Chương I TỔNG QUAN Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 8 I. PIN NẠP ION LITI I. Cấu tạo của pin Pin hóa học là thiết bị biến đổi năng lượng hóa học thành năng lượng điện thông qua quá trình oxi hóa khử xảy ra trên bề mặt các điện cực, quá trình vận chuyển các hạt điện tích thông qua các chất phân tách và chất điện phân. Trong pin gồm có các thành phần cơ bản sau: • Cực dương • Cực âm • Chất điện phân Hình 1.
Cấu tạo pin ion liti Cực âm: là nơi xảy ra sự khử trong quá trình tác động điện hóa, tại đó điện cực nhận điện tử. Cực âm được chọn sao cho không phản ứng với chất điện phân và có thế điện hóa cao. Thông thường ta thường dùng cực âm là oxit kim loại hoặc hợp kim, vd: PbO2, Lix CoO2, vv… Cực dương. Là nơi xảy ra sự oxi hóa trong quá trình tác động điện hóa, tại đó điện cực cho điện tử.
Trong thực tế cực dương được chọn sao cho có độ dẫn điện tốt ổn định nhiệt, dễ chế tạo và giá thành rẻ. Vật liệu thông dụng làm điện cực dương là Zn. Tuy nhiên ngày nay người ta thường dùng cực dương là Li vì Li có khối lượng nhẹ nhất và thế điện hóa cao. Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 9 Chất điện phân: là nơi dẫn các ion trong quá trình oxi hóa khử từ cực dương đến cực âm và ngược lại từ cực âm đến cực dương.
Chất điện phân có thể là chất lỏng như nước hoặc axit dung dịch muối hoặc dung dịch bazơ, là những chất tham gia vào quá trình dẫn các ion. Một số loại pin dùng chất điện phân là chất rắn. Khả năng dẫn điện của chất điện phân rắn phụ thuộc vào nhiệt độ của pin. Chất điện phân có khả năng dẫn điện tốt, không được tác dụng với các điện cực, tính chất của chất điện phân không thay đổi khi nhiệt độ của pin tăng cao trong quá trình sử dụng, an toàn đối với các loại phương tiện xách tay và có giá thành rẻ.
Hầu hết các chất điện phân thường dùng là chất lỏng, trừ trường hợp pin dùng điện cực là Li. Đối với pin dùng điện cực dương là Li thì chất điện phân không thể là các dung dịch lỏng như dung dịch muối hay axit hoặc bazơ vì nó tác dụng với điện cực làm điện cực Li thay đổi. VẬT LIỆU CHO ĐIỆN CỰC ÂM LiFePO 4 Vật liệu cho điện cực âm đã được nghiên cứu tổng hợp và sử dụng trong pin nạp ion liti bao gồm: LiCoO2 , LiMn2 O4, LiNiO 2 , LiMO2 (M = V, Ni, Co, Cr) và LiCo1-xNixO 2. Cực âm được sử dụng đầu tiên đó là LiCoO 2 nhưng nó đang dần được thay thế bởi LiCo0.8O2 với một lượng nhỏ kim loại Al được pha tạp để tăng tính ổn định của điện cực.
Sử dụng Ni giá thành rẻ hơn Co và dung lượng của pin cao hơn (Pin Ni có dung lượng 180mAh, pin Co có dung lượng 137mAh). Một lý do nữa để thay thế vì sự khác biệt về pha của hai oxit dẫn đến khả năng nạp lại được của hai pin đó là khác nhau. Mặc dù đã dùng LiMn 2O4 thay thế cho LiCoO 2, LiNiO 2 có giá thành cao và Ni vì gây ra ô nhiễm nhưng pin nạp LiMn 2 O4 còn gặp nhiều lỗi xảy ra khi nhiệt độ bảo quản tăng cao. Do đó bảo quản các loại pin này là một vấn đề lớn.
Một vật liệu đang hứa hẹn thay thế hoàn hảo nhất cho tất cả các cực âm hiện nay đã và Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 10 đang được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu và dần đưa vào sử dụng đó là vật liệu LiFePO 4. Điện cực âm dùng vật liệu LiFePO 4 đáp ứng được về mặt hiệu quả kinh tế vừa khắc phục được ô nhiễm môi trường mà các loại vật liệu làm cực âm khác không có được. Trên bảng so sánh các vật liệu làm điện cực âm cho pin nạp liti ion [5]. So sánh các vật liệu làm điện cực âm Loại Pin LiFePO 4 LiCoO 2 LiMn2 O4 Li(NiCo)O2 An toàn An toàn nhất Không ổn Chấp nhận Không ổn định được định Tác động Không gây ô Gây ô nhiễm Gây ô nhiễm Gây ô đế n môi nhiễm môi môi trường môi trường nhiễm môi trường trường trường Thờ i gian Tốt nhất Chấp nhận Không chấp Chấp nhận làm việc được nhận được được Công suất Chấp nhận Tốt Chấp nhận Rất tốt được được Giá trị Kinh tế nhất Giá thành cao Chấp nhận Giá thành kinh tế được cao Nhiệt độ Từ -20 0 C đến Từ -200 C đến Từ -200C đến Từ -200C sử dụng 700C 50 0C 550C đến 550C Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 11 Từ bảng 1 cho thấy việc nghiên cứu và tổng hợp vật liệu LiFePO 4 làm điện cực âm cho pin là hướng đi đúng có tính khoa học và khả năng ứng dụng thực tế để thay thế cho các loại vật liệu khác đang dùng hiện nay.
