CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN VĂN HOÁ CÔNG SỞ 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm văn hoá Văn hóa đề cập đến tập hợp các giá trị, niềm tin, quy tắc và hành vi mà một nhóm người chia sẻ và thể hiện trong cuộc sống hàng ngày. Điều này bao gồm cả các yếu tố như ngôn ngữ, tín ngưỡng tôn giáo, nghệ thuật, thể chất, văn hóa vật chất và các biểu hiện khác của con người.
Văn hóa không chỉ là nền tảng cho sự giao tiếp và tương tác xã hội mà còn là yếu tố quyết định trong việc hình thành danh tính cá nhân và nhóm, xác định giá trị và ưu tiên, cũng như hình thành các mô hình hành vi và quy định đạo đức. Đồng thời, văn hóa có thể thay đổi và tiến triển theo thời gian, phản ánh sự đa dạng và linh hoạt của con người và xã hội. Về khái niệm văn hóa, cho đến thời điểm hiên tại chưa có thống kê chính xác về số lượng khái niệm và định nghĩa về văn hoá. Tuy nhiên người ta ước tính có hàng ngàn khái niệm và định nghĩa khác nhau về vấn đề này.
Mỗi tác giả đều có cách hiểu rất riêng về vấn đề này dẫn đến sự đa dạng và phong phú trong cách tiếp cận. Điều này tạo ra một thách thức trong việc tìm kiếm một định nghĩa toàn diện và đầy đủ cho văn hoá. Các định nghĩa về văn hoá thường được phân loại và nhóm lại dựa trên các góc độ và quan điểm khác nhhau. Trong quá trình nghiên cứu của mình, nhóm nghiên cứu đã chia các cách hiểu về văn hóa thành hai góc độ chính là rộng và hẹp: Văn hóa theo nghĩa hẹp có thể hiểu là những giá trị, phong tục, tập quán, truyền thống của một dân tộc hay một cộng đồng nhất định.
Những yếu tố này có thể bao gồm ngôn ngữ, món ăn, trang phục, nghệ thuật, tôn giáo và hoạt động văn hóa khác. Văn hóa theo nghĩa hẹp thường được xem là một phần quan trọng của bản sắc và sự độc đáo của một dân tộc hay cộng đồng. Văn hóa theo nghĩa rộng là tất cả những giá trị, truyền thống, tập quán, phong tục, tín ngưỡng, nghệ thuật và tri thức của một cộng đồng con người trong một khu vực nhất định, bao gồm các hoạt động về xã hội, kinh tế, giáo dục, khoa học và công nghệ. Nó phản ánh sự đa dạng, sự phát triển của con người qua các thế hệ và đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và duy trì nhận thức, giá trị hành vi của mỗi cá nhân và cộng đồng.
Văn hóa là một phần quan trọng của sự phát triển tại mỗi quốc gia và được coi là nền tảng của sự đoàn kết, thịnh vượng trong một cộng đồng. 16 Tiếp cận vấn đề theo nghĩa rộng, tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội”8 Hơn nửa thế kỷ trước, trong một số ghi chép ở trang cuối cùng của tập thơ “Nhật ký trong tù”, lãnh tụ Hồ Chí Minh viết: “Ý nghĩa của văn hóa: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng, toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Từ nhận thức ấy, Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm về văn hóa: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”9. Có thể nói, đây là một cách tiếp cận văn hóa từ ý nghĩa khái quát, đặc trưng nhất của nó, một định nghĩa cô đọng và chính xác về văn hóa.
Tác giả Phan Ngọc trong cuốn “Cơ sở bản sắc văn hóa Việt Nam” viết: “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cải mô hình tồn tại trong biểu tượng. Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cu nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”10. Từ những khái niệm nêu trên, nhóm nghiên cứu rút ra một số đặc điểm của văn hóa như sau: Về tính đa dạng - thay đổi, văn hóa có sự đa dạng về bản chất, hình thức, và nội dung. Nó luôn thay đổi theo thời gian và nơi chốn.
Về tính truyền thống – sáng tạo, văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hóa là sự sáng tạo của con người để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống. Về nhân cách, văn hóa có ảnh hưởng đến con người, hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Về tương tác – kế thừa, văn hóa ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quốc gia, vùng miền khác nhau.
