Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Nghiên cứu vai trò của nhiễu loạn tần số tim trong tiên lượng tử vong bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp", chuyên ngành Nội Tim mạch (mã số: 62720141), được nghiên cứu sinh Nguyễn Lương Kỷ thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Tôn Thất Minh và PGS.TS. Phạm Nguyễn Vinh, bảo vệ tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.
Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp là một trong những cấp cứu tim mạch phổ biến với tỷ lệ tử vong từ 6% đến 7,5% trong 30 ngày đầu; trong năm đầu tiên sau biến cố, cứ 25 bệnh nhân sống sót thì có 1 người tử vong, trong đó trên 50% các trường hợp là đột tử do tim. Cơ chế dẫn đến đột tử do tim sau NMCT là sự tương tác phức tạp giữa ba yếu tố: cơ chất cơ tim (vùng sẹo nhồi máu), tính dễ bị kích thích/tổn thương điện học của cơ tim và rối loạn điều hòa của hệ thần kinh tự động. Trên lâm sàng, các phương pháp phân tầng nguy cơ truyền thống bộc lộ nhiều điểm hạn chế:
- Phân suất tống máu thất trái (PSTM) giảm có độ nhạy thấp (chỉ dự báo được khoảng 10% các trường hợp đột tử), trong khi hơn hai phần ba số bệnh nhân đột tử sau NMCT lại có PSTM bảo tồn hoặc chỉ giảm nhẹ.
- Các rối loạn nhịp thất phát hiện trên điện tâm đồ thông thường hoặc điện tâm đồ liên tục (ĐTĐLT) 24 giờ có giá trị tiên đoán dương tính thấp.
Nhiễu loạn tần số tim (Heart Rate Turbulence - NLTST) là chỉ số không xâm lấn phản ánh hoạt động bù trừ của phản xạ thụ thể áp lực và sự thăng bằng thần kinh giao cảm - phó giao cảm sau một nhát ngoại tâm thu thất (NTT thất). Xuất phát từ thực tế chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào tại Việt Nam đánh giá toàn diện chỉ số này trên quần thể bệnh nhân sau NMCT cấp, tác giả đã xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát tỉ lệ nhiễu loạn tần số tim và rối loạn nhịp tim trên điện tâm đồ liên tục 24 giờ ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp.
- Khảo sát mối liên quan giữa nhiễu loạn tần số tim với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và điều trị của bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
- Xác định vai trò tiên lượng tử vong tim mạch trong 2 năm của nhiễu loạn tần số tim ở bệnh nhân sau nhồi máu cơ tim cấp.
Nghiên cứu được triển khai trên đối tượng bệnh nhân nhập viện điều trị vì NMCT cấp (bao gồm NMCT cấp có ST chênh lên và không ST chênh lên) tại Khoa Tim mạch can thiệp của Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2013 đến tháng 08 năm 2015, sau đó theo dõi dọc biến cố trong thời gian 24 tháng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hiện tượng nhiễu loạn tần số tim lần đầu tiên được Georg Schmidt và cộng sự tại Đại học Kỹ thuật Munich công bố trên tạp chí Lancet năm 1999. Sau khi phân tích biến thiên chu kỳ xoang quanh các nhát NTT thất ở bệnh nhân sau NMCT, nhóm nghiên cứu phát hiện rằng ở người có hệ thần kinh tự động bình thường, tần số tim sẽ tăng tốc ngắn hạn ngay sau nhát nghỉ bù của NTT thất, sau đó giảm tốc chậm dần trước khi quay về tần số cơ bản; sự suy giảm hoặc biến mất của phản xạ hai pha này liên quan chặt chẽ đến nguy cơ tử vong tim mạch.
Nhiều thử nghiệm lâm sàng và nghiên cứu đoàn hệ quy mô lớn trên thế giới đã kiểm chứng giá trị tiên lượng của NLTST sau NMCT:
- Các nghiên cứu hồi cứu: MPIP (Multicenter Post Infarction Program), EMIAT (European Myocardial Infarction Amiodarone Trial), ATRAMI (Autonomic Tone and Reflexes after Acute Myocardial Infarction), CAST I và CAST II (Cardiac Arrhythmia Suppression Trials), FINGER (Finland and Germany post infarction trial). Hầu hết các nghiên cứu này chứng minh NLTST bất thường làm tăng nguy cơ tử vong từ 3,2 đến 5,9 lần.
