mở đầu, là mốc đánh dấu sự có mặt của văn xuôi các dân tộc thiểu số như một thể tài, một mảng sáng tác độc đáo và mới lạ trong đời sống văn học nước nhà. Trong Ché Mèn đi họp tác giả đã thể hiện rõ nét sự thay đổi sâu sắc cách sống, cách nghĩ, cách làm của đồng bào các dân tộc thiểu số để phá bỏ những tập tục cổ hủ, lạc hậu, mê tín dị đoan vươn lên xây dựng cuộc sống mới, con người mới. Nhân vật Mèn là một cô gái Tày 18 tuổi đã tích cực học chữ, dám nghĩ, dám làm để thay đổi những thói quen lạc hậu của đồng bào mình. để có ngày cô được bước ra khỏi làng – điều mà nhiều người phụ nữ dân tộc thiểu số trong đó có cả mẹ cô chưa bao giờ có được, làm được.
Ché Mèn có thể coi là hình tượng người phụ nữ mới đầu tiên trong văn xuôi dân tộc thiểu số. Ché Mèn đi họp dẫu còn chút vụng về trong ngôn ngữ nhưng đã mang dáng dấp của một truyện ngắn hiện đại. Sau tác phẩm này, hàng loạt cây bút là người dân tộc đã tự tin lao động và sáng tạo, cày xới trên chính mảnh đất văn chương quê mình, cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị như: Bên bờ suối tiên của Triều Ân, Cuộn chỉ màu hạt đỗ của Lâm Ngọc Thụ, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình, Ké Nàm của Hoàng Hạc, Đoạn đường ngoặt của Nông Viết Toại,. Đặc biệt là sự đóng góp của nhà văn, nhà giáo người dân tộc Tày - Vi Hồng với hàng loạt các tác phẩm tiêu biểu như các truyện ngắn Ngôi sao trên đỉnh núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ỷ, Nước suối tiên đào.Các tác phẩm của ông đều gắn với hiện thực của cuộc sống kháng chiến và con người vùng núi cao với tình cảm trừu mến, ngợi ca, với niềm tin vào sức sống tiềm tàng, âm thầm mà mãnh liệt trong tâm hồn những con người vùng núi cao.
Nhà văn dân tộc Tày - Triều Ân cũng góp cho mảng văn học này một nét Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ riêng khi ông tập trung cho người đọc thấy được nỗi thống khổ của người dân bị những hủ tục, mê tín dị đoan bao đời đè nặng qua các tác phẩm như Bên bờ suối tiên, Chặt cổ rồng, Đường qua đèo mây. Với nhận thức văn học phản ánh hiện thực cuộc sống và phục vụ cho các nhiệm vụ văn hóa, chính trị, xã hội của vùng đồng bào dân tộc miền núi, văn học dân tộc thiểu số thời kì này luôn bám sát chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể. Truyện ngắn và kí ra đời trong thời kì này đã phản ánh những biến đổi kì diệu trong đời sống các dân tộc thiểu số, nếu như trước đây họ bị kìm hãm, chia rẽ, đầy đọa thì nay họ đã đoàn kết lại trong đại gia đình Việt Nam để cùng nhau xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống mới, với từng công việc cụ thể như: xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng công trình thủy điện, làm thủy lợi, chống mê tín, dị đoan, chống bảo thủ, lạc hậu, chống tham ô. Có thể nhận thấy đây là thời kì phát triển nở rộ của thể loại này.
