Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và phần phụ lục. - Phần nội dung đƣợc chia làm 3 chƣơng: + Chƣơng I: Lịch sử địa lý, văn hóa truyền thống của tỉnh Quảng Ngãi. + Chƣơng II: Đặc điểm văn bia tỉnh Quảng Ngãi. + Chƣơng III: Giá trị nội dung văn bia tỉnh Quảng Ngãi.
- Phần phụ lục bao gồm: + Mục lục bảng thống kê văn bia tỉnh Quảng Ngãi. +Bản dịch một số văn bia tiêu biểu với nguyên văn chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa. + Ảnh chụp thác bản văn bia tỉnh Quảng Ngãi lƣu trữ tại viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội. + Ảnh chụp thác bản và Bản ảnh chụp bia tại một số di tích qua các đợt chúng tôi khảo sát điền dã.
7 Chƣơng 1 LỊCH SỬ ĐỊA LÝ, VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TỈNH QUẢNG NGÃI 1. Lịch sử địa lý tỉnh Quảng Ngãi 1. Vài nét về đất nước, con người Quảng Ngãi Quảng Ngãi là một tỉnh nằm ở vùng Duyên hải Nam trung bộ của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quảng Ngãi trải dài từ vĩ tuyến 14o32‟ - 15o25‟ vĩ Bắc, 108o06‟ - 109o04‟ kinh Đông, tựa vào dãy núi Trƣờng Sơn ở phía Tây, hƣớng ra biển Đông với chiều dài bờ biển 130 km, với vùng lãnh hải rộng lớn trên 11.000 km vuông và 5 cửa biển chính là Sa Cần, Sa Kỳ, Cửa Đại, Mỹ Á và Sa Huỳnh ,vốn giàu nguồn lực hải sản với nhiều bãi biển đẹp.
Trong đó cảng Sa Kỳ là nơi đã phát hiện dấu tích nhiều con tàu cổ bị đắm. Năm 2013, Sở VHTT và DL đã tiến hành khai quật con tàu cổ có niên đại khoảng thế kỷ XIII- XIV [6, tr. Phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi giáp tỉnh Quảng Nam với chiều dài đƣờng địa giới 98 km, phía Nam giáp tỉnh Bình Định với chiều dài đƣờng địa giới 83 km, phía Tây giáp tỉnh Kon-Tum với chiều dài đƣờng địa giới 79 km. Nằm ở vị trí trung độ của cả nƣớc, Quảng Ngãi cách Thủ đô Hà Nội 890 km về phía Bắc và cách Tp Hồ Chí Minh 824 km về phía Nam theo đƣờng Quốc lộ 1A [91].
Quảng Ngãi có địa hình tƣơng đối phức tạp, có xu hƣớng thấp dần từ Tây sang Đông với các dạng địa hình đồi núi đồng bằng xen kẽ. Khí hậu ở Quảng Ngãi là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 25-26,9 độ c. Khí hậu nơi đây phân hóa thành hai mùa rõ rệt gồm có mùa mƣa và mùa nắng. Đất đai trong địa bàn tỉnh đƣợc chia làm 9 nhóm đất chính với 25 đơn vị đất và 68 đơn vị đất phụ.
Tỉnh Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.131,5km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nƣớc, bao gồm 14 huyện, thành phố, trong đó có 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo. Dân số toàn tỉnh Quảng Ngãi năm 2011 là 1. Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền 8 Trung đƣợc Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của Việt Nam. Tỉnh Quảng Ngãi tái lập vào ngày 1/7/1989 trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định [91] 1.
Sự thay đổi diên cách của tỉnh Quảng Ngãi qua các thời kỳ Vào năm Tân Mão, Hồng Đức 2 (1471) dƣới triều Lê Sơ, quân Đại Việt lấy lại các phủ Thăng, Hoa, Tƣ, Nghĩa chiếm kinh đô Chà Bàn của vƣơng quốc Chămpa (Nay thuộc tỉnh Bình Định). Tháng 6 âm lịch năm đó, thiết lập đạo Thừa tuyên Quảng Nam (Nay là Tp Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định), gồm 3 phủ Thăng Hoa, Tƣ Nghĩa và Hoài Nhơn. Tỉnh Quảng Ngãi thuộc phủ Tƣ Nghĩa. Năm 1527, Mạc Đăng Dung chiếm Thăng Long lập nên vƣơng triều Mạc.
