Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục. Phần Nội dung của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề văn bản học của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集.Giới thiệu các dị bản của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘 編總集, so sánh đối chiếu để lựa chọn thiện bản. Tiếp theo tìm hiểu, đánh giá nhận xét về thiện bản, đồng thời nghiên cứu vấn đề tác giả. Chƣơng 2: Giới thiệu nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘 編總集.
Giới thiệu sơ lƣợc những ý nghĩa, thông điệp truyền tải của các đơn vị tác phẩm trong văn bản, khái quát nội dung, phƣơng thức hành trì và lợi ích trong đời sống của các nghi lễ đƣợc ghi chép. Chƣơng 3: văn bản Ứng Phó Dư Biên Tổng Tập 應赴餘編總集 nhìn từ góc độ văn hóa Phật giáo. Tìm hiểu và đánh giá giá trị của tác phẩm Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 trên phƣơng diện văn hóa Phật giáo, đồng thời liên hệ các nội dung của văn bản với giáo lý và kinh điển Phật giáo. Phụ lục: Giới thiệu bản dịch chú và đính kèm bản chụp văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集.
8 CHƢƠNG 1 KHẢO SÁT VĂN BẢN ỨNG PHÓ DƯ BIÊN TỔNG TẬP 應赴餘編總集 Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện tìm thấy 05 văn bản đƣợc lƣu trữ tại Thƣ viện Quốc gia, Viện nghiên cứu Hán Nôm và Thƣ viện Huệ Quang. Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 trải qua thời gian dài lƣu truyền trong nhân gian, đến nay những bản còn tồn lại có nhiều sự khác biệt về hình thức, có bản còn đầy đủ, có bản bị rách thiếu, có bản mất chữ này, có bản thiếu chữ kia. Chính vì vậy trong chƣơng 1, chúng tôi sẽ đối chiếu các văn bản hiện còn để tìm ra một thiện bản tốt nhất cho việc dịch chú và nghiên cứu của mình. Sự ra đời và phạm vi ứng dụng của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 1.
Sự ra đời của văn bản Theo lời tiểu dẫn trong bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 lƣu trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm kí hiệu AB.568 viết: 夫,應赴一事如,保塘,放赦,掉船, 召靈,附幡,請孤魂等.國音文.向來諸方建斎醮者,多為互用,文之句讀不明,詞章 鄙俗,意者前人著述有年未付之梓,三抄失本致,失其眞矣. 成泰,乙未閏,大力加訂正,滕寫成篇,用刊于板,已壽其來. 興福柱持正大謹識 Tạm dịch là: Ôi! Hết thảy các việc ứng phó như: Bảo đường, Phóng xá, Chèo thuyền, Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh cô hồn. Quốc âm văn, cho đến các phương tiện trong Tạp tiếu, phần nhiều là dùng lẫn nhau, câu cú trong văn chẳng rõ ràng, ngôn từ rẻ mạt, những ý tứ của bậc tiền nhân trước thuật chưa được đem khắc in, lâu dần dẫn đến tam sao thất bản, mất đi độ chân thực vậy.
Niên hiệu Thành Thái, tháng nhuận năm Ất Mùi, nỗ lực đính chính, sao chép tập hợp thành thiên, cho khắc vào bản ván để giữ gìn đến đời sau. Trụ trì Chùa Hưng Phúc, Chính Đại cẩn ghi. 9 Đại ý nói rằng các việc ứng phó nhƣ Bảo đường, Phóng xá, Chèo thuyền, Triệu linh, Phụ phan, Thỉnh âm hồn. câu chữ đọc thì không tỏ, lời lẽ thì thô thiển, không hiểu đƣợc ý của bậc tiền nhân, sao chép nhiều lần làm sai đi với bản gốc, nên tháng nhuận năm Ất Mùi niên hiệu Thành Thái (năm 1895), (Chính) Đại (tôi) nỗ lực đính chính lại, sao chép thành quyển, rồi cho in khắc để truyền lại cho đời sau.