Từ cuối những năm 60 trở đi, hàng loạt tuyển tập truyện ngắn và kí của các tác giả dân tộc thiểu số liên tiếp ra đời góp phần khẳng định vị trí của văn xuôi dân tộc thiểu số trong nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nói riêng và nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Có thể kể đến những tuyển tập như: Ké Nàm của nhiều tác giả (1965); Tiếng hát rừng xa của Hoàng Hạc, Triều Ân (1969); Mây tan của nhiều tác giả (1973); Tiếng chim gô của Nông Minh Châu (1979); Niềm vui của Vi Thị Kim Bình (1979); Tiếng khèn A Pá của Triều Ân (1980); Cột mốc giữa lòng sông của Mã A Lềnh (1981); Những bông ban tím của Sa Phong Ba (1982); Hạt giống mới của Hoàng Hạc (1983); Chiếc vòng bạc của Lò ngân Sủn (1987); Người tạc tượng nhà mồ của nhiều tác giả (1988), Đƣờng qua đèo mây của Triều Ân (1988), Đuông Thang của Vi Hồng (1988); Xứ lạ Mường trên của Hoàng Hạc (1989). Có thể thấy rằng chưa bao giờ truyện ngắn và kí được xuất bản nhiều như trong thời kì này. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Từ khoảng những năm 60 trở đi, bên cạnh thể loại truyện ngắn và kí đã xuất hiện thể loại tiểu thuyết.
Muối lên rừng của Nông Minh Châu được coi là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học dân tộc thiểu số. Và phảỉ đến 14 năm sau, cuốn tiểu thuyết thứ hai của văn học dân tộc thiểu số mới ra đời. Đó là tác phẩm Hơ Giang của Y Điêng (dân tộc Ê Đê). Tiếp đó là những tiểu thuyết của nhà văn người dân tộc Tày - Vi Hồng.
Trong khoảng năm năm, Vi Hồng đã cho ra đời ba cuốn tiểu thuyết, đó là: Đất bằng (1980); Núi cỏ yêu thương (1984); Thung lũng đá rơi (1985). Từ sau năm 1975, văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển một bước mới. Đội ngũ các tác giả là người dân tộc thiểu số đông đảo hơn và thành tựu sáng tác cũng rực rỡ hơn. Thời kì này văn xuôi dân tộc thiểu số phát triển mạnh về số lượng cũng như chất lượng ngày càng khẳng định được vai trò, vị trí cũng như tầm vóc của mình trong nền văn học dân tộc.
Ở giai đoạn này, có thể nhận diện nền văn xuôi các dân tộc thiểu số một cách rõ ràng và khẳng định nó như một bộ phận riêng, độc đáo trong đời sống văn học Việt Nam hiện đại. Đội ngũ các nhà văn người dân tộc thiểu số tăng lên đáng kể. Đặc biệt là các nhà văn người dân tộc Tày. Bên cạnh những cây bút đã có đóng góp từ thời kháng chiến chống Mĩ như: Ma Trường Nguyên, Triều Ân, Vi Hồng, Hà Lâm Kì, Vi Thị Kim Bình, Mã A Lềnh, Hà Lí, Kim Nhất, Hà Thị Cẩm Anh, Kha Thị Thường.
còn có những cây bút trẻ như: Hữu Tiến, Đoàn Lư, Cao Duy Sơn, Hoàng Hữu Sang, Sa Phong Ba, H'Linh Niê, Niê Thanh Mai,. Hầu hết các sáng tác của các nhà văn dân tộc thiểu số trong những năm đầu đất nước hòa bình đều phản ánh công cuộc xây dựng đời sống mới ở vùng cao. Nổi bật hơn cả là nhà văn Vi Hồng với hàng loạt những tác phẩm có giá trị. Với sự hiểu biết sâu sắc về con người, thiên nhiên miền núi, phong tục tập quán của người dân tộc Tày nhà văn Vi Hồng muốn gửi thông điệp kêu gọi con người yêu thương cái đẹp, cái thiện, xóa bỏ tàn dư, diệt trừ cái ác, cái lạc hậu, cái lỗi thời.
