MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN. Giới thiệu vật liệu oxit kẽm (ZnO).
Cấu trúc của vật liệu ZnO. Tính chất của vật liệu ZnO. Ứng dụng của vật liệu ZnO. Giới thiệu vật liệu BiVO4.
Đặc điểm cấu tạo và đặc tính của BiVO4. Các phương pháp tổng hợp BiVO4. Phương pháp phản ứng pha rắn 1. Phương pháp sol-gel 1.
Phương pháp thủy nhiệt 1. Ứng dụng của BiVO4. Cơ chế quang xúc tác của vật liệu BiVO4. Hiệu ứng quang điện hóa tách nước.
Cơ chế của phản ứng tách nước. Hiệu suất của PEC. Yêu cầu của vật liệu làm điện cực quang. 26 CHƢƠNG 2: THỰC NGHIỆM CHẾ TẠO MẪU.
Quy trình chế tạo mẫu 2. Các bước tiến hành. Một số phương pháp khảo sát mẫu. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD).
Làm sạch đế ITO 2. Quy trình chế tạo điện cực ZnO cấu trúc sợi nano bằng phương pháp phun điện. Quy trình chế tạo quang điện cực ZnO cấu trúc phân nhánh bằng phương pháp thủy nhiệt 2. Quy trình chế tạo điện cực ZnO/BiVO4 cấu trúc phân nhánh.
Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopy, SEM). Thuộc tính hấp thụ quang (UV-Vis DRS). Phương pháp đo phổ tổng trở điện hóa (EIS). 34 CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.
Hình thái cấu trúc vi mô bằng ảnh SEM:. Kết quả phân tích thành phần nguyên tố bằng phổ EDS. Kết quả phân tích cấu trúc bằng phổ XRD. Kết quả đo phổ phản xạ khuếch tán tử ngoại khả kiến UV-vis-DRS.
Thuộc tính quang điện hóa tách nước. 43 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 53 DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT UV-Vis Tử ngoại và khả kiến (Ultraviolet – Visible) ITO Kính phủ lớp dẫn điện trong suốt ITO (Indium Tin Oxide) XRD Nhiễu xạ tia X (X- Ray Diffraction) SEM Kính hiển vi điện tử quét (Scanning Electron Microscopy) PEC Tế bào quang điện hóa (Photo Electrochemical Cell) EDS Phổ nhiễu xạ điện tử (energy dispersive spectroscopy) Eg Band gap energy (Năng lượng vùng cấm) IPCE Hiệu suất chuyển đổi dòng photon NRS Điều chế thanh nano ZnO NR Các thanh nano ZnO SILAR Phương pháp sử dụng tổng thể dị hoá STH Hiệu suất chuyển đổi ánh sáng thành Hydro ABPE Hiệu suất chuyển đổi ánh sáng thành dòng điện dưới tác dụng của thế mạch ngoài EIS Phương pháp đo phổ tổng trở điện hoá PEC Quá trình tách nước điện hoá BiVO4 Bismuth vanadete DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 1.
Các thông số vật lý của ZnO dạng khối [16]. Bảng tính chất vật lý và thông số cấu trúc của dạng đơn tà BiVO4 [17]. Thành phần phần trăm các nguyên tố tính toán của mẫu vật liệu ZnO/BiVO4 từ phổ EDS. 40 DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1.Cấu trúc kiểu lập phương của tinh thể ZnO.
Cấu trúc tinh thể của BiVO4 ở dạng monoclinic scheelite (a) và cấu trúc đa diện của BiVO4. Cơ chế xúc tác quang của vật liệu BiVO4. Cơ chế quang xúc tác của vật liệu g-C3N4/BiVO4. Cấu trúc của hệ quang điện hóa tách nước ba điện cực [19].
Sơ đồ tách nước PEC sử dụng chất bán dẫn loại n, loại p và kết hợp n và p. Ảnh SEM cấu trúc ZnO phân nhánh với các độ phóng đại khác nhau. Ảnh SEM cấu trúc ZnO/BiVO4 với các độ phóng đại khác nhau: (a, b) tương ứng 1 vòng và (c, d) tương ứng 3 vòng quay phủ. Phổ EDS của mẫu ZnO/BiVO4 chưa ủ nhiệt.