- Các nghiên cứu tiến cứu: ISAR (Innovative Stratification of Arrhythmic Risk) và REFINE (Risk Estimation Following Infarction Noninvasive Evaluation) khẳng định NLTST là yếu tố tiên đoán độc lập với PSTM thất trái, biến thiên nhịp tim (BTNT) và các rối loạn nhịp thất.
- Các nghiên cứu đơn lẻ tiêu biểu: Sade E. và cs (2003) tại Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận ĐDNL bất thường có nguy cơ tương đối RR = 7,3; Barthel P. và cs (2003) trên 1.455 bệnh nhân ghi nhận NLTST bất thường có RR = 5,9; Stein P.K. và cs (2009) trên 481 bệnh nhân có suy giảm chức năng thất trái ghi nhận RR = 3,64; Miwa Y. và cs (2011) chứng minh giá trị độc lập của NLTST ở cả bệnh nhân đái tháo đường và không đái tháo đường sau NMCT; Harris P.R. và cs (2013) trên 1.308 bệnh nhân hội chứng vành cấp không ST chênh lên ghi nhận NLTST bất thường có tỉ số nguy hại HR = 1,8 ở 30 ngày và HR = 1,9 ở 1 năm.
Về các khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại: Y văn quốc tế ghi nhận sự không đồng nhất về thời điểm đo NLTST tối ưu sau nhồi máu, định nghĩa kết cục tiên lượng (tử vong chung, tử vong tim mạch, đột tử hay biến cố loạn nhịp) và tác động của các thuốc điều trị hiện đại như thuốc chẹn beta giao cảm. Tại Việt Nam, trước thời điểm luận án thực hiện, chỉ có công trình bước đầu của Trần Minh Trí và Huỳnh Văn Minh (2015) khảo sát NLTST trên 39 bệnh nhân suy tim mạn tính, ghi nhận mối tương quan với chỉ số SDNN và PSTM. Chưa có công trình nào đánh giá bài bản vai trò của NLTST trên bệnh nhân NMCT cấp người Việt Nam trong kỷ nguyên can thiệp mạch vành qua da và điều trị nội khoa tối ưu. Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Lương Kỷ được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở sinh lý bệnh và cách tính toán NLTST
Sau một nhát NTT thất, tâm thất co bóp sớm khi buồng tim chưa đổ đầy máu hoàn toàn, dẫn đến nhát bóp yếu, huyết áp tống máu giảm thoáng qua. Sự giảm áp lực tại quai động mạch chủ và xoang cảnh lập tức làm giảm xung động truyền về hành não qua dây thần kinh IX và X, dẫn đến phản xạ ức chế phó giao cảm và tăng cường trương lực giao cảm ra ngoại biên, làm co mạch và tăng nhịp tim xoang bù trừ. Tiếp đó, khi huyết áp phục hồi và tăng cao trên mức bình thường, thụ thể áp lực bị kích thích ngược lại, kích hoạt phó giao cảm làm nhịp tim chậm dần về mức cơ sở.
NLTST được định lượng trên bản ghi ĐTĐLT 24 giờ qua hai thông số thành phần:
-
Khởi phát nhiễu loạn (KPNL - Turbulence Onset, TO): Đo lường mức độ tăng tốc sớm của tần số tim sau NTT thất.
$$\text{KPNL (TO)} = \frac{(\text{RR}1 + \text{RR}2) - (\text{RR}{-1} + \text{RR}{-2})}{\text{RR}{-1} + \text{RR}{-2}} \times 100%$$
- $\text{RR}_1, \text{RR}_2$: Khoảng cách của 2 chu kỳ xoang đầu tiên ngay sau NTT thất.
- $\text{RR}{-1}, \text{RR}{-2}$: Khoảng cách của 2 chu kỳ xoang ngay trước NTT thất.
- Giá trị bình thường: $\text{KPNL} < 0%$ (tần số tim tăng tốc sau NTT thất).
- Giá trị bất thường: $\text{KPNL} \ge 0%$ (mất khả năng tăng tốc sớm).