Với tập truyện Niềm vui (1979) nhà văn Vi Thị Kim Bình Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ cũng thể hiện khát khao đưa ánh sáng văn minh về những miền rừng xa xôi, hẻo lánh. Bằng trái tim nhân hậu của một nhà văn - thầy thuốc, Vi Thị Kim Bình đã khắc họa hình tượng nhân vật trung tâm là những "lương y như từ mẫu" bằng những nét chấm phá giản dị, chân thực mà gần gũi, để lại nhiều cảm xúc, dư âm trong lòng người đọc. Bên cạnh đó còn rất nhiều nhà văn dân tộc thiểu số cũng cống hiến hết mình cho mảng văn học này như Triều Ân với Tiếng khèn A Pá (1980), Nông Minh Châu với Tiếng chim gô (1979), Hoàng Hạc với Hạt giống mới (1983),. Mỗi nhà văn phản ánh hiện thực và con người theo một cách riêng nhưng nhìn chung họ đều phản ánh sự đổi mới của cuộc sống và con người miền núi với những số phận mới, khát vọng mới nhờ ánh sáng cách mạng.
Với nhà văn Triều Ân, người đọc nhận ra niềm tin của nhà văn vào bản chất tốt đẹp trong tâm hồn mỗi con người miền núi trong các truyện ngắn Xứ sương mù, Như cánh chim trời. Kết thúc truyện ngắn Xứ sương mù tác giả muốn gửi tới người đọc bức thông điệp: "Hãy nhắm mắt lại trước vẻ bề ngoài có tính hiện tượng để nhìn sâu vào bản chất bên trong, lúc ấy, ta sẽ gặp được vàng" [25. Trong tiểu thuyết Sông gọi (1986), nhà văn Hoàng Hạc đã giúp ta khám phá những bước chuyển trong tư tưởng, tình cảm của đồng bào các dân tộc trong cuộc di dân khỏi lòng hồ Thác Bà đi xây dựng quê mới. Sáng tác của ông là hình ảnh của không khí công nghiệp hóa sôi nổi, khẩn trương, đầy gian khổ nhưng hé mở một tiền đồ tươi sáng của các dân tộc.
Nhà văn Mã A Lềnh với bút kí Cao nguyên trắng (1992) và tập truyện Vùng đồi gió quẩn (1995) đã ghi lại những đổi mới trên quê hương trong thời kì kinh tế thị trường. Với những đóng góp đáng kể của các tác giả miền núi thuộc nhiều dân tộc khác nhau, văn xuôi các dân tộc thiểu số Việt Nam đã “góp phần xứng đáng vào công cuộc cách mạng, cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ và xây dựng xã hội chủ nghĩa, trở thành một bộ phận không thể thiếu của nền Văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [46]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Sau Đại hội Đảng VI, đời sống văn học nghệ thuật nước nhà đã có sự chuyển biến lớn lao. Đất nước đổi mới, chuyển từ cơ chế quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng rất nhiều đến cách phản ánh hiện thực và tư duy nghệ thuật của các nhà văn dân tộc thiểu số.
Văn xuôi các dân tộc thiểu số thời kì này phát triển mạnh. Biên độ sáng tác của các nhà văn được mở rộng hơn. Đây là thời kì cơ cấu kinh tế miền núi có những chuyển biến mạnh mẽ, mức sống được cải thiện nhưng quan hệ đạo đức, xã hội cũng xuống cấp, cái xấu, cái ác có chiều hướng lấn át cái đẹp, cái thiện. Vì vậy, đề tài, chủ đề, phạm vi hiện thực của văn học thiểu số thời kì này được mở ra rộng rãi hơn.
Nếu như trước đây, văn học chỉ phản ánh những mặt tốt đẹp của cuộc sống thì nay nó còn phơi bày những mặt trái còn tồn đọng khắp nơi trong xã hội. Một số nhà văn là người dân tộc thiểu số đã nhanh chóng nắm bắt những vấn đề nóng hổi này để phán ánh trong tác phẩm của mình như Vi Hồng, Hoàng Thế Sinh, La Quán Miên, Ma Trường Nguyên, Cao Duy Sơn,.