Giản đồ XRD của mẫu ZnO và ZnO/BiVO4. Phổ phản xạ khuếch tán tử ngoại khả kiến UV-vis-DRS. Thuộc tính PEC của các cấu trúc: (a) Mật độ dòng quang và (b) Hiệu suất chuyển đổi quang tương ứng. (a, b) Phổ tổng trở điện hóa (EIS); (c, d) Phổ Mott-schottky của các điện cực ZnO và ZnO/BiVO4 3 vòng quay phủ.
Độ hồi đáp và độ ổn định làm việc điện cực ZnO/BiVO4 theo thời gian được đo tại thế 0.4V với 5 vòng chóp tắt của ánh sáng (a) và chiếu sáng liên tục trong thời gian 3200 giấy (b). Lí do chọn đề tài Công nghệ tách nước quang điện hóa dựa trên chất bán dẫn để tạo ra khí hydrogen đã được coi là một trong những phương pháp hứa hẹn nhất để giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới và các vấn đề môi trường. Kể từ khi quá trình tách nước quang điện hóa (PEC) trên điện cực quang TiO2 lần đầu tiên được khám phá bởi Fujishima và Honda vào năm 1972 [1], người ta đã chú ý rất nhiều đến việc phát triển các vật liệu bán dẫn oxit kim loại cho ứng dụng làm điện cực quang cho công nghệ tách nước PEC. So với điện cực TiO2, thì ZnO sở hữu hai ưu điểm quan trọng so với TiO2: Thứ nhất, nó có độ linh động điện tử cao hơn và tốc độ tái hợp điện tích thấp hơn và thứ hai là các mô hình cấu trúc nano khác nhau, chẳng hạn như hạt nano, dây nano, cây nano và tấm nano, có thể được tổng hợp dễ dàng [2, 3].
Trong số rất nhiều cấu trúc khác nhau, cấu trúc phân cấp ba chiều (3D) đã thu hút được sự quan tâm đáng kể nhờ có diện tích bề mặt cực kỳ lớn, khả năng vận chuyển điện tích nhanh, tăng cường hiệu quả bẫy và tán xạ ánh sáng cũng như khả năng tách cặp điện tử - lỗ trống [4]. Tuy nhiên, ai cũng biết rằng ZnO là chất bán dẫn có độ rộng vùng cấm lớn (3,2 eV), chỉ có thể bị kích thích bởi ánh sáng cực tím [5-8]. Do đó, chỉ một phần rất nhỏ bức xạ mặt trời (3–5%) có bước sóng ngắn hơn khoảng 400 nm có thể được sử dụng để thúc đẩy quá trình phân tách nước [9]. Để mở rộng vùng phản ứng quang phổ sang vùng ánh 2 sáng khả kiến, một số phương pháp đã được theo đuổi, ví dụ, pha tạp nguyên tố kim loại hoặc nguyên tử phi kim, kết hợp chất bán dẫn với kim loại plasmon và chất bán dẫn có khe năng lượng hẹp.
Trong số các biện pháp đã nói ở trên, sử dụng vật liệu ZnO cấu trúc 3D kết hợp với bán dẫn có khe năng lượng hẹp được chứng minh là một trong những phương pháp hiệu quả và rẻ tiền nhất. Gần đây, bismuth vanadate (BiVO4) ngày càng thu hút được sự quan tâm vì tính ổn định khá tốt, khả năng hấp thụ quang trong vùng ánh sáng khả kiến và không độc hại. Nó chủ yếu xuất hiện ở ba dạng đa hình: (pucherit) trực thoi, (clinobisvanit) đơn nghiêng và (dreyerit) tứ phương [10]. Trong đó BiVO4 đơn nghiêng là một chất bán dẫn loại n với độ rộng vùng cấm hẹp là 2,4 eV, xác định hiệu suất chuyển đổi năng lượng mặt trời thành hydro tối đa theo lý thuyết của nó là 9,1% [11].