Văn hóa được kế thừa và phát triển từ thế hệ này sang thế hệ khác. 8 Trần Ngọc Thêm, “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, Nxb Giáo dục, tr. 9 Nxb Chính trị quốc gia,“Hồ Chí Minh: Toàn tập”, t.431, 2002 10 Phan Ngọc, “Cơ sở bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nxb. Văn hóa – Thông tin, HN, 1998.
17 Qua những khái niệm và đặc điểm trên, nhóm tác giả xin rút ra định nghĩa văn hóa theo cách hiểu của mình: “Văn hóa là tổng thể nói chung của những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử”. Khái niệm công sở Công sở là một thuật ngữ phổ biến để mô tả môi trường làm việc chuyên nghiệp và hành chính trong các tổ chức và doanh nghiệp. Trong một môi trường công sở, các quy định, quy trình và nền văn hóa làm việc được xây dựng để đảm bảo sự hiệu quả, tính linh hoạt và sự chuyên nghiệp. Đây là nơi mà người lao động gặp nhau để thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu chung của tổ chức, thông thường theo một cách tổ chức và chuẩn mực nhất định.
Công sở thường bao gồm các bộ phận như văn phòng, quản lý nhân sự, tài chính, kế toán và tiếp thị, với mỗi bộ phận có vai trò cụ thể trong việc hoạch định, thực thi và theo dõi các hoạt động của tổ chức. Theo “Giáo trình Kỹ thuật tổ chức công sở” của Học viện Hành chính Quốc gia, công sở được hiểu là “tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được nhà nước công nhận, bao gồm CBCC, CBCC được tuyển dụng, bổ nhiệm theo quy chế CBCC hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước. Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng”11. Theo cụm tác giả Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn cho rằng “Công sở được xem là một bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước.
Công sở từ góc nhìn này bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước các cấp và các cơ quan hành chính sự nghiệp được thành lập theo luật định, hoạt động nhân danh pháp nhân công quyền để thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc phục vụ nhiệm vụ công”12. Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả nhận thấy về khái niệm công sở còn được tiếp cận theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Tiếp cận theo nghĩa rộng, công sở bao gồm là các cơ quan, tổ chức trong bộ máy nhà nước nói chung, bao gồm các cơ quan thuộc hệ thống lập pháp, hành pháp, tư pháp… Từ cách tiếp cận hẹp, công sở chỉ bao gồm các cơ quan trong hệ thống hành pháp (bộ máy hành chính nhà nước), thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước. Trong góc độ hẹp hơn nữa, công sở được hiểu đồng nhất với “trụ sở”, nói đến công sở là nói đến địa điểm nơi mà 11 Học viện Hành chính Quốc gia (2002), “Kỹ thuật tổ chức công sở”, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 12 Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn (2002), “Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính”, Nxb.
Lao động, Hà Nội. 18 công sở đặt trụ sở, công sở bao gồm tất cả các yếu tố hiện hữu như kiến trúc, phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động của công sở. Trong Điều 70, Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc”13. Xét theo nghĩa này, công sở được hiểu là nơi hội tụ đầy đủ mọi điều kiện, phương tiện để thực thi công vụ, thực hiện nhiệm vụ được giao của một cơ quan trong cả hệ thống chính trị.
Công sở bao gồm các sản phẩm vật chất như công trình kiến trúc, thiết kế nhà cửa, phòng làm việc, bố trí thiết kế trang trí. Trong bài nghiên cứu của mình, nhóm tác giả rút ra khái niệm về công sở thường được hiểu là “Một môi trường làm việc chuyên nghiệp và hành chính trong các tổ chức và doanh nghiệp”. Đây là nơi mà nhân viên cùng nhau thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu của tổ chức, thường theo các quy trình và chuẩn mực nhất định. Môi trường công sở thường được đặc trưng bởi sự chú trọng vào hiệu suất, tính linh hoạt, và sự chuyên nghiệp trong giao tiếp và hành vi làm việc.
Các đặc điểm khác có thể bao gồm các bộ phận như văn phòng, quản lý nhân sự, tài chính, kế toán, và tiếp thị, cùng với các cấp bậc và hệ thống lãnh đạo phân cấp. Mặc dù có các đặc điểm chung, môi trường công sở vẫn có thể đa dạng và phong phú, phản ánh sự đa dạng trong cách tổ chức và quản lý từng doanh nghiệp.