Năm 1533, Nguyễn Kim là bố vợ Trịnh Kiểm nổi lên chống nhà Mạc tôn Lê Duy Ninh lên làm vua, lấy hiệu là Lê Trang Tông, hình thành cục diện Nam- Bắc triều, mở ra thời Lê Trung hƣng trong lịch sử Việt Nam. Năm 1545, tƣớng của Nguyễn Kim là Bùi Tá Hán- một danh nhân trong lịch sử tỉnh Quảng Ngãi, đƣợc giao nhiệm vụ trấn thủ Quảng Nam (bao gồm các tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định ngày nay). Năm 1558, Nguyễn Hoàng nhận nhiệm vụ trấn thủ vùng Thuận Hóa. Năm 1602, trấn Quảng Nam đổi thành dinh Quảng Nam, phủ Tƣ Nghĩa đổi thành phủ Quảng Nghĩa Năm 1771, khởi nghĩa Tây Sơn do ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ khởi đầu từ Bình Định.
Năm 1776, nhà Tây Sơn đổi phủ Quảng Nghĩa thành phủ Hoài Nghĩa. Năm 1803 vua Gia Long đổi phủ Hoài Nghĩa trở lại tên cũ là phủ Quảng Nghĩa. Năm Gia Long thứ 6 (1807) xã Cù Mông (sau đổi là xã Chánh Mông rồi Chánh Lộ) đƣợc chọn làm nơi xây dựng tỉnh lỵ Quảng Ngãi. Năm 1832, tỉnh Quảng Nghĩa đƣợc thành lập, là một trong 31 tỉnh của nƣớc Đại Nam.
Năm 1834, triều Nguyễn lấy Kinh sƣ Phú Xuân làm trung tâm, chia cả nƣớc thành các Trực kỳ, trong đó Tả trực gồm 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Năm 1884, với hai bản Hiệp ƣớc năm Qúy Mùi và Giáp Thân trong đó có tỉnh Quảng Ngãi đã 9 trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Từ thời các chúa Nguyễn cho đến cuối thế kỷ XIX tỉnh Quảng Ngãi luôn là địa phƣơng quản lý các đảo Hoàng Sa và Trƣờng Sa thông qua các đội binh thuyền Hoàng Sa và Bắc hải [91]. Từ năm 1909 đến năm 1945 miền Trung châu Quảng Ngãi đƣợc chia thành 4 phủ là Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tƣ Nghĩa và Mộ Đức, hai huyện Nghĩa Hành và Đức Phổ gồm 21 tổng, 403 làng.
Miền thƣợng du đƣợc chia thành 4 nha gồm: Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ với 27 tổng, 199 nóc1. Thời kỳ đầu của cuộc khởi nghĩa 1945, tỉnh Quảng Ngãi đƣợc đổi tên thành tỉnh Lê Trung Đình, phủ Tƣ Nghĩa đổi thành phủ Nguyễn Thụy, xã Chánh Lộ lấy tên xã Nguyễn Viện v.v… Về tổ chức, lập liên xã bỏ các tên làng cũ. Nhƣng sau một thời gian thay danh hiệu tỉnh, huyện, tổng, xã đều lấy lại tên cũ. Các phủ, huyện, nha trong tỉnh đều gọi tên thống nhất là huyện, gồm tất cả 10 huyện, tổng, 124 liên xã.
Đảo Lý Sơn nhập vào huyện Bình Sơn nhƣng từ năm 1952 bị quân Pháp chiếm đóng sáp nhập hải đảo vào thị xã Đà Nẵng. Từ 1/1/1954 đến năm 1971, tỉnh Quảng Ngãi đƣợc chia thành 10 quận gồm Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tƣ Nghĩa, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long và Ba Tơ. Từ đầu 1971 địch mở các cuộc càn quét, tiếp tục thực hiện chƣơng trình “bình định”, giành dân, lấn đất. Trƣớc tình hình đó Tỉnh ủy Quảng Ngãi xác định nhiệm vụ của phong trào cách mạng toàn tỉnh là phải tập trung1 chống “bình định”, diệt ác phá kìm đồng thời tiến hành đẩy mạnh các chiến dịch.
Phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng phát triển khá mạnh, nhất là phong trào học sinh và Phật giáo ở thị xã Quảng Ngãi. Đến ngày 24/3/1975 toàn tỉnh Quảng Ngãi đƣợc giải phóng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc. Sau 1975 theo nghị quyết TW số 245/NQTW của BCHTW Đảng và nghị quyết của Quốc hội khóa V, về việc bãi bỏ cấp khu, hợp nhất các tỉnh. Theo đó tỉnh Nghĩa Bình đƣợc thành lập trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định.
Làng của các dân tộc Hrê, Ca Dong gọi là Plei, Plây, ở dân tộc Cor gọi là Nóc. 10 Ngày 1/7/1989 tỉnh Quảng Ngãi đƣợc tái lập trên cơ sở tách tỉnh Nghĩa Bình thành hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định nhƣ cũ. Khi tách ra, tỉnh Quảng Ngãi có 10 đơn vị hành chính gồm thị xã Quảng Ngãi và 9 huyện: Bình Sơn, Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, Mộ Đức, Đức Phổ, Trà Bồng, Sơn Hà, Minh Long và Ba Tơ. Ngày 1/1/1993 huyện Đảo Lý Sơn đƣợc thành lập.
Năm 1994 tiếp tục thành lập huyện Sơn Tây trên cơ sở tách ra từ huyện Sơn Hà. Ngày 1/12/2003 thành lập huyện Tây Trà trên cơ sở tách ra từ huyện Trà Bồng. Ngày 26/8 năm 2005, Thị xã Quảng Ngãi đƣợc nâng lên Thành phố Quảng Ngãi theo Nghị định của Chính phủ [91]. Văn hóa lịch sử Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử lâu đời.
Nơi đây có nền văn hóa Sa Huỳnh nổi tiếng thời Tiền - Sơ sử [35] và văn hóa Chămpa với nhiều dấu tích kiến trúc tháp cổ. Đặc biệt là hệ thống Trƣờng Lũy xây dựng bằng đá, kéo dài hàng trăm km qua nhiều huyện xã, đã đƣợc Bộ Văn hóa Thể thao - Du lịch xếp hạng di tích Quốc gia ngày 10/3/2011. Quảng Ngãi là nơi có hai danh thắng nổi tiếng là núi Ấn sông Trà. Quảng Ngãi là quê hƣơng của nhiều danh nhân thời phong kiến nhƣ, Bùi Tá Hán, Lê Văn Duyệt, Trƣơng Đăng Quế, Trần Công Hiến.
Quảng Ngãi cũng là quê hƣơng của các lãnh tụ Phạm Văn Đồng, Trần Đức Lƣơng và nhiều lão thành cách mạng xuất sắc. Nhiều văn nghệ sĩ thành danh có đóng góp tiêu biểu cho cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Nơi đây còn lƣu giữ nhiều lễ hội văn hóa truyền thống nhƣ Lễ hội nghinh cá Ông, Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, Lễ hội đâm trâu, Lễ hội cầu ngư, Lễ hội đua thuyền truyền thống…. Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, diễn ra tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Trong tỉnh Quảng Ngãi đã có 29 di tích Quốc gia và 185 di tích cấp Tỉnh ( bao gồm các di tích đã đƣợc xếp hạng và có quyết định bảo vệ).
Qua kết quả tìm hiểu thác bản văn bia lƣu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm và khảo sát điền dã tại các di tích trong tỉnh chúng tôi thấy các loại hình di tích của Quảng Ngãi rất phong phú, trải dài theo thời gian qua các thời kỳ lịch sử. Trong đó bia đá là loại di tích đặc biệt. Bia đá ở các từ đƣờng, mộ chí, danh nhân cho biết về các danh nhân đã có nhiều công lao đóng góp trong lịch sử mà phạm vi hoạt động không chỉ trong tỉnh Quảng Ngãi. Văn bia còn nói về tín ngƣỡng tập quán sinh hoạt của cộng đồng dân cƣ trong tỉnh.
Đó là việc khởi dựng các ngôi chùa, đình miếu, hội quán. Chúng ta sẽ biết rõ hơn về quá trình di dân khởi nghiệp từ các tỉnh Bắc trung bộ Việt nam, cung cấp những thông tin cho việc nghiên cứu lịch sử về việc cộng cƣ của khối đại đoàn kết dân cƣ trong tỉnh trƣớc những biến cố đã xảy ra trong lịch sử.