Mặc dù BiVO4 có nhiều tính năng đặc biệt nhưng vẫn tồn tại một số yếu tố hạn chế, chủ yếu bao gồm khả năng tách electron–lỗ trống kém và các đặc tính vận chuyển điện tích không hiệu quả. Do đó, có thể là một ý tưởng hay khi sử dụng các ZnO 3D và BiVO4 cùng nhau để chế tạo các điện cực quang tiếp xúc dị thể cho tách nước PEC. Cụ thể, ZnO 3D sẽ được sử dụng làm kênh truyền điện tử, trong khi BiVO4 sẽ là chất hấp thụ ánh sáng mạnh. Hai vật liệu được bổ trợ lẫn nhau giúp cải thiện hiệu suất tách nước PEC.
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Chế tạo và nghiên cứu thuộc tính 3 quang điện hóa tách nƣớc của vật liệu ZnO/BiVO4” để nghiên cứu. Tổng quan tình hình nghiên cứu Điều chế thanh nano ZnO (NRs) Các thanh nano ZnO được chế tạo trực tiếp trên đế thủy tinh ITO và các chi tiết của quy trình tổng hợp dựa trên phương pháp thủy nhiệt đã được báo cáo trước đây của Liu. Toàn bộ quá trình bao gồm tiền xử lý chất nền và tăng trưởng thủy nhiệt. Đầu tiên, chất nền thủy tinh ITO được rửa bằng siêu âm trong 0,5 giờ tương ứng với acetone, rượu isopropyl và dung dịch ethanol.
Sau đó, các lớp mầm ZnO được phủ lên đế ITO bằng phương pháp sol–gel và phủ nhúng. Cuối cùng, chất nền có lớp hạt được đặt hướng xuống dưới vào dung dịch tăng trưởng có chứa kẽm nitrat và hexamethylenetetramine, sau đó duy trì ở 90°C trong 4 giờ. Cuối cùng, các NR ZnO thu được được rửa sạch bằng nước khử ion và sấy khô trong không khí. Điều chế quang anốt dị thể ZnO NRs/BiVO4 Một phương pháp SILAR đã được sử dụng để tổng hợp dị thể ZnO NRs/BiVO4.
Nó có thể cho phép phát triển một lớp phù hợp mà không phá hủy cấu trúc ban đầu. Do đó, việc giảm các khuyết tật của sản phẩm có lợi để tăng khả năng thu ánh sáng của photoanode. Sự lắng đọng của BiVO4 đạt được bằng cách sử dụng bể Bi3+ gồm 5 mM Bi(NO3) và bể chứa 5 mM NH4VO3. Để bắt đầu, Bi(NO3)·5H2O hòa tan trong etylen glycol metyl ete được khuấy mạnh trong 30 phút cho đến 4 khi dung dịch trở nên trong suốt.
Trong khi đó, NH4VO3 được hòa tan trong nước được đun nóng ở 100 °C. Sau đó, các NR ZnO được ngâm trong bể Bi3+ trong 60 giây để hấp thụ Bi3+ trên bề mặt của ZnO. Tiếp theo, ngâm trong bể hấp thụ VO4. Ngoài ra, lượng BiVO4 tích hợp cũng có thể được tăng lên bằng cách lặp lại các chu kỳ lắng đọng BIVO4.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu - Chế tạo điện cực thành công điện cực quang ZnO/BiVO4 có cấu trúc phân nhánh. - Khảo sát hiệu suất quang điện hóa tách nước (PEC) của các vật liệu chế tạo. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Vật liệu ZnO/BiVO4. - Phạm vi nghiên cứu: Chế tạo và nghiên cứu thuộc tính quang điện hóa của vật liệu ZnO/ BiVO4.
Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài được thực hiện bằng phương pháp thực nghiệm. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu vật liệu oxit kẽm (ZnO) Trong các chất và hợp chất bán dẫn, ZnO được biết đến là một chất bán dẫn đặc biệt có nhiều tính chất nổi bật như: độ bền vững, độ rắn, nhiệt độ thăng hoa, độ rộng vùng cấm lớn (cỡ 3,37 eV ở nhiệt độ phòng) và nóng chảy cao, độ linh động điện tử cao, chuyển dời điện tử thẳng, exiton tự do có năng lượng liên kết lớn (cỡ 60 meV)…Bên cạnh đó, ZnO còn có tổ hợp nhiều tính chất như: tính chất quang, tính chất điện và áp điện, bền vững với môi trường hiđro, tương thích với các ứng dụng trong môi trường chân không, tính chất nhiệt ổn định, dẫn nhiệt tốt.