CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong lực lượng công an có các tài liệu đề cập đến một số nội dung liên quan như: Khái niệm, nội dung, đặc điểm, yêu cầu, phương pháp thực hiện hoạt động giao tiếp; cấu trúc văn hóa giao tiếp và phương pháp xây dựng văn hóa giao tiếp công vụ. Về mức độ nghiên cứu Các nội dung tổng hợp về giao tiếp, giao tiếp công vụ có: Đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay” - Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS. Huỳnh Văn Thới, Hà Nội. 2015 [86]; sách chuyên khảo của GS.
Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb. Lao động, Hà Nội [44]; Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành chính quốc gia [96]; Đào Thị Ái Thi (2008), “Kỹ năng giao tiếp của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước”, Luận án tiến sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội [104]. Về kỹ năng, phương pháp giao tiếp có các công trình nghiên cứu của Raymond de Saint Lauren (2004), Nghệ thuật nói trước công chúng, (bản dịch tiếng Việt), Nxb. Văn hóa- Thể thao, Hà Nội [54]; Phong Thiên (2007), Nghệ thuật giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, NXB Thanh Hóa, Thanh Hóa [68]; E.
Zareska ( 2002), Lý thuyết và thực tiễn kỹ năng nói. Nxb DELO [80]; Hoàng Văn Tuấn (2014), Các quy tắc hay trong giao tiếp, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội [72]. Về các tình huống giao tiếp ứng xử, các hoạt động giao tiếp trong ngành, lĩnh vực đặc thù có các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả: Trịnh Thanh Hà (2009), “Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ công chức cơ quan HCNN ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội [93]; Chu Tôn - Hoàng Quý (2000), Cách cư xử giữa thủ trưởng với nhân viên, Nxb.
Thanh Niên, Hà Nội [71]; A. Lêônchiev: Hoạt động - giao tiếp - nhân cách. NXB Giáo dục. Hà Nội, 1989 [55]; Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định: Giáo dục học tập 2- NXB ĐHSP 2005; Học viện Hành Chính Quốc gia (2010), “Kỹ năng giao tiếp và chất vấn của đại biểu hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân”, tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Hà Nội [97]; TS.
Nguyễn Thị Hà (2015), “Kỹ năng giao tiếp, ứng xử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp nội bộ của cơ quan”, Nội san tháng 4,5,6 /2015, Khoa văn bản và CNHC Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội [45]. Về kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử trong lực lượng công an có các công trình nghiên cứu: Đề tài khoa học trọng điểm cấp bộ “Văn hóa ứng xử của Công an nhân dân (CAND)”, Bộ Công an, GS.Trần Đại Quang (chủ nhiệm đề tài), Hà Nội [64, 85]; Tài liệu “Kỹ năng giao tiếp và tạo ảnh hưởng” và tài liệu ‘Kỹ năng 7 luan an thuyết trình hiệu quả” của lực lượng công an nhân dân (giáo trình bồi dưỡng Kỹ năng hành chính dành cho cán bộ cấp vụ của Trường đại học An ninh nhân dân) 2014 [91, 92]. Về mức độ nghiên cứu: Nội dung đề tài trọng điểm cấp nhà nước chỉ đề cập đến vấn đề văn hóa công vụ hóa nói chung hoặc về một phần trong văn hóa giao tiếp là quy tắc ứng xử của lực lượng công an. Các tài liệu nghiên cứu khác về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an mới chỉ ở mức độ tài liệu bồi dưỡng, bài viết khoa học.
Về cơ sở pháp lý trong hoạt động giao tiếp công vụ: Quyết định 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/2/2007 của Bộ Nội vụ ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, và viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; và Quy chế Văn hóa công sở, được ban hành kèm theo Quyết định 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Hai văn bản này đều thiết lập những quy định cụ thể và rõ ràng về giao tiếp trong thực thi công vụ; do vậy, là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng lề lối, tác phong làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả và tạo dựng một hình ảnh tích cực về nền công vụ trong lòng công chúng và doanh nghiệp. Ngoài hai văn bản trên, chủ yếu các chính sách được ban hành tập trung chủ yếu vào hình thức giao tiếp bằng văn bản, nhất là văn bản quy phạm pháp luật, một số quy định về giao tiếp thông qua hình thức hội họp (như Quyết định 114/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/5/2006 ban hành quy định về chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; Quyết định 45/2018/QĐ-TTg ngày 09/11/2018 quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước), một số quy định về vấn đề phối hợp (như Nghị định số 144/2005/NĐ-CP quy định về công tác phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược quy hoạch, kế hoạch). Nhìn chung, còn thiếu những chính sách, quy định cụ thể về hệ thống các nguyên tắc cũng như chỉ dẫn cụ thể, hay quy tắc về chuẩn mực hành vi tương ứng về các hình thức giao tiếp để trên cơ sở đó các cơ quan, tổ chức có thể cụ thể hóa hơn nữa cho phù hợp với đặc thù ngành, nghề… của tổ chức.