-
Đường dốc nhiễu loạn (ĐDNL - Turbulence Slope, TS): Đo lường mức độ giảm tốc trễ của tần số tim. ĐDNL được định nghĩa là độ dốc lớn nhất của đường hồi quy tuyến tính tính trên 5 nhịp liên tiếp trong phạm vi 20 nhịp xoang sau NTT thất (đơn vị: ms/khoảng RR).
- Giá trị bình thường: $\text{ĐDNL} > 2,5\text{ ms/RR}$.
- Giá trị bất thường: $\text{ĐDNL} \le 2,5\text{ ms/RR}$.
Phân loại NLTST theo đồng thuận quốc tế (Hội Holter và Điện tâm đồ không xâm lấn thế giới - ISHNE):
- Loại 0: Cả KPNL và ĐDNL đều bình thường (hoặc không có/quá ít NTT thất).
- Loại 1: Một trong hai chỉ số (KPNL hoặc ĐDNL) bất thường.
- Loại 2: Cả hai chỉ số KPNL và ĐDNL đều bất thường.
Tiêu chuẩn chọn lọc NTT thất để tính toán NLTST nhằm tránh sai số:
- Nhát NTT thất phải đến sớm $> 20%$ và có khoảng nghỉ bù $> 120%$ so với trị số trung bình của 5 khoảng RR xoang đi trước.
- Không tính các NTT thất có khoảng RR cơ bản đi trước $< 300\text{ ms}$ hoặc $> 2000\text{ ms}$, hoặc có loạn nhịp xoang (khoảng cách giữa các nhịp lệch nhau $> 20%$).
- Yêu cầu bản ghi ĐTĐLT 24 giờ phải có thời gian ghi hợp lệ $\ge 18\text{ giờ}$ và có tối thiểu 5 nhát NTT thất đạt chuẩn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu quan sát đoàn hệ, tiến cứu, có theo dõi dọc biến cố tử vong trong 24 tháng.
- Cỡ mẫu nghiên cứu: Áp dụng công thức so sánh hai tỉ lệ:
$$n = \frac{\left[ Z_{\alpha/2}\sqrt{2\bar{p}(1-\bar{p})} + Z_\beta\sqrt{p_1(1-p_1) + p_2(1-p_2)} \right]^2}{(p_1 - p_2)^2}$$
Với $\alpha = 0,05$ ($Z_{\alpha/2} = 1,96$), $p_1 = 0,04$ (tỉ lệ tử vong sau NMCT ở nhóm NLTST bình thường), $p_2 = 0,04 \times 5,9 = 0,236$ (tỉ lệ tử vong ở nhóm NLTST bất thường theo Barthel P.), tính toán cỡ mẫu tối thiểu cho mỗi nhóm là 48 bệnh nhân, tổng cỡ mẫu tối thiểu là 96 bệnh nhân. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
- Tiêu chuẩn đưa vào: Bệnh nhân NMCT cấp có ST chênh lên hoặc không ST chênh lên theo tiêu chuẩn đồng thuận quốc tế ESC/ACC/AHA/WHF/WHO 2012, điều trị nội trú tại Khoa Tim mạch can thiệp của 2 bệnh viện tham gia nghiên cứu và xuất viện với phác đồ điều trị nội khoa chuẩn (chẹn beta, ức chế men chuyển/thụ thể, statin, kháng kết tập tiểu cầu kép).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không có nhịp xoang tại thời điểm khảo sát (rung nhĩ, mang máy tạo nhịp), bệnh nhân Killip IV (choáng tim đang sử dụng thuốc vận mạch), bệnh nhân tử vong nội viện, thời gian ghi ĐTĐLT 24 giờ $< 18\text{ giờ}$, hoặc bệnh nhân từ chối tham gia.
- Trang thiết bị thu thập dữ liệu:
- Xét nghiệm hóa sinh, men tim (Troponin T siêu nhạy đo trên hệ thống Roche Elecsys với ngưỡng 99th bách phân vị $< 14\text{ pg/ml}$) đạt chuẩn ISO 15189:2012.
- Điện tâm đồ 12 chuyển đạo ghi trên máy Cardiofax (Nihon-Kohden, Nhật Bản).
- Siêu âm tim Doppler màu (hệ thống Aloka, Acuson Siemens) đo PSTM theo phương pháp Simpson.
