Tổng quan luận án

Công trình "Nghiên cứu vai trò nội soi trung thất trong chẩn đoán bản chất u trung thất" được tác giả Ngô Quốc Hưng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Lê Nữ Thị Hòa Hiệp và TS. Vũ Hữu Vĩnh, bảo vệ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2017. Luận án thuộc chuyên ngành Ngoại lồng ngực (mã số: 62720124), hướng nghiên cứu lâm sàng can thiệp phẫu thuật chẩn đoán và định lượng mô bệnh học.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Khối u vùng trung thất xuất hiện ở mọi lứa tuổi, bao gồm cả u nguyên phát và thứ phát (thường liên quan đến dẫn lưu bạch huyết từ u phổi, đường tiêu hóa hoặc ung thư tinh hoàn). Khối choán chỗ trung thất (gồm u hoặc hạch) tiến triển âm thầm, không có triệu chứng đặc hiệu ở giai đoạn sớm, khiến khoảng một phần ba số trường hợp chỉ được phát hiện tình cờ qua chụp X-quang định kỳ và phần lớn người bệnh đến khám khi bệnh đã tiến triển xa. Việc chẩn đoán bản chất mô bệnh học có ý nghĩa quyết định phác đồ điều trị (phẫu thuật triệt để, hóa trị hoặc xạ trị) và tiên lượng sống còn.

Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh như chụp cắt lớp điện toán (CLĐT), chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp cắt lớp tán xạ Positron (PET-CT) chỉ cung cấp định hướng vị trí, kích thước, cấu trúc và mức độ xâm lấn. Các phương pháp lấy mẫu bệnh phẩm khác như sinh thiết bằng kim xuyên thành ngực, nội soi phế quản, phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) hay mở ngực sinh thiết đều có những hạn chế nhất định về độ chính xác, tỷ lệ âm tính giả hoặc mức độ xâm lấn và biến chứng. Nội soi trung thất (NSTT) được xem là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán mô học u, hạch trung thất và xếp giai đoạn ung thư phổi. Tại Việt Nam, kỹ thuật NSTT đã bắt đầu triển khai tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch nhưng chủ yếu áp dụng sinh thiết hạch. Khoảng trống nghiên cứu thực tiễn lúc bấy giờ là việc ứng dụng NSTT để sinh thiết lấy mẫu các khối u trung thất giai đoạn muộn không còn khả năng cắt bỏ triệt để nhằm tránh điều trị mù, đồng thời xác lập các yếu tố cận lâm sàng ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu: "Tỷ lệ thành công của nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất là bao nhiêu? Và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này?"

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm 3 nội dung:

  1. Mô tả đặc điểm lâm sàng ở những người bệnh có u và hạch vùng trung thất trước và giữa.
  2. Đánh giá hiệu quả của nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa.
  3. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả nội soi trung thất lấy mẫu chẩn đoán bản chất khối u vùng trung thất trước và giữa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân có khối u và hạch vùng trung thất trước và giữa được chỉ định phẫu thuật nội soi trung thất để sinh thiết lấy mẫu chẩn đoán mô bệnh học.
  • Không gian nghiên cứu: Khoa Ngoại Lồng ngực, Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Thời gian nghiên cứu: Bắt đầu triển khai từ tháng 10 năm 2010 và theo dõi, thu thập số liệu đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu và trường phái lý thuyết

Tác giả điểm lại toàn diện lịch sử giải phẫu, bệnh học và các kỹ thuật chẩn đoán trung thất qua các thời kỳ:

  1. Quan niệm phân chia khoang trung thất:

    • Quan niệm cổ điển: Chia trung thất thành 2 phần (trước và sau) qua mặt phẳng đứng đi ngang khí quản và hai phế quản chính.
    • Quan niệm giải phẫu: Chia làm 4 phần gồm trung thất trên, trước, giữa và sau (Phạm Đăng Diệu, 2008).
    • Quan niệm ngoại khoa: Shields (1972) và Raymond D (2005) chia làm 3 khoang: trung thất trước (khoang trước mạch máu), trung thất giữa (khoang tạng) và trung thất sau (khoang cạnh sống). Phân chia của Shields là hệ thống được luận án sử dụng làm quy ước định vị tổn thương.
  2. Đặc điểm bệnh lý u và hạch theo vùng phẫu thuật:

