MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nước là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người. Nước trong tự nhiên bao gồm toàn bộ các đại dương, biển vịnh sông hồ, ao suối, nước ngầm, hơi nước ẩm trong đất và trong khí quyển. Trên trái đất khoảng 94% là nước mặn, 2-3% là nước ngọt nó chiếm một tỷ lệ rất nhỏ.
Nước ngọt dạng lỏng thường ở các tầng ngầm, chiếm khoảng 2,24% tổng lượng nước ngọt. Như vậy, chỉ có khoảng 0,03% lượng nước trên hành tinh là có thể sử dụng được. Nước cần cho mọi sự sống và phát triển. Nước giúp cho các tế bào sinh vật trao đổi chất, tham gia vào các phản ứng hoá sinh và tạo nên các tế bào mới.
Vì vậy, có thể nói rằng ở đâu có nước là ở đó có sự sống. Nước được dùng cho đời sống, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Sau khi sử dụng nước trở thành nước thải, bị ô nhiễm với các mức độ khác nhau. Ngày nay, cùng với sự bùng nổ dân số và tốc độ phát triển cao của công nông nghiệp.
đã để lại nhiều hậu quả phức tạp, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường nước. Vấn đề này đang được nhiều sự quan tâm của mọi người, mọi quốc gia trên thế giới. Hiện nay ở Việt Nam, mặc dù các cấp, các ngành đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng tình trạng ô nhiễm nước là vấn đề rất đáng lo ngại. Theo khảo sát của Trung tâm Quan trắc môi trường Quốc gia - Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho thấy hiện trạng môi trường nước mặt lục địa nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng.
Việc đẩy mạnh công nghiệp hoá và kỹ thuật canh tác nông nghiệp đã đưa nền kinh tế phát triển không ngừng, tuy nhiên vấn đề chất thải gây ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề cấp bách cần được quan tâm. Chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp gây ô nhiễm môi trường phần lớn bị dồn chảy vào sông, gây ô nhiễm môi trường nước nói chung và đặc biệt ô nhiễm các ion kim loại nặng. Hầu hết các kim loại nặng, đồng và chì,… là những ion kim loại độc hại đặc biệt là ở 2 nồng độ cao. Trong cơ thể, chúng không bị chuyển hóa, mà được chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác, bị đào thải qua đường bài tiết và tích tụ lại trong một số cơ quan với hàm lượng tăng dần theo thời gian tiếp xúc [1].
Trong đó đặc biệt Chì (Pb) là một trong những kim loại nặng gây ô nhiễm phổ biến được thải vào môi trường nước, không khí và đất do các hoạt động công nghiệp như đốt cháy nhiên liệu hoá thạch, nấu chảy quặng sulfit, xả thải nước mỏ nhiễm axit, mạ kim loại, lọc dầu, sản xuất ắc quy và các hoạt động tự nhiên. Ô nhiễm chì trong môi trường phá huỷ hệ sinh thái và gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người [2]. Hơn nữa, chì không có khả năng tự phân huỷ sinh học trong môi trường, mà sẽ tích luỹ chủ yếu trong xương, não, thận và các mô cơ, gây ra các bệnh nghiêm trọng như suy thận, thiếu máu, rối loạn hệ thần kinh, tăng huyết áp, suy giảm khả năng sinh sản, suy nhược thậm chí dẫn đến tử vong [2, 3]. Vấn đề ô nhiễm chì trong nước tự nhiên, nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp là một trong những quan ngại đáng báo động trên toàn thế giới và ở Việt Nam.
Giới hạn cho phép tổng chì trong nước sinh hoạt được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định năm 1995 là 50 ppb [4] nhưng đến năm 2010 giới hạn này đã giảm xuống 10 ppb [3] tương tự như Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 01:2009/BYT) [5]. Do có độc tính cao, việc xử lý loại bỏ chì khỏi nước và nước thải là một trong những vấn đề trọng yếu nhằm đảm bảo sức khoẻ cộng đồng và bảo vệ môi trường. Hiện nay có nhiều loại vật liệu khác nhau đã được nghiên cứu sử dụng nhằm loại bỏ các ion kim loại từ nước và nước thải nhưng chúng vẫn chưa được sử dụng rộng rãi, phổ biến do nhiều bất cập và hạn chế [6, 7]. Cho đến nay đã có nhiều phương pháp xử lý ion kim loại nặng trong nước như phương pháp kết tủa, phương pháp điện hóa, phương pháp hấp phụ và trao đổi ion, phương pháp sinh học.
Tuy nhiên, các phương pháp này cũng đang gặp phải một số khó khăn như: hiệu quả xử lý không đạt như ý muốn; chi phí bảo trì và vận hành cao. Việc lựa chọn phương pháp xử lý thích hợp phụ thuộc vào các tiêu chí như tính kinh tế, tính khả thi, tính hiệu quả của từng phương pháp. Vì vậy, hướng xử lý nước ô nhiễm ion kim loại nặng bằng các vật liệu có nguồn 3 gốc tự nhiên với giá thành rẻ và an toàn với môi trường đang thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học [8, 9, 10]. Một trong những hướng nghiên cứu hiệu quả và thân thiện với môi trường là sử dụng vật liệu hấp phụ, nhất là xử lý ion kim loại nặng bằng vật liệu có nguồn gốc tự nhiên hay phụ phẩm nông nghiệp như cao lanh, zeolit, diatomit, bentonit, than bùn, trấu, tro trấu.