- Chụp mạch vành qua da trên hệ thống số hóa xóa nền (DSA, Siemens) theo kỹ thuật Seldinger qua đường động mạch quay hoặc đùi.
- Hệ thống ghi và phân tích ĐTĐLT 24 giờ chuyên dụng: ghi sau thời điểm khởi phát NMCT ít nhất 48 giờ và sau can thiệp mạch vành tối thiểu 24 giờ khi huyết động đã ổn định.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa các kiến thức nền tảng về dịch tễ học và cơ chế tử vong tim mạch sau NMCT. Tác giả đi sâu vào vai trò của hệ thần kinh tự động trong việc khởi phát loạn nhịp thất: sau hoại tử cơ tim, sự phân bố bất đồng nhất của các đầu tận cùng sợi thần kinh giao cảm quanh vùng mô sẹo xơ hóa làm tăng phóng thích cục bộ norepinephrine, phân tán thời gian trơ và tạo cơ chất thuận lợi cho vòng vào lại sinh nhịp nhanh thất, rung thất.
Chương 1 cũng tổng thuật chi tiết các phương pháp phân tầng nguy cơ đột tử hiện hành, được tóm tắt trong Bảng 1.1 của luận án:
| Phương pháp phân tầng |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
Đánh giá và bàn luận |
| Phân suất tống máu thất trái (PSTM) |
Thường quy, thực hiện được tại hầu hết các cơ sở y tế qua siêu âm tim, đã được khuyến cáo chính thức. |
Là chỉ điểm của tử vong tim mạch toàn bộ hơn là đột tử chuyên biệt; nhiều bệnh nhân đột tử có PSTM bảo tồn; chỉ số có thể thay đổi theo thời gian. |
Nên sử dụng làm công cụ ban đầu để sàng lọc trước khi phối hợp các phương pháp khác. |
| Điện tâm đồ 12 chuyển đạo (QT, QTc, QRS, blốc nhánh...) |
Thực hiện đơn giản, chi phí thấp, phổ biến rộng rãi. |
Phụ thuộc người đọc, giá trị tiên đoán dương tính và âm tính đối với đột tử còn thấp, có sự chồng lấp giữa người bình thường và bệnh nhân. |
Giá trị phân tầng nguy cơ đơn độc còn hạn chế. |
| Điện thế muộn (SAECG) |
Dễ thực hiện, giá trị tiên đoán âm tính cao, có thể áp dụng được khi có rung nhĩ. |
Giá trị tiên đoán dương tính thấp; dự đoán nhanh thất tốt hơn rung thất; không phân tích được khi có blốc nhánh hoặc đặt máy tạo nhịp. |
Hữu ích trong việc nhận diện nhóm nguy cơ thấp, nên phối hợp với các phương tiện khác. |
| Biến thiên nhịp tim (BTNT / HRV) |
Ghi và phân tích tự động trên ĐTĐLT 24 giờ. |
Bị ảnh hưởng nhiều bởi tuổi, giới tính, thuốc điều trị, chức năng nút xoang; không áp dụng được khi có rung nhĩ. |
Cung cấp thông tin về trương lực giao cảm/phó giao cảm nhưng tính đồng nhất giữa các nghiên cứu chưa cao. |
| Luân phiên sóng T (TWA / MTWA) |
Cung cấp giá trị dự báo ở cả bệnh nhân có PSTM giảm lẫn PSTM bảo tồn; giá trị tiên đoán âm tính cao. |
Chỉ áp dụng khi còn nhịp xoang; dễ nhiễu khi gắng sức; không phân tích được nếu không đạt tần số tim mục tiêu; giá trị tiên đoán dương tính thấp. |
Vai trò trong việc lựa chọn cấy máy phá rung tự động (MPRTĐ) chưa hoàn toàn xác định. |
| Khảo sát điện sinh lý tim (EP) |
Thực hiện được trên bệnh nhân có rối loạn nhịp, rung nhĩ, đặt máy tạo nhịp. |
Là thủ thuật xâm lấn, chi phí cao, đòi hỏi trang thiết bị chuyên sâu; giá trị tiên đoán âm tính thấp; phác đồ kích thích chưa thống nhất. |
Giá trị cao trong việc khởi kích nhanh thất đơn hình nhưng độ nhạy thấp trong dự báo đột tử khi PSTM $< 30%$. |