    • Trung thất trước: U tuyến ức (80% có vỏ bao, 20% thâm nhiễm; gồm tế bào biểu mô tuyến ức và lympho không tăng sinh), ung thư tuyến ức (thường gặp ở người trên 50 tuổi, xâm lấn màng tim, màng phổi, mạch máu lớn theo Rosai, 2011), u lympho (Hodgkin và non-Hodgkin), u tế bào mầm (u quái chiếm 60-70% theo Sellke, 2005; u quái lành tính có mỡ, dịch, sụn, lông tóc; seminoma nhạy xạ trị, non-seminoma đáp ứng hóa trị).
    • Trung thất giữa: Hạch di căn ung thư (chủ yếu từ ung thư phổi, thực quản, thận, tinh hoàn, vú; Asamura H, 1999 lập sơ đồ tỷ lệ di căn hạch N2 theo từng thùy phổi); bệnh hạch do viêm (Sarcoidosis với dấu hiệu hạch to đối xứng 1-2-3; bệnh hạch do lao theo Rusch V, 2007).
  3. Các phương pháp chẩn đoán trước phẫu thuật:

    • X-quang ngực quy ước: Phí Ích Nghị (1998), Cao Trường Thọ (1974) ghi nhận 1/3 trường hợp u trung thất không có triệu chứng được phát hiện tình cờ trên X-quang, nhưng khoảng 1% người bệnh có triệu chứng mà X-quang bình thường.
    • Chụp CLĐT ngực: Đánh giá hình dạng, bờ, ranh giới, xâm lấn lớp mỡ, vôi hóa và tỷ trọng Hounsfield Unit (HU): mỡ (-50 đến -100 HU), dịch trong (5-10 HU), dịch hoại tử (10-30 HU), mô mềm (40-65 HU), xương/vôi (+200 đến +1000 HU). Ngấm thuốc cản quang xác định tăng tỷ trọng khi tăng >15-20 HU. Tiêu chuẩn hạch bất thường khi đường kính trục ngang >10 mm (Rusch V). Wang và cs ghi nhận CLĐT có độ nhạy 73,8%, độ đặc hiệu 70,1%, độ chính xác 71,7% trong xếp giai đoạn ung thư phổi. Gdeedo A. và cs (1993-1995) so sánh CLĐT và NSTT trên 100 bệnh nhân: CLĐT có độ nhạy 63%, đặc hiệu 57%, chính xác 59%, trong khi NSTT đạt độ nhạy 89%, đặc hiệu 100%, chính xác 97%. Antoch G (2003) ghi nhận 21% hạch <1 cm là ác tính và 40% hạch >1 cm là lành tính. Faber ghi nhận hạch >1 cm di căn 60-70%, hạch >1,5 cm di căn 85%.
    • PET và PET-CT: Sử dụng 18F-FDG. Metin và cs ghi nhận PET-CT đánh giá hạch cửa sổ phế chủ có độ nhạy 53%, đặc hiệu 91%, chính xác 80%. Tatci Ebru và cs ghi nhận độ nhạy 90%, đặc hiệu 55,17%, chính xác 50,94% trong chẩn đoán ác tính u trung thất.
    • MRI: Bắt nguồn từ phát hiện của Felix Bloch và Edward Purcell (1946, giải Nobel 1952), Laurent F (1999) chỉ ra MRI ưu thế trong chẩn đoán u thần kinh trung thất sau hình quả tạ lan vào ống sống và đám rối thần kinh cánh tay.
    • Nội soi phế quản: Gustav Killian (1897) dùng ống cứng, Ikeda (1970) giới thiệu ống mềm. Độ chính xác đạt 79,4% và tăng lên 98% khi có siêu âm hướng dẫn (Abeloff, 2004).
    • Mở trung thất trước: MC Neil và Chamberlain (1966) mô tả đường rạch cạnh ức trái 8 cm, cắt sụn sườn 2, độ nhạy 91%, tai biến 1-2,3%.
    • Sinh thiết kim xuyên thành ngực: Menetrier (1885), Martin và Ellis (1930) phát triển; Sellke F (2005) ghi nhận tỷ lệ tràn khí màng phổi 5-57%, biến chứng chảy máu khạc máu 8,4%.
  4. Lịch sử và các công trình nghiên cứu nội soi trung thất:

