Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về hội chứng vành cấp Hội chứng vành cấp (HCVC) là thuật ngữ đề cập đến bất kỳ biểu hiện lâm sàng nào đó có liên quan đến tổn thương động mạch vành (ĐMV) có tính chất cấp tính, nó bao gồm nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên (NMCTCSTCL) có sóng Q hoặc không có sóng Q, NMCT cấp ST không chênh lên (NMCTSTKCL) có sóng Q hoặc không có sóng Q, cũng như đau thắt ngực không ổn định (ĐTNKÔĐ) [10], [12]. Trên thực tế, NMCTCSTCL vẫn được gọi chung là NMCT cấp và chỉ tình trạng một cấp cứu tim mạch cần phải có biện pháp điều trị tái tưới máu. ĐTNKÔĐ và NMCTSTKCL được xếp chung vào một nhóm vì có thái độ xử trí như nhau và hiện nay người ta có xu hướng gọi chung là hội chứng ĐMV cấp [13].
ĐTNKÔĐ và NMCTSTKCL khác biệt nhau chủ yếu về mức độ thiếu máu có nặng đến mức đủ gây ra tổn thương cơ tim vùng xa và giải phóng ra các enzym của tế bào cơ tim mà có thể định lượng được. Do đó, các bệnh nhân có NMCTSTKCL có thể coi là đã trải qua ĐTNKÔĐ. NMCTSTKCL được xác định khi có tăng các enzym của tim trong máu kéo dài nhiều giờ sau khi bắt đầu có đau ngực [10]. Dịch tễ học 1.
Trên thế giới Trong năm 2001, bệnh mạch vành gây 7,2 triệu trường hợp tử vong trên toàn thế giới. Mỗi năm có khoảng 5,8 triệu trường hợp bệnh mới. Hiện có khoảng 40 triệu người đang mắc BMV còn sống [3]. Tại Hoa Kỳ, hàng năm có khoảng 2,5 triệu người nhập viện và có khoảng 500.000 ca tử vong vì 4 HCVC.
Trong đó có khoảng 1,5 triệu trường hợp là ĐTNKÔĐ, số còn lại là NMCT có hay không có đoạn ST chênh lên. Trên thế giới mỗi năm có 6,3 triệu người bị NMCT cấp, 25% trong số đó tử vong [5]. HCVC là nguyên nhân gây tử vong và thương tật hàng đầu tại các nước đã phát triển và là gánh nặng ngày càng tăng ở các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam Năm 1996 ở Hà Nội có khoảng 200 bệnh nhân bệnh ĐMV nhập viện, còn thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 400 bệnh nhân.
Bệnh ĐMV tăng lên rõ rệt. Theo thống kê Sở Y Tế thành phố Hồ Chí Minh thì chỉ riêng năm 2000 đã có 3.222 bệnh nhân NMCT và đã tử vong 122 trường hợp. Trong 6 tháng đầu năm 2001 đã có 1.725 bệnh nhân bị NMCT [3]. Từ đó, cho ta thấy tỷ lệ lưu hành bệnh ĐMV ngày càng tăng rõ rệt.
Điều trị nội khoa Phác đồ điều trị bệnh nhân HCVC theo khuyến cáo của Hội Tim mạch học Việt Nam bao gồm 2 nhóm: đau thắt ngực không ổn định và NMCT không ST chênh lên, NMCT ST chênh lên [10]. Nhóm đau thắt ngực không ổn định và NMCT không ST chênh lên Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi Nghỉ tại giường và vận động nhẹ nhàng khi tình trạng ổn định. Chế độ ăn lỏng, 2 gram muối/ngày, hạn chế chất béo bão hòa. Thở oxy 2-4 lít/phút trong vòng 6 giờ đầu, đảm bảo SpO290%.
Phòng tránh táo bón. Điều trị thuốc Chống đông: Enoxaparin 1mg/kg tiêm dưới da mỗi 12 giờ, liều đầu tiên có thể bắt đầu bằng tiêm tĩnh mạch 30mg. Kháng ngưng tập tiểu cầu: Aspirin: liều đầu 162-325mg, duy trì liều 75-162mg/ngày. 5 Clopidogrel: liều đầu 300mg, duy trì 75mg/ngày.
Eptifibatide (Integrilin): tiêm tĩnh mạch 180mcg/kg/phút trong 30 phút, tiếp theo là truyền tĩnh mạch 2mcg/kg/phút trong 72-96 giờ. Nitroglycerin: uống hoặc ngậm dưới lưỡi. Truyền nitroglycerin tĩnh mạch được chỉ định để làm giảm đau ngực, kiểm soát huyết áp, hay điều trị phù phổi cấp. Chẹn beta giao cảm: dùng trong vòng 24 giờ đầu nếu không có chống chỉ định.
Khởi đầu liều thấp rồi tăng dần liều. Ức chế men chuyển: dùng trong vòng 24 giờ đầu đối với các bệnh nhân có suy tim, rối loạn chức năng thất trái (EF<40%) không có chống chỉ định hay có tụt huyết áp (HATT<100mmHg hay giảm >30mmHg so với huyết áp nền). Thuốc hạ lipid máu: dùng nhóm thuốc statin. Tái thông động mạch vành: việc quyết định là sẽ can thiệp ĐMV hay chuyển mổ làm cầu nối vành dựa trên đặc điểm tổn thương ĐMV, tình trạng chung bệnh nhân, chức năng thất trái, đái tháo đường đi kèm và còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc.
Nhóm NMCT ST chênh lên Chế độ ăn uống, nghỉ ngơi và điều trị thuốc: tương tự như trên Can thiệp động mạch vành qua da: Can thiệp thì đầu (tiên phát): can thiệp ĐMV thì đầu trong vòng 6 giờ đầu kể từ khi khởi phát đau ngực. Can thiệp ĐMV cứu vãn: bệnh nhân có sốc tim trong vòng 36 giờ, tuổi <75, can thiệp có thể tiến hành trong vòng 18 giờ kể từ sốc tim. Hoặc bệnh nhân suy tim nặng và/hoặc phù phổi cấp và trong vòng 12 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng. Can thiệp ĐMV chọn lọc: thực hiện trên bệnh nhân được điều trị nội.
Điều trị nội khoa dài