Lời tiểu dẫn này cho thấy hiện thực về các bản khoa nghi bị sai lệch, không thống nhất, sử dụng lẫn lộn nên tác giả đã đính chính lại, sau đó cho in thành bản vào niên hiệu Thành Thái (tháng 5 nhuận năm 1895). Bản khắc ván này, theo văn bản hiện tồn có ghi lại là lƣu trữ bản ván tại chùa Hƣng Phúc nhƣ hình ảnh sau: Hình 1. Phạm vi ứng dụng của văn bản Xét trên bình diện thực tế các chùa Bắc bộ nói riêng, cụ thể là vùng Kinh Bắc và khu vực tỉnh Hà Tây cũ, các khoa nghi trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện nay đƣợc sử dụng rộng rãi về mặt hình thức và các nội dung tƣơng tự. Nhƣng vì một số lí do mà nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 bị mai một phần lớn.
Tại nơi bản địa của văn bản là Chùa Hƣng Phúc, thôn Ngƣ Đại, xã Xuân Lôi, huyện Quế Võ cũng không đƣợc phổ biến và duy 10 trì truyền thống. Khi đến tận chùa Hƣng Phúc khảo sát thực tế, chúng tôi gặp một khóa lễ cầu siêu. Nhƣng nhà sƣ trụ trì chùa hiện nay không biết về khoa nghi độ âm chữ Hán, mà sử dụng khoa cúng thông dụng đã đƣợc dịch nghĩa. Khi đƣợc hỏi, sƣ thầy trụ trì cũng không biết về văn bản này.
Ở các ngôi chùa khác trong vùng Kinh Bắc và khu vực Bắc Bộ, một số khoa nghi đƣợc sử dụng phổ biến nhƣng toàn bộ văn bản không đƣợc dùng rộng rãi. Những lý do dẫn đến hiện tƣợng này bao gồm: Thứ nhất, văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 chủ yếu ghi chép tóm tắt các khoa nghi trong Thủy lục chư khoa 水陸諸科 và Tạp tiếu khoa 雜醮科, không có đầy đủ nội dung từ đầu tới cuối của một khoa cúng. Nếu một khóa lễ độ âm thông thƣờng bao gồm có khoa Tiếp linh 接靈, Cúng Phật 供佛, Triệu linh 召靈, Qui vong 歸亡 và Chúc thực 祝食, Cúng cô hồn 供孤魂(cúng cháo), thì trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 lại chỉ có phần Triệu linh khoa 召靈 科, Chèo thuyền khoa 掉船科, cúng Cô hồn khoa 供孤魂科, và Khai quang tẩy uế 開光洗濊. mà không thấy có xuất hiện các khoa cúng khác.
Thứ hai, các khoa nghi trong Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 nhƣ Phóng xá 放赦, Tiếp linh 攝靈, Phụ cô hồn bảng 附孤魂榜 chỉ là bản đính chính những phần nào hiện tại (năm 1895) bị sai sót so với những bản chính đƣợc thông hành thời đó nhƣ Tạp tiếu chư khoa 水陸諸科, Tam giáo chính độ tập yếu 三教正 度集要. Sau khi đính chính lại các bản bị sai lệch, tác giả nhận thấy một số bài hay, ý nghĩa cần giữ gìn, lƣu truyền lại nhƣ Ngự vấn 御問, Phi lai tự phú 飛來寺賦 nên đã chép cả vào. Văn bản còn ghi chép các tác phẩm do chính tác giả sáng tác Bồng lai văn 蓬來文, Bảo đường ca 保塘歌, Bách hoa văn 百花文 để lƣu truyền. Thứ ba, do thời gian lƣu truyền dài lâu cùng với sự biến thiên của lịch sử, để phù hợp với xã hội ngày càng phát triển, có thể những khoa cúng đƣợc rút ngắn lại, chỉ có phần khoa nghi do các vị Pháp sƣ hành lễ mà bỏ qua các bản phụ nhƣ Dâng sớ, bản Nôm nhƣ Chèo thuyền, trai đần ban sắc ca cách.
Chính vì thế, một vài bản trong văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 không đƣợc phổ rộng. Giới thiệu các Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 hiện tồn Nhóm văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 bao gồm 05 dị bản đƣợc lƣu trữ tại các Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thƣ viện Quốc gia, Thƣ viện Huệ Quang. Tất cả các dị bản này hoàn toàn giống nhau, từ hình thức in khắc đến nội dung, chỉ khác nhau ở dung lƣợng dài ngắn. Chúng tôi sẽ khảo sát, mô tả các đặc điểm văn bản học của 5 văn bản theo ba nhóm theo tiêu chí nơi lƣu trữ.