Tác giả / Năm Nội dung đóng góp / Công trình
Jehn & Nissen (1927) Thực hiện nội soi trung thất lần đầu tiên trong y văn.
Harken và cs (1954) Khảo sát trung thất cổ bên qua đường trên xương đòn bằng ống soi thanh quản.
Carlens (1959) Mô tả kỹ thuật nội soi trung thất chuẩn đường cổ qua hõm ức.
Specht (1965) Ứng dụng NSTT kiểm tra trung thất trước, sau và đánh giá ung thư thực quản.
Carlens (1965) Áp dụng NSTT trong đặt máy tạo nhịp và phẫu thuật cắt tuyến ức.
Ginsberg RJ (1987) Phát triển kỹ thuật NSTT cổ mở rộng khảo sát hạch cửa sổ phế chủ và rốn phổi.
Toni Lerut (1989) / Sortini (1994) Phát triển hệ thống nội soi trung thất có hỗ trợ video (VAM).
Hurtgen (2007) Giới thiệu kỹ thuật nội soi trung thất có tích hợp siêu âm (VAMUS).
Anthony Lemaire và cs (2006) Nghiên cứu 2.145 bệnh nhân: độ nhạy 86%, giá trị tiên đoán âm 94,5%, âm tính giả 5,1%.
Ginsberg RJ (1993) Thống kê 2.259 ca NSTT: biến chứng 2%, biến chứng nặng 0,3%, tử vong 0%.
De Leyn P và cs (2007) Nghiên cứu trong 23 năm với hơn 4.000 trường hợp NSTT tại Mỹ, tử vong 0%.
Wei và cs (2013) Nghiên cứu 1.970 ca: tử vong 30 ngày 0%, chảy máu nhiều 0,25%, chẻ xương ức 0,1%.
Feng Mao và cs (2012) Nghiên cứu 361 trường hợp tại Thượng Hải, khẳng định NSTT an toàn và tin cậy.
Mineo và cs (1997) Nghiên cứu 80 bệnh nhân có hội chứng chèn ép TMC trên: 5 ca chảy máu, 0 ca tử vong.
Jahangiri M và cs (1993) Thực hiện 34 ca chèn ép TMC trên: xác định 26 K phổi, 6 lymphoma, 1 ung thư tuyến ức.
Trương Thanh Thiết (2015) BV Phạm Ngọc Thạch (149 ca): độ nhạy 97,3%, đặc hiệu 100%, âm tính giả 2,7%, tử vong 0%.
Nguyễn Đức Thắng (2011) BV Trung ương Quân đội 108 (34 ca): chảy máu 2,94%, tử vong 0%.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án tập trung giải quyết việc chuẩn hóa chỉ định và quy trình kỹ thuật NSTT tại Bệnh viện Chợ Rẫy cho nhóm bệnh nhân có khối u trung thất trước và giữa, đặc biệt là các trường hợp u kích thước lớn, xâm lấn hoặc có hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên giai đoạn muộn không thể phẫu thuật cắt trọn. Công trình đối chiếu chi tiết đặc điểm hình ảnh CLĐT ngực với khả năng sinh thiết lấy mẫu trọn/không trọn, lượng máu mất và thời gian mổ để lượng hóa các yếu tố nguy cơ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và phân loại sử dụng

