là do chịu tác động của việc tăng lãi suất và những thay đổi trong ngành ngân hàng.
Việc giao dịch với ngân hàng trở nên quá đắt đỏ và thiếu linh hoạt vì có quá nhiều quy định khiến các nhà kinh doanh nhỏ buộc phải tìm nguồn tài trợ khác để mở rộng sản xuất và phát triển. Vì ít ngân hàng có thiện chí giúp đỡ các DN nhỏ nên BTT nhanh chóng trở thành một lựa chọn phổ biến. BAN CHAT BTT Như đã khẳng định ngay từ những dòng đầu tiên của luận văn nay, BTT là một dịch vụ trọn gói, trong đó một đơn vị BTT sẽ thực hiện tối thiểu hai trong số các chức năng sau đây: 1. BTT là một hình thức tài trợ vốn cho DN Đơn vị BTT thực hiện việc tài trợ vốn cho một DN thông qua việc mua lại các khoản công nợ của DN đó.
Điều này có nghĩa là đơn vị BTT sẽ trả tiền ngay tức thì khi quyền sở hữu các hóa đơn được chuyển từ người bán sang cho họ. Đối với BTT không truy đòi thì đơn vị BTT không thể yêu cầu người bán hoàn lại những khoản tài trợ này trong trường hợp người mua không thanh toán. Bởi lẽ, khoắn tiền mà đơn vị BTT chuyển cho DN không phải là các khoản ứng trước đơn thuần, mà nó được xem là khoản tiễn mua đứt món công nợ đó. Thông qua hình thức này, các DN có thể giải phóng các khoản phải thu từ khách hàng và có điều kiện để sử dụng vốn có hiệu quả hơn.
Cũng có thể hiểu việc tài trợ ở đây theo hướng đơn vị BTT ứng trước một khoản tiền trong trường hợp DN bán hàng đang tạm thời thiếu hụt vốn lưu động dựa trên cơ sở tin tưởng DN này sẽ hoàn trả ngay khi nhận được tiền hàng từ người mua. BTT là một phương pháp giúp các DN phòng ngừa rủi ro trong tín dụng thương mại Một trong nhiều nguyên nhân gây nên sự phá sản của các DN là do họ bị chiếm dụng vốn khi các bạn hàng trì hoãn thanh toán các khoản công nợ. Do đó, việc quản lý rủi ro không được thanh toán trong tín dụng thương mại là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các DN. Các DN có thể hạn chế được rủi ro này khi bán các khoản công nợ của mình cho các công ty chuyên mua bán nợ —- ma 6 đây chính là các đơn vị BTT.
Với nghiệp vụ kinh doanh chuyên nghiệp của mình, các đơn vị này sẽ đứng ra lãnh trách nhiệm và chia sẻ rủi ro với người bán. Bù lại, họ sẽ được lợi nhuận từ việc mua được các khoản công nợ thấp hơn giá trị của chúng. Sở đĩ các đơn vị BTT có thể thực hiện công việc đầy rủi ro này là vì họ sẽ tiến hành đánh giá mức độ an toàn tín đụng của người mua dựa trên những thông tin họ sẵn có và những thông tin về hoạt động thanh toán đã được công bố. BTT còn giúp các DN bán hàng theo dõi sổ sách và thu hồi công nợ Là công ty tài chính đặc thù, các đơn vị BTT mang lại một giải pháp toàn diện cho việc quản lý tài khoản vãng lai cho DN bằng cách một mặt đơn giản hóa hoạt động kế toán của DN, mặt khác xác định các khoản thanh toán và đảm bảo thu hồi công nợ từ khách hàng.
Ngoài ra, với tính chuyên nghiệp của mình, các đơn vị BTT sẽ phân tích và nhận định một cách toàn diện, từ đó phát hiện ra những điều bất thường để có khuyến cáo kịp thời cho DN. Chức năng của đơn vị BTT là theo dõi các kỳ hạn thanh toán, kiểm tra các quy định thanh toán, nhắc nhở và cuối cùng là quản lý các khoản nợ khó đòi. Nhờ hệ thống kỹ thuật hiện đại, các đơn vị BTT sẽ thực hiện việc nhắc nhở các khoản nợ qua các thư nhắc nhở tự động, hoặc hệ thống nhắc nhở tự động qua điện thoại, nhờ thế mà đã rút ngắn dẫn những khoản nợ chậm trả và tạo dân thói quen cho người mua hàng thanh toán đúng hạn. SO SÁNH NGHIỆP VỤ BTT VỚI CÁC KỸ THUẬT CHO VAY TRUYEN THONG Với những khái niệm và kết luận ban đầu về bản chất của BTT như trên, chắc hẳn sẽ có nhiều ý kiến cho rằng, xét theo một góc độ nào đó thì BTT chỉ là sự tổng hợp mỗi thứ một ít các tính chất của hoạt động tài trợ dựa trên hóa đơn hay chiết khấu thương phiếu, tài trợ cho người bán, tài trợ thương mại.
Tuy nhiên, thực sự giữa các hình thức tài trợ trên luôn tổn tại những điểm khác biệt do các đặc điểm riêng có của chúng. Dưới đây xin được bàn về sự khác biệt giữa BTT và một số hình thức tín dụng khác mà các tổ chức tín dụng ở Việt Nam đang áp dụng để có thể thấy được những đặc điểm không trùng lắp của nghiệp vu BTT. p> > b» Nhiéu người cho rằng BTT chỉ là một tên gọi khác của nghiệp vụ chiết khấu hóa đơn, nên trước tiên chúng ta sẽ xem xét vấn đề này. BTT và chiết khấu hóa đơn truyền thống Về cơ bản hai loại hình tín dụng này đều là công cụ tài trợ vốn cho các DN, theo đó, đơn vị BTT hoặc ngân hàng chiết khấu sẽ mua lại khoản công nợ thương mại của DN và thanh toán ngay một khoản ứng trước bằng tiền mặt.