Những vấn đề chung về giao tiếp và giao tiếp công vụ Các nội dung tổng hợp về giao tiếp, giao tiếp công vụ có: Đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS. Huỳnh Văn Thới, Hà Nội. 2015; sách chuyên khảo của GS. Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb.
Lao động, Hà Nội; Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành chính quốc gia (2011). Các đề tài kể trên tập trung chủ yếu giới thiệu lý luận chung về khái niệm, đặc điểm giao tiếp và giao tiếp công vụ. Về khái niệm, chức năng, các hình thức giao tiếp cơ bản Theo GS. Mai Hữu Khuê Chủ biên sách chuyên khảo (1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb.
Lao động, Hà Nội và theo tài liệu Học viện Hành Chính 8 luan an Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, giáo trình hệ cử nhân hành chính, giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp. Giao tiếp là một quá trình, giao tiếp liên quan đến việc chia sẻ thông tin hoặc cảm xúc giữa các bên tham gia. Giao tiếp không thể mang tính một chiều. Như vậy, giao tiếp có thể được hiểu là các biểu hiện mang tính hướng ngoại và bề mặt khi con người thể hiện các tiếp xúc tương tác với các cá nhân khác trong cộng đồng.
Cái gốc của các biểu hiện bề mặt đó là cách tiếp cận của cá nhân ứng với từng vấn đề như vụ việc, con người, công việc hay cuộc sống nói chung. Nói đến giao tiếp ứng xử là nhấn mạnh tính tình thế của các hành vi giao tiếp trong đó các bên tham gia giao tiếp cần tính tới các đặc thù của bối cảnh như thời điểm, không gian hay các yếu tố liên quan đến bên cùng tham gia giao tiếp để có nhận thức và hành vi phù hợp. Các hình thức giao tiếp cơ bản trong hành chính: Theo nội dung sách chuyên khảo của GS. Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb.
Lao động, Hà Nội và Tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, (2011): về cơ bản có các hình thức giao tiếp sau: - Giao tiếp thông qua tiếp xúc trực tiếp (nghe, nói) - Giao tiếp phi ngôn từ (nét mặt, trang phục, khoảng cách, v. Chức năng cơ bản của giao tiếp: các tài liệu đã làm rõ chức năng cơ bản của giao tiếp như: chức năng thông tin liên lạc, chức năng điều chỉnh hành vi. Chức năng kích động liên lạc, là môi trường thực hiện lễ nghi. Các chức năng này đều đảm bảo là công cụ cơ bản, tạo điều kiện thực hiện hiệu quả các hoạt động quản lý.
Về vai trò của giao tiếp công vụ Trong Đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS. Huỳnh Văn Thới, Hà Nội. 2015 và Tài liệu “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành chính quốc gia (2011), khái niệm Giao tiếp công vụ được giới thiệu là loại giao tiếp đặc biệt vì nó liên quan đến uy tín cũng như quyền lực của nhà nước. Do vậy, bản thân mỗi người thực thi công vụ cần phải nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp trong quá trình thực thi công vụ và qua đó trang bị kỹ năng giao tiếp để thực hịên hoạt động công vụ.
Giao tiếp trong thực thi và để thực thi công vụ (viết tắt là giao tiếp công vụ) là toàn bộ các hình thức giao tiếp được thực hiện trong bối cảnh thực thi công vụ, do các bên tham gia công vụ thực hiện và để thực thi công vụ. Các tài liệu giới thiệu vai trò của giao tiếp nói chung và vai trò của giao tiếp công vụ: - Giao tiếp giúp thể hiện mình và biết người. - Giao tiếp quyết định các ‘vấn đề’ của cuộc sống nảy sinh và được giải quyết. - Giao tiếp giúp hoàn thiện nhân cách.
9 luan an - Giao tiếp giúp tạo nên cộng đồng. - Giao tiếp giúp tạo nên văn hóa. Có thể nói một cách khái quát về vai trò của giao tiếp trong cuộc sống là giúp con người: Biết; Hiểu; Hành động; Cộng tác.