| Cộng hưởng từ tim (CMR) |
Đánh giá chính xác giải phẫu, thể tích, chức năng thất trái và sẹo xơ hóa cơ tim qua ngấm thuốc tương phản muộn Gadolinium. |
Giá thành cao, đòi hỏi thiết bị chuyên dụng, không thực hiện được ở bệnh nhân đã cấy MPRTĐ; không phản ánh trực tiếp hoạt động điện học. |
Là công cụ chẩn đoán hình ảnh giá trị nhưng dữ liệu phân tầng đột tử chưa được chuẩn hóa hoàn toàn. |
| Nhiễu loạn tần số tim (NLTST) |
Đánh giá gián tiếp phản xạ thụ thể áp lực và thần kinh tự động không xâm lấn trên ĐTĐLT 24 giờ; không bị triệt tiêu giá trị tiên lượng bởi thuốc chẹn beta. |
Cần có tối thiểu 5 nhát NTT thất hợp lệ trong 24 giờ; chỉ áp dụng được trên nhịp xoang. |
Là công cụ phân tầng nguy cơ bổ trợ nhiều tiềm năng sau NMCT. |
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu thuần tập tiến cứu tại Bệnh viện Thống Nhất TP.HCM và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa. Quy trình nghiên cứu bao gồm:
- Khám lâm sàng, xác định phân độ Killip lúc vào viện.
- Định lượng các chất chỉ điểm sinh học: men tim CK-MB, Troponin T siêu nhạy, bilan lipid máu, creatinine, điện giải đồ.
- Đo chức năng tâm thu thất trái (PSTM) trên siêu âm Doppler tim.
- Chụp mạch vành qua da để xác định vị trí và số lượng nhánh mạch vành bị tổn thương có ý nghĩa ($\ge 50%$ đường kính lòng mạch).
- Ghi ĐTĐLT 24 giờ với 10 điện cực khi bệnh nhân đã qua giai đoạn cấp ($> 48\text{ giờ}$) hoặc sau can thiệp mạch vành tối thiểu 24 giờ.
- Thuật toán máy tính tự động lọc nhịp, xác định các nhát NTT thất thỏa mãn tiêu chuẩn hình thái và khoảng ghép, sau đó tính toán KPNL (TO) và ĐDNL (TS), phân loại bệnh nhân thành NLTST loại 0, loại 1 và loại 2.
- Theo dõi định kỳ mỗi 3 tháng một lần trong 24 tháng bằng tái khám hoặc liên hệ điện thoại, ghi nhận các biến cố kết cục: tử vong tim mạch và đột tử do tim.
- Phương pháp xử lý số liệu: phân tích sống còn bằng đường cong Kaplan-Meier; kiểm định Log-rank; phân tích hồi quy đơn biến và đa biến theo mô hình nguy cơ tỷ lệ Cox (Cox proportional hazards model) để xác định các yếu tố dự báo độc lập.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được trình bày chi tiết qua hệ thống 38 bảng số liệu và 7 biểu đồ, tập trung vào các phát hiện chính:
- Đặc điểm dịch tễ và lâm sàng: Phân bố tuổi, giới tính, tỷ lệ các yếu tố nguy cơ tim mạch kinh điển (tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, rối loạn lipid máu), phân loại Killip lúc vào viện, vị trí NMCT (thành trước, thành dưới) và số nhánh mạch vành bị hẹp.
- Tỉ lệ NLTST và rối loạn nhịp tim: Tỉ lệ bệnh nhân có NLTST bình thường (loại 0) và bất thường (loại 1, loại 2); phân bố tần số NTT thất theo phân độ Lown và các rối loạn nhịp thất nguy hiểm ghi nhận được trên ĐTĐLT 24 giờ.
- Mối liên quan giữa NLTST với các thông số lâm sàng, cận lâm sàng:
- Tỉ lệ NLTST bất thường tăng dần theo nhóm tuổi cao và phân độ Killip nặng lúc nhập viện.
- NLTST bất thường có liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng suy giảm PSTM thất trái và số lượng nhánh động mạch vành bị tổn thương.