  • Khung giải phẫu định khu: Áp dụng hệ thống phân chia 3 khoang trung thất theo Shields (1972):
    • Trung thất trước (khoang trước mạch máu): Giới hạn trước bởi xương ức, sau bởi màng ngoài tim và các mạch máu lớn. Chứa tuyến ức, mạch máu vú trong, hạch lympho và mô mỡ.
    • Trung thất giữa (khoang tạng): Chứa tim, màng ngoài tim, quai và động mạch chủ lên, tĩnh mạch chủ trên - dưới, thân cánh tay đầu, khí quản, phế quản chính, hạch cạnh khí quản, động - tĩnh mạch phổi.
    • Trung thất sau (khoang cạnh sống): Giới hạn sau tim, chứa thực quản, động mạch chủ ngực, hệ tĩnh mạch đơn, ống ngực, chuỗi hạch giao cảm.
  • Phân loại hạch trung thất: Dựa trên sơ đồ vị trí hạch theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (American Joint Committee on Cancer - AJCC) và quy chuẩn kích thước hạch bất thường (>10 mm theo Rusch V).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế: Nghiên cứu lâm sàng mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc tiến cứu trên các bệnh nhân can thiệp phẫu thuật nội soi trung thất sinh thiết.
  • Kỹ thuật phẫu thuật nội soi trung thất:
    • Vô cảm: Gây mê nội khí quản toàn thân.
    • Tư thế: Bệnh nhân nằm ngửa, ưỡn cổ tối đa, có gối kê dưới vai.
    • Đường vào: Rạch da ngang khoảng 2-3 cm trên hõm ức 1 khoát ngón tay.
    • Phẫu tích: Tách cơ dưới móng dọc đường trắng giữa, bộc lộ mặt trước khí quản dưới eo tuyến giáp, dùng ngón tay bóc tách khoang trước khí quản đi xuống trung thất sau thân động mạch cánh tay đầu.
    • Thao tác nội soi: Đưa ống soi trung thất có gắn camera video (VAM) vào khoang trước khí quản, bóc tách các mạc cảnh và mô liên kết, bộc lộ các nhóm hạch cạnh khí quản phải (nhóm 4R), cạnh khí quản trái (nhóm 4L), trước khí quản và dưới chỗ chia khí phế quản (nhóm 7 - dưới carina). Tiến hành chọc hút thử bằng kim dài trước khi bấm sinh thiết mô u/hạch để tránh tổn thương mạch máu lớn. Cầm máu bằng đốt điện hoặc chèn gạc cầm máu tại chỗ.
+-------------------------------------------------------------------------+
|                  QUY TRÌNH THỰC HIỆN VÀ BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU              |
+-------------------------------------------------------------------------+
|  1. ĐÁNH GIÁ TRƯỚC MỔ (LÂM SÀNG & CẬN LÂM SÀNG)                         |
|     - Lâm sàng: Tuổi, giới, nghề nghiệp, tiền sử, triệu chứng cơ năng/  |
|       thực thể, hội chứng chèn ép TMC trên, hội chứng Claude Bernard-   |
|       Horner, hội chứng Pancoast-Tobias.                                |
|     - Cận lâm sàng: X-quang ngực, Chụp CLĐT ngực (vị trí, bờ, kích      |
|       thước, tỷ trọng HU, mức tăng quang >15-20 HU, xâm lấn mô mỡ, vị   |
|       trí hạch theo AJCC), Nội soi phế quản.                            |
|  2. CAN THIỆP PHẪU THUẬT NỘI SOI TRUNG THẤT (NSTT)                      |
|     - Đường rạch trên hõm ức -> Khoang trước khí quản -> Bộc lộ u/hạch. |
|     - Thao tác: Sinh thiết trọn hạch / Sinh thiết một phần khối u.      |
|     - Ghi nhận trong mổ: Vị trí lấy mẫu (4R, 4L, 7, u trung thất trước/ |
|       giữa), lượng máu mất (mL), thời gian mổ (phút), tai biến trong mổ.|
|  3. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VÀ GIẢI PHẪU BỆNH                                  |
|     - Hậu phẫu: Thời gian nằm viện, biến chứng sau mổ (chảy máu, liệt   |
|       thần kinh quặt ngược, tràn khí màng phổi/trung thất, nhiễm trùng).|
|     - Mô bệnh học: U tuyến ức, ung thư tuyến ức, u lympho, u tế bào     |
|       mầm, ung thư di căn (N2), hạch viêm (Lao, Sarcoidosis).           |
|     - Đánh giá hiệu quả: Độ nhạy, độ đặc hiệu, PPV, NPV, độ chính xác.   |
+-------------------------------------------------------------------------+