Nhóm Văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應赴餘編總集 ở Viện nghiên cứu Hán Nôm Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện lƣu trữ 02 bản Ứng phó dư biên tổng tập 應 赴餘編總集 mang ký hiệu AB. Văn bản mang kí hiệu AB.568 Văn bản gồm 128 trang (64 tờ), khổ sách 25x14cm. Văn bản gồm hai phần tổng tập và biệt tập, hay còn gọi là phần chính biên và phần phụ biên. Bản này ghi chép đầy đủ các khoa nghi bằng chữ Hán và chữ Nôm.
Ngoài ra phần biệt tập còn chép những bài phú và văn sách (ngự vấn) bằng chữ Hán. Dựa trên thông tin đƣợc in trên trang bìa trong của sách có ghi 成泰七年閏月 訂刊 Thành Thái thất niên nhuận nguyệt đính san cho thấy văn bản đƣợc đính chính lại và cho san khắc vào niên hiệu Thành Thái năm thứ 7, tháng nhuận tức là tháng 5 nhuận năm 1895. Trang bìa phụ sách cung cấp các thông tin “總集 保塘歌, 攽赦本, 掉船本, 召 靈嘆, 附幡文, 開光式, 請孤魂文國音. 共二十七帋” (hàng phải); 又附別集目次 公同文, 弟二文, 九重文, 水晶文, 八位文, 柳仙文, 龍神文, 百花文, 蓬萊文.
共十 六帋. Từ đó cho thấy kết cấu của văn bản gồm có 2 phần: Phần tổng tập có các khoa Bảo đường ca, Phóng xá bản, Chèo thuyền bản, Triệu linh thán, Phụ phan văn, Khai quang thức, Thỉnh cô hồn văn quốc âm, cộng lại là 27 tờ; Phần biệt tập có Công đồng văn, Đệ nhị văn, Cửu trùng văn, Thủy tinh văn, Bát vị văn, Liễu Hạnh văn, Long thần văn, Bách hoa văn, Bồng lai văn, gồm 16 tờ. 12 Phần mục lục của sách không ghi tên 02 bài Phi Lai tự phú và Ngự vấn, nhƣng trong nội dung văn bản có chép 2 bài này. Trang cuối cùng của sách có ghi: 成泰丙申年,中秋節,春雷興福寺,主人普齋 訂刊 Thành Thái Bính Thân niên, trung thu tiết; Xuân Lôi Hưng Phúc tự, chủ nhân Phổ Trai đính san, nghĩa là sách đƣợc đính chính, san bổ xong vào tết trung thu năm Bính Thân, niên hiệu Thành Thái, (tức là tháng 8 năm 1896) sau 01 năm so với thời điểm đƣợc ghi ở lời tiểu dẫn (tháng 5 nhuận năm 1895); ngƣời đứng ra làm việc này là chủ Chùa Hƣng Phúc, hiệu Phổ Trai.
Quá trình 01 năm 3 tháng sao chép, đính chính và cho in khắc, trụ trì chùa Hƣng Phúc đã tập hợp các phần nội dung của văn bản Ứng phó dư biên tổng tập 應 赴餘編總集 thành 1 cuốn sách. Trang cuối sách ghi chép các thông tin về thời gian, địa điểm và ngƣời đứng ra in khắc cùng ấn triện khẳng định sự chính thống và nguồn gốc của văn bản này. Dòng cuối cùng trên trang lạc khoản có hàng chữ: 道属河柳社阮熙光甫奉書 Đạo Chúc, Hà Liễu xã, Nguyễn Hi Quang phủ phụng thư. Từ thông tin này cho thấy văn bản AB.568 đƣợc một vị tên Nguyễn Hy Quang ở xã Hà Liễu (một xã cùng Tổng Bất Phí, huyện Võ Giàng) vâng mệnh viết.
Có thể trong quá trình viết chữ, ông Nguyễn Hy Quang đã tự ý chép thêm 02 bài Ngự vấn và Phi lai tự phú vào văn bản; Hoặc có thể do chính tác giả trong quá trình in khắc đã tự thêm vào hai bài này và ông Nguyễn Hy Quang chỉ vâng mệnh viết chữ vào văn bản. Chƣa xác định đƣợc lí do thực sự của sự chênh lệch số bài và trang sách tăng lên (128 trang) so với số trang sách đƣợc ghi tại phần mục lục (43 tờ - 86 trang) Về mặt hình thức, văn bản AB.568 còn khá toàn vẹn, không bị rách nát.