- Tái thông mạch vành thành công giúp cải thiện đáng kể các thông số NLTST so với tái thông không hoàn toàn hoặc điều trị nội khoa đơn thuần.
- Vai trò tiên lượng tử vong tim mạch và đột tử:
- Phân tích Kaplan-Meier cho thấy đường cong sống còn tích lũy ở nhóm bệnh nhân có NLTST loại 2 giảm rõ rệt và tách biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm loại 1 và loại 0 ($p < 0,001$).
- Phân tích hồi quy đơn biến và đa biến Cox xác nhận NLTST bất thường (đặc biệt là NLTST loại 2) là yếu tố dự báo độc lập đối với tử vong do tim mạch và đột tử sau 2 năm theo dõi, bên cạnh các yếu tố như tuổi cao, đái tháo đường và PSTM giảm.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:
- Về tính khả thi và đặc điểm NLTST: Luận án ghi nhận NLTST có thể đánh giá thuận lợi trên bản ghi ĐTĐLT 24 giờ ở đại đa số bệnh nhân NMCT cấp sau giai đoạn huyết động ổn định có kèm NTT thất.
- Về cơ chế bù trừ thần kinh tự động: Sự suy giảm KPNL và ĐDNL phản ánh tình trạng trơ hoặc suy giảm độ nhạy của phản xạ thụ thể áp lực, kèm theo hiện tượng cường giao cảm kéo dài sau hoại tử cơ tim, làm tăng nguy cơ rung thất và đột tử.
- Về tính độc lập của NLTST: Bàn luận làm rõ giá trị của NLTST không bị triệt tiêu bởi việc sử dụng thuốc chẹn beta giao cảm (nhóm thuốc được chứng minh làm giảm biến thiên nhịp tim nhưng không làm thay đổi bản chất của phản xạ NLTST). NLTST duy trì được giá trị phân tầng nguy cơ ở cả phân nhóm bệnh nhân có PSTM còn bảo tồn ($> 35%$) — phân nhóm vốn chiếm phần lớn số lượng đột tử trong cộng đồng nhưng thường bị bỏ sót nếu chỉ dựa vào chỉ định cấy máy phá rung truyền thống.
Kết quả và những đóng góp mới
-
Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn lâm sàng:
- Luận án là công trình tiến cứu đầu tiên tại Việt Nam khảo sát một cách có hệ thống chỉ số nhiễu loạn tần số tim (Heart Rate Turbulence) trên bệnh nhân sau NMCT cấp.
- Xác lập được bức tranh phân bố về tỉ lệ bất thường của hai chỉ số KPNL (TO) và ĐDNL (TS) cũng như phân loại NLTST (loại 0, 1, 2) trên ĐTĐLT 24 giờ ở bệnh nhân NMCT cấp người Việt Nam.
- Chứng minh được giá trị tiên lượng độc lập của NLTST bất thường đối với biến cố tử vong tim mạch và đột tử do tim sau thời gian theo dõi 2 năm, độc lập với các yếu tố tiên lượng kinh điển như tuổi, đái tháo đường, phân độ Killip và PSTM thất trái.
-
Khuyến nghị ứng dụng:
- Đề xuất đưa việc phân tích NLTST trên ĐTĐLT 24 giờ thành một chỉ định thăm dò không xâm lấn thường quy trước khi bệnh nhân NMCT cấp xuất viện nhằm phân tầng nguy cơ tử vong.
- Khuyến nghị kết hợp NLTST với PSTM và các yếu tố nguy cơ lâm sàng để nâng cao độ nhạy và giá trị tiên đoán dương tính trong việc nhận diện bệnh nhân có nguy cơ đột tử cao, hỗ trợ việc cá thể hóa chỉ định cấy máy phá rung tự động (MPRTĐ/ICD) dự phòng nguyên phát.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo giá trị cho các đối tượng:
- Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch và Tim mạch can thiệp: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực nghiệm để đánh giá nguy cơ đột tử không xâm lấn, giúp tối ưu hóa chiến lược điều trị và dự phòng sau NMCT.
- Nghiên cứu sinh, học viên sau đại học chuyên ngành Nội khoa/Tim mạch: Cung cấp phương pháp luận chặt chẽ về thiết kế nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu, phương pháp xử lý số liệu sống còn (Kaplan-Meier, Cox regression) và cách thức phân tích tín hiệu điện tim học nâng cao (Holter 24 giờ).