Xử lý số liệu và y đức

  • Thu thập biến số định tính và định lượng vào bệnh án mẫu chuẩn.
  • Phân tích thống kê: Tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định mối liên quan giữa các đặc điểm trên CLĐT với lượng máu mất, thời gian mổ và tỷ lệ sinh thiết thành công; xác định tỉ số chênh (OR), khoảng tin cậy 95% (KTC 95%).
  • Nghiên cứu tuân thủ các quy chuẩn y đức trong nghiên cứu y sinh học, bảo đảm an toàn cho người bệnh và được Hội đồng Đạo đức Bệnh viện Chợ Rẫy và Đại học Y Dược TP.HCM thông qua.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Chương Đặt vấn đề khẳng định vị trí trung tâm của NSTT trong phẫu thuật lồng ngực. Tác giả nêu rõ u trung thất có tỷ lệ ác tính cao khi có triệu chứng lâm sàng, đòi hỏi chẩn đoán giải phẫu bệnh chính xác để phân loại giai đoạn TNM (đặc biệt là hạch N2) trong ung thư phổi và chọn lựa phác đồ điều trị đa mô thức. Việc làm rõ năng lực chẩn đoán và độ an toàn của NSTT tại Bệnh viện Chợ Rẫy là tiền đề thực tiễn của công trình.

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này gồm 4 nội dung lớn:

  1. Phân vùng trung thất: Trình bày chi tiết 3 quan niệm giải phẫu (cổ điển 2 phần, giải phẫu học 4 phần theo Phạm Đăng Diệu, ngoại khoa 3 khoang theo Shields).
  2. U và hạch trung thất phân theo vùng phẫu thuật: Mô tả đại thể, vi thể, đặc điểm lâm sàng và hình ảnh của u tuyến ức, ung thư tuyến ức, lymphoma tế bào to (Rosai), u tế bào mầm (Sellke), bệnh hạch di căn ung thư phổi (Asamura H) và bệnh hạch viêm (Lao, Sarcoidosis).
  3. Chẩn đoán u trung thất: Phân tích triệu chứng cơ năng, thực thể (hội chứng tĩnh mạch chủ trên, Claude Bernard - Horner, Pancoast - Tobias); đánh giá giá trị và hạn chế của X-quang quy ước (Phí Ích Nghị, Cao Trường Thọ), CLĐT ngực (Wang, Gdeedo, Antoch, Faber, D'Amico), PET/PET-CT (Metin, Tatci Ebru), MRI (Laurent F), nội soi phế quản (Killian, Ikeda, Abeloff), mở trung thất trước (Chamberlain), mở ngực sinh thiết, phẫu thuật nội soi lồng ngực VATS (Jacobaeus) và sinh thiết kim qua da (Menetrier, Martin, Sellke).
  4. Tình hình nghiên cứu hiện nay về nội soi trung thất: Lược khảo các dấu mốc lịch sử từ Jehn & Nissen (1927), Carlens (1959), Specht (1965), Ginsberg (1987), Lerut (1989), Sortini (1994) đến Hurtgen (2007). Tổng hợp số liệu từ các nghiên cứu quốc tế lớn (Ginsberg RJ: 2.259 ca; De Leyn P: >4.000 ca; Wei: 1.970 ca; Luke: 1.000 ca; Anthony Lemaire: 2.145 ca; Park: 3.391 ca; Feng Mao: 361 ca; Hujala: 249 ca; Hsu Han Shui: 100 ca; Mineo: 80 ca; Jahangiri: 34 ca) và các công trình trong nước (Trương Thanh Thiết: 149 ca; Nguyễn Đức Thắng: 34 ca).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày chi tiết quy trình tiến hành:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân.
  • Kỹ thuật mổ NSTT chuẩn có video hỗ trợ qua hõm ức.
  • Hệ thống biến số nghiên cứu: đặc điểm hành chính (tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú), lâm sàng (triệu chứng cơ năng, thực thể), cận lâm sàng (X-quang, các thông số CLĐT: kích thước, bờ, ranh giới, xâm lấn, mức tăng quang HU, vị trí hạch theo danh mục bảng từ Bảng 3.1 đến 3.13), thông số phẫu thuật (vị trí sinh thiết, khả năng sinh thiết trọn/một phần/thất bại, thời gian mổ, lượng máu mất, tai biến trong mổ, diễn tiến hậu phẫu từ Bảng 3.14 đến Bảng 3.22).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu thống kê, đánh giá độ tin cậy và vấn đề y đức.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Cấu trúc kết quả được thể hiện qua hệ thống bảng số liệu chuyên biệt trong luận án:

  • Đặc điểm mẫu: Phân bố độ tuổi (Bảng 3.1), nơi cư trú (Bảng 3.2), nghề nghiệp (Bảng 3.3), tiền sử bệnh (Bảng 3.4), lý do nhập viện (Bảng 3.5).
  • Lâm sàng và cận lâm sàng: Triệu chứng cơ năng (Bảng 3.6), triệu chứng thực thể (Bảng 3.7), hình ảnh tổn thương trên X-quang (Bảng 3.8), đặc điểm tổn thương trên CLĐT (Bảng 3.9), giới hạn và mức độ tăng quang trên CLĐT (Bảng 3.10), biểu hiện chèn ép cơ quan lân cận trên CLĐT (Bảng 3.11), vị trí hạch trên CLĐT (Bảng 3.12), kết quả nội soi phế quản (Bảng 3.13).
  • Hiệu quả và thông số phẫu thuật: Khả năng sinh thiết lấy mẫu của NSTT (Bảng 3.14), các yếu tố trong mổ (Bảng 3.15), diễn biến hậu phẫu (Bảng 3.16), kết quả giải phẫu bệnh (Bảng 3.17), đánh giá kết quả phẫu thuật chung (Bảng 3.18).
  • Các yếu tố liên quan: Phân tích tương quan với khả năng sinh thiết trọn (Bảng 3.19), các yếu tố liên quan đến lượng máu mất (Bảng 3.20), thời gian phẫu thuật (Bảng 3.21), các yếu tố liên quan đến sinh thiết thất bại (Bảng 3.22).

Chương 4: Bàn luận (thông qua danh mục đối chiếu)

Luận án tiến hành so sánh đối chiếu kết quả với các tác giả trong nước và quốc tế:

  • So sánh phân bố nhóm tuổi và triệu chứng lâm sàng u trung thất (Bảng 4.1, 4.2).
  • So sánh vị trí sinh thiết u và hạch qua NSTT với các nghiên cứu khác (Bảng 4.3).
  • So sánh tỷ lệ thất bại trong sinh thiết nội soi trung thất (Bảng 4.4, 4.7).
  • So sánh kết quả chẩn đoán mô bệnh học, độ nhạy, độ đặc hiệu với y văn (Bảng 4.5).
  • So sánh tỷ lệ biến chứng (chảy máu, tổn thương thần kinh, rách màng phổi) và tỷ lệ tử vong của NSTT (Bảng 4.6).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  1. Hệ thống hóa cơ sở giải phẫu ngoại khoa Shields và quy chuẩn đánh giá hạch AJCC trong thực hành phẫu thuật nội soi trung thất tại Việt Nam.
  2. Xác lập mối tương quan có ý nghĩa lâm sàng giữa các dấu hiệu hình ảnh trên chụp CLĐT ngực (mức độ tăng quang >15-20 HU, dấu hiệu mất lớp mỡ xâm lấn, chèn ép mạch máu lớn) với mức độ an toàn (lượng máu mất, thời gian mổ) và khả năng thành công khi sinh thiết qua NSTT.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Chuẩn hóa quy trình phẫu thuật nội soi trung thất sinh thiết chẩn đoán u và hạch trung thất trước - giữa tại Bệnh viện Chợ Rẫy, khẳng định NSTT là phương pháp xâm lấn tối thiểu có tỷ lệ biến chứng thấp và độ chính xác mô bệnh học cao.
  2. Mở rộng phạm vi chỉ định của NSTT: Không chỉ dừng lại ở việc sinh thiết hạch để xếp giai đoạn ung thư phổi (N2) như các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, luận án chứng minh NSTT có thể thực hiện an toàn và hiệu quả để lấy mẫu chẩn đoán bản chất các khối u trung thất lớn, u trung thất giai đoạn muộn xâm lấn hoặc bệnh nhân có hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên, giúp người bệnh có chẩn đoán mô học chính xác phục vụ hóa trị và xạ trị, tránh phẫu thuật mở ngực không cần thiết hoặc điều trị mò.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề xuất áp dụng NSTT như một chỉ định thường quy trước khi quyết định can thiệp điều trị cho các trường hợp u và hạch trung thất trước - giữa chưa rõ bản chất mô học.
  • Khuyến nghị đánh giá kỹ lưỡng các đặc điểm chụp CLĐT ngực có cản quang (đặc biệt là tỷ trọng ngấm thuốc và liên quan giải phẫu với các mạch máu lớn) trước khi tiến hành NSTT để tiên lượng lượng máu mất, chuẩn bị phương án cầm máu và lựa chọn vị trí sinh thiết an toàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được ghi nhận từ phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi tiếp cận giải phẫu của đường mổ NSTT chuẩn qua hõm ức bị giới hạn ở khoang trước và cạnh khí quản, dưới carina; không thể tiếp cận sinh thiết các tổn thương thuộc trung thất sau hoặc nhóm hạch cửa sổ phế chủ (nhóm 5, nhóm 6) nếu không phối hợp kỹ thuật mở rộng.
  • Chống chỉ định tương đối ở các trường hợp có biến đổi giải phẫu vùng cổ ngực nặng nề (gù vẹo cột sống quá mức, bướu giáp thòng lớn, phình quai động mạch chủ/động mạch vô danh) hoặc bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật mở xương ức, xạ trị vùng cổ ngực trước đó.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu phối hợp nội soi trung thất với phẫu thuật nội soi lồng ngực (VATS) hoặc ứng dụng nội soi trung thất có hỗ trợ siêu âm (VAMUS) nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nhóm hạch khó và các khối u trung thất phức tạp.
  • Thực hiện các nghiên cứu đa trung tâm đánh giá hiệu quả kinh tế y tế và chất lượng điều trị khi áp dụng thường quy NSTT trong phân tầng giai đoạn ung thư lồng ngực tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Đối tượng thụ hưởng

  • Bác sĩ phẫu thuật Ngoại lồng ngực: Tham khảo quy trình kỹ thuật bóc tách, vị trí sinh thiết hạch (4R, 4L, 7) và u trung thất trước - giữa, các phương án kiểm soát tai biến chảy máu trong mổ.
  • Bác sĩ Ung bướu và Hô hấp: Sử dụng dữ liệu mô bệnh học và độ chính xác của NSTT để chỉ định sinh thiết phân giai đoạn ung thư phổi không tế bào nhỏ và lựa chọn phác đồ điều trị trúng đích, hóa xạ trị cho u trung thất không còn khả năng phẫu thuật.
  • Bác sĩ Chẩn đoán hình ảnh: Tham khảo các tiêu chuẩn đối chiếu giữa dấu hiệu CLĐT (tỷ trọng HU, ngấm thuốc cản quang, xóa lớp mỡ) với thực tế phẫu thuật và kết quả giải phẫu bệnh.
  • Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh: Nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng ngoại khoa lồng ngực và hệ thống tài liệu tổng quan lịch sử phát triển của chuyên ngành.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án áp dụng cách phân chia giải phẫu trung thất nào làm chuẩn?