Nhóm tác giả Adebowale K. [11] đã sử dụng cao lanh tự nhiên để xử lý nước thải chứa ion Pb2+ và Cd2+. Kết quả cho thấy, cao lanh có khả năng hấp phụ khá tốt các ion kim loại nặng này, dung lượng hấp phụ (qe) đối với Pb2+, Cd2+ lần lượt là 21,65 mg/g và 17,13 mg/g. Khi nguồn nước bị ô nhiễm bởi ion Zn2+, dung lượng hấp phụ của cao lanh đạt 29,0 mg/g [12].
Ưu điểm của các vật liệu hấp phụ có nguồn gốc tự nhiên là chi phí xử lý thấp, dễ sử dụng và vận hành, nguồn cung cấp khá dồi dào. Tuy nhiên, các vật liệu này có độ xốp thấp, diện tích bề mặt riêng và hoạt tính bề mặt không cao. Dung lượng hấp phụ đối với ion kim loại nặng dao động trong khoảng từ 19 – 32 mg/g như bentonit tự nhiên (20,0 mg/g), cao lanh tự nhiên (19,27 mg/g), montmorillonit (31,5 mg/g), khoáng sét kết hợp với bã cà phê (19,5 mg/g) [13]. Nếu các vật liệu này được hoạt hóa trong điều kiện thích hợp như tăng độ xốp, tăng diện tích bề mặt riêng hoặc chức năng hóa bề mặt thì khả năng hấp phụ sẽ tăng lên rất đáng kể.
Bentonit xử lý trong môi trường acid acetic, kết hợp với nhóm chức hữu cơ, dung lượng hấp phụ ion Pb2+ trong môi trường nước đạt 86,32 mg/g [13]. [14] sử dụng bentonit hoạt hóa và không hoạt hóa để hấp phụ Pb2+, kết quả cho thấy bentonit hoạt hóa có dung lượng hấp phụ tăng thêm 64,17%. Điều này đã chứng tỏ được vai trò của sự hoạt hóa, biến tính vật liệu tự nhiên đối với khả năng xử lý các chất bị ô nhiễm trong môi trường nước. Với khả năng hấp phụ các chất trong môi trường nước như ion kim loại nặng, các chất màu, hợp chất chứa nitơ, phosphor, ngăn cản và lọc chất rắn lơ lửng bằng hệ thống lỗ xốp, vật liệu chế tạo từ than bùn vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hoàn toàn có khả năng xử lý hiệu quả nước thải chứa ion 4 kim loại nặng.
Theo tính toán từ các phương trình đẳng nhiệt Langmuir hoặc Freundlich, thì dung lượng hấp phụ cực đại còn có thể tăng lên rất nhiều nếu được xử lý trong môi trường thích hợp [15]. Theo đánh giá của các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản thì Việt Nam là nước có nguồn than bùn rất dồi dào [16]. Tập trung chủ yếu ở sáu vùng trọng điểm, trong đó, nhiều nhất là than bùn ở U Minh, trữ lượng ước tính khoảng 456 triệu m3 (tương đương 305 triệu tấn). Than bùn U Minh có hàm lượng acid humic (30-31%), độ mùn (46-55%), nitơ (1-2%), độ tro (7-20%), phosphor [15].
Đây là than bùn có chất lượng tốt, nhiều triển vọng ứng dụng trong nông nghiệp và xử lý môi trường. Với hệ thống lỗ xốp phát triển, chứa nhiều nhóm chức trên bề mặt nên khả năng hấp phụ cao, có thể sử dụng để xử lý các chất ô nhiễm trong môi trường nước [17, 18, 19, 20]. Với những tính chất, đặc điểm, khả năng ứng dụng và phương pháp chế tạo hợp lý, khả thi, than bùn vùng ĐBSCL có nhiều lợi thế để chế tạo vật liệu hấp phụ, xử lý ion kim loại nặng như Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn, ứng dụng hấp phụ các ion Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước”.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được điều kiện thích hợp để hoạt hóa than bùn, vật liệu có khả năng hấp phụ ion kim loại cao; - Tìm được quy luật động học, đẳng nhiệt hấp phụ và các đại lượng của quá trình hấp phụ các ion Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước; 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Điều kiện để chế tạo vật liệu hấp phụ từ than bùn (nồng độ acid H3PO4 hoạt hóa, nhiệt độ sấy mẫu); - Điều kiện, khả năng hấp phụ các ion Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước; 5 - Quy luật và các đại lượng của quá trình hấp phụ (như hằng số tốc độ, dung lượng, hiệu suất) các ion Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước. Phạm vi nghiên cứu - Vật liệu hấp phụ chế tạo từ than bùn.
- Hấp phụ các ion Pb2+, Cd2+ trong môi trường nước. Xác định quy luật và các đại lượng của quá trình hấp phụ. Nội dung chính của luận văn - Chế tạo vật liệu hấp phụ. + Thay đổi nồng độ acid H3PO4 hoạt hóa từ 0 – 3,0 M; + Thực hiện sự hấp phụ ion Pb2+, Cd2+ và phân tích nồng độ trước và sau khi hấp phụ để tìm nồng độ acid thích hợp nhất, ứng với mẫu có hiệu suất hấp phụ và dung lượng hấp phụ các ion Pb2+, Cd2+ lớn nhất; + Thay đổi nhiệt độ sấy mẫu từ 110 – 190 oC, tìm ra nhiệt độ sấy thích hợp; + Thực hiện sự hấp phụ ion Pb2+, Cd2+ và phân tích nồng độ trước và sau khi hấp phụ để tìm ra nhiệt độ sấy thích hợp nhất; - Đặc trưng tính chất vật liệu bằng EDX, XRD, SEM, BET và FT-IR.
- Thực hiện sự hấp phụ ion Pb2+, Cd2+ bằng cách khảo sát các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu suất và dung lượng hấp phụ như: thời gian hấp phụ, lượng chất hấp phụ, môi trường pH của dung dịch và nồng độ ion kim loại ban đầu.