Cấu trúc tinh thể LiFePO 4 Trong tinh thể LiFePO 4 nguyên tử O xắp xếp với nguyên tử P tạo thành cấu trúc tứ diện. Nguyên tử O xắp xếp với nguyên tử Fe tạo thành cấu trúc bát diện (hình 1. Với sự xuất hiện của ion Li+ dọc theo chiều b tạo thành kênh dẫn điện tử. Khi Li+ và điện tử di chuyển khỏi cấu trúc thì nó tạo thành các cấu trúc FePO4 giống nhau.
Khi đó mạng tinh thể suy giảm 7% thể tích. Như vậy trong cấu trúc tinh thể LiFePO4 nguyên tử Li chiếm khoảng 7% theo thể tích. Sắp xếp nguyên tử Li, O, P, Fe trong 2 ô mạng tinh thể được biểu diễn trong hình 1. Cấu trúc tinh thể LiFePO 4 Trong tinh thể LiFePO4 kích thước các ô mạng cơ bản như sau: a = 10.6913 Ao Cấu trúc tứ diện PO4 và bát diện FeO6 được minh họa trên hình 1.
Cấu trúc tinh thể FePO4 tương đối ổn định và bền vững được biết đến như cấu Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 12 trúc dị thể. Cấu trúc FePO 4 là khung cho cấu trúc LiFePO4 do đó cấu trúc LiFePO4 rất bền vững và ổn định. (a) Cấu trúc tinh thể FePO 4 (b) Cấu trúc tinh thể LiFePO4 I. Tính chất điện hóa của vật liệu điện cực âm LiFePO 4 Pin ion-lithium nạp là thiết bị quan trọng trong các thiết bị thông tin liên lạc và trong hệ thống máy tính xách tay vv…Cực âm thường dùng là LiCoO2, LiNiO2 và LiMn 2O 4 bởi công suất của pin loại này cao.
Tuy nhiên tính chất hóa và điện hóa cũng như tính ổn định của các loại pin này không cao. Mặc dù đã dùng LiMn2O4 thay thế cho LiCoO2 LiNiO2 có giá thành cao và Ni vì gây ra ô nhiễm nhưng pin nạp LiMn2O4 còn gặp nhiều lỗi xảy ra khi nhiệt độ bảo quản tăng cao. Do đó bảo quản các loại pin này là một vấn đề lớn. Điện cực LiFePO4 có dung lượng cỡ trung bình khoảng 170mAh/g đạt được 80% so với lý thuyết, với điện thế khoảng 3.
Dùng LiFePO4 không gây ô nhiễm môi trường như hai loại điện cực vừa nêu trên và giá thành của nó lại rẻ hơn nhiều. Một vấn đề hạn chế của việc dùng chất LiFePO4 làm cực âm là độ dẫn của LiFePO4 thấp. Vấn đề này hoàn toàn có thể khắc phục được bằng cách Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 13 tổng hợp Cacbon phủ lên cathode LiFePO 4. Phủ Cacbon lên bề mặt điện cực LiFePO4 bằng nhiều cách như: • Lắng đọng Cacbon lên bề mặt • Xử lý bằng vi sóng • Tổng hợp bằng nhiệt • Tác động cơ hóa Ngoài LiFePO 4 còn có LiCoPO 4 và LiV2(PO4 )3 đang được nghiên cứu và phát triển.
VẬT LIỆU DÙNG LÀM ĐIỆN CỰC DƯƠNG I. Cấu trúc tinh thể Loại pin Liti ion đầu tiên do hãng SONY sản xuất dùng than cốc làm điện cực dương có dung lượng tương đối cao (180 mAh/g) và bền trong dung dịch điện ly propylen carbonate (PC). Đến năm 1990, than cốc được thay thế bởi graphit cacbon. Cấu trúc mạng của graphit cacbon thuộc dạng lớp với các nguyên tử cacbon sp2 được lai hóa trong liên kết đồng hóa trị dạng lục giác với nhau trong cấu trúc ABA.
(2H) thành từng lớp xếp chồng lên nhau, hoặc trong cấu trúc trực thoi ABCA. (3R) cũng có dạng từng lớp xếp chồng lên nhau (hình 1. Graphit carbon dạng lục giác là pha có sự ổn định nhiệt động tốt hơn so với dạng trực thoi mặc dù mức độ sai khác Enthanpy giữa hai loại cấu trúc (2H) và (3R) chỉ là 0. Hai pha này có thể chuyển hóa cho nhau bằng cách nghiền (2H → 3R) hoặc nung nóng lên tới nhiệt độ 1050 o C (3R → 2H) [16] Nguyễn Đức Hiếu ITIMS 2009 Nghiên cứu tổng hợp vật liệu LiFePO 4 ứng dụng làm điện cực trong pin nạp ion liti 14 Hình 1.
Cấu trúc lục giác và cấu trúc trực thoi của graphit carbon [4] 1. Tính chất điện hóa Graphit có thể chứa lượng ion Liti cực đại là một nguyên tử Liti trên sáu nguyên tử cacbon trong điều kiện áp suất khí quyển với dung lượng lý thuyết là 372 mAh/g. Các ion Liti được điền kẽ và cấu trúc mạng graphit thông qua các sai hỏng mạng nằm ở các mặt phẳng lục giác hoặc thông qua các mặt phẳng cạnh. Cấu trúc dạng lớp của graphit cacbon không bị thay đổi khi có các ion Liti điền kẽ vào.
Bản chất của quá trình tách và điền kẽ này chính là quá trình phóng và quá trình nạp. Quá trình phóng và nạp trong chu kì đầu tiên của than cốc và graphit carbon được đưa ra trên hình 1. So sánh quá trình phóng nạp của graphit carbon và than cốc thấy rằng: hiệu suất quá trình phóng-nạp của graphit cao hơn và có dung lượng cao hơn so với của than cốc. Với ưu thế là giá thành rẻ và có nhiều trong tự nhiên, do đó, graphit carbon được sử dụng rộng rãi hơn.