Tác giả sử dụng cách phân chia trung thất 3 khoang theo quan niệm ngoại khoa của Shields (1972) gồm: trung thất trước (khoang trước mạch máu), trung thất giữa (khoang tạng chứa tim, mạch máu lớn, khí phế quản và các chuỗi hạch) và trung thất sau (khoang cạnh sống). Đây là cách phân loại thực dụng, phù hợp nhất với việc định vị tổn thương và lựa chọn đường tiếp cận ngoại khoa.

2. Tiêu chuẩn đánh giá hạch bất thường trên chụp CLĐT ngực trong luận án là gì?

Dựa trên các nghiên cứu của Rusch V, Wang, Faber và D'Amico, hạch trung thất được xác định là bất thường khi đường kính trục ngang lớn nhất trên phim CLĐT lớn hơn 10 mm. Hạch có kích thước từ 10-20 mm có thể do viêm hoặc di căn, trong khi hạch >15 mm có tỷ lệ di căn ác tính được kiểm chứng sau mổ lên tới 85%.

3. Những biến chứng phẫu thuật nội soi trung thất nào được tác giả tổng thuật và đối chiếu?

Biến chứng thường gặp nhất là chảy máu tĩnh mạch do rách cuống mạch nuôi hạch hoặc nhánh động mạch phế quản; các tai biến nặng hơn gồm rách tĩnh mạch vô danh, tĩnh mạch đơn, động mạch phổi hoặc thân cánh tay đầu (cần mở ngực/chẻ xương ức cầm máu). Các biến chứng khác gồm tổn thương dây thần kinh thanh quản quặt ngược trái gây khàn tiếng, thủng khí quản, thủng thực quản, tràn khí màng phổi và tràn khí trung thất.

4. Tác giả mở rộng chỉ định của nội soi trung thất so với các nghiên cứu trước tại Việt Nam như thế nào?

Trước đây, các nghiên cứu tại Việt Nam như của Trương Thanh Thiết (BV Phạm Ngọc Thạch) và Nguyễn Đức Thắng (BV 108) chủ yếu thực hiện NSTT để sinh thiết lấy mẫu hạch trung thất phân giai đoạn ung thư phổi. Luận án của Ngô Quốc Hưng tại Bệnh viện Chợ Rẫy mở rộng chỉ định sang việc sinh thiết trực tiếp các khối u trung thất trước và giữa kích thước lớn, giai đoạn muộn hoặc có hội chứng chèn ép tĩnh mạch chủ trên không còn chỉ định mổ cắt trọn, nhằm xác định bản chất mô học giúp điều trị đặc hiệu, tránh điều trị mò.


Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y học của tác giả Ngô Quốc Hưng là công trình nghiên cứu chuyên sâu về giá trị của phẫu thuật nội soi trung thất trong chẩn đoán mô bệnh học u và hạch vùng trung thất trước - giữa tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở giải phẫu ngoại khoa, quy trình kỹ thuật mổ có video hỗ trợ và thiết lập các mối tương quan chặt chẽ giữa đặc điểm hình ảnh chụp CLĐT ngực với mức độ an toàn và hiệu quả sinh thiết. Kết quả công trình khẳng định nội soi trung thất là phương pháp can thiệp xâm lấn tối thiểu an toàn, độ chính xác cao, đóng vai trò then chốt trong định hướng điều trị bệnh lý trung thất và phân giai đoạn ung thư lồng ngực.