- Các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và mở rộng chỉ định thanh toán bảo hiểm y tế cho các kỹ thuật phân tầng nguy cơ tim mạch không xâm lấn.
Câu hỏi thường gặp
1. Chỉ số Khởi phát nhiễu loạn (KPNL / TO) được tính toán như thế nào và ngưỡng giá trị nào là bất thường?
KPNL được tính bằng hiệu số giữa trung bình 2 khoảng RR xoang ngay sau NTT thất ($\text{RR}1, \text{RR}2$) với trung bình 2 khoảng RR xoang ngay trước NTT thất ($\text{RR}{-1}, \text{RR}{-2}$), chia cho trung bình 2 khoảng RR trước NTT thất, tính theo tỉ lệ phần trăm. Bình thường sau NTT thất nhịp tim phải tăng tốc bù trừ nên $\text{KPNL} < 0%$. Giá trị $\text{KPNL} \ge 0%$ được xác định là bất thường (tim mất khả năng tăng tốc sớm).
2. Điểm cắt chuẩn của Đường dốc nhiễu loạn (ĐDNL / TS) là bao nhiêu?
ĐDNL là độ dốc lớn nhất của đường tương quan tuyến tính qua 5 điểm đo liên tiếp trong 20 nhịp xoang sau NTT thất. Giá trị $\text{ĐDNL} > 2,5\text{ ms/khoảng RR}$ được coi là bình thường. Giá trị $\text{ĐDNL} \le 2,5\text{ ms/khoảng RR}$ được coi là bất thường (tim mất khả năng giảm tốc trễ).
3. Phân loại NLTST theo ISHNE gồm những nhóm nào?
Theo đồng thuận quốc tế, bệnh nhân được phân thành 3 loại:
- Loại 0: Cả KPNL và ĐDNL đều bình thường (hoặc không đủ số lượng NTT thất để phân tích).
- Loại 1: Có 1 trong 2 chỉ số (KPNL hoặc ĐDNL) bất thường.
- Loại 2: Cả hai chỉ số KPNL và ĐDNL đều bất thường.
4. Tại sao NTT nhĩ không tạo ra hiện tượng NLTST giống như NTT thất?
Sau một nhát NTT nhĩ, tính tự động của nút xoang được tái lập và phục hồi tần số ngay lập tức, sau đó mới xuất hiện giai đoạn nhịp tim chậm do thụ thể áp lực mà không có hiện tượng đáp ứng hai pha (tăng tốc sớm tiếp nối bằng giảm tốc trễ). Đồng thời, mức độ biến động huyết động học sau NTT nhĩ yếu hơn nhiều so với NTT thất.
5. Tiêu chuẩn chọn lọc một nhát NTT thất hợp lệ để phân tích NLTST là gì?
Nhát NTT thất phải xuất hiện sớm $> 20%$ và có khoảng nghỉ bù $> 120%$ so với trị số trung bình của 5 khoảng RR xoang đi trước. Các NTT thất có khoảng RR cơ bản $< 300\text{ ms}$, $> 2000\text{ ms}$ hoặc đi kèm loạn nhịp xoang (lệch $> 20%$) đều bị thuật toán loại bỏ. Bản ghi phải đạt thời gian theo dõi $\ge 18\text{ giờ}$ và có tối thiểu 5 nhát NTT thất đạt chuẩn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Nguyễn Lương Kỷ đã khẳng định giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn của chỉ số nhiễu loạn tần số tim (NLTST) trong phân tầng nguy cơ tim mạch sau nhồi máu cơ tim cấp. Thông qua thiết kế nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu theo dõi trong 2 năm, công trình chứng minh NLTST bất thường (đặc biệt là NLTST loại 2) là yếu tố dự báo độc lập có ý nghĩa đối với biến cố tử vong tim mạch và đột tử do tim. Việc tích hợp phân tích NLTST trên bản ghi điện tâm đồ liên tục 24 giờ trước khi xuất viện là một giải pháp thăm dò không xâm lấn hiệu quả, giúp khắc phục những hạn chế của chỉ số phân suất tống máu đơn độc trong việc nhận diện sớm các bệnh nhân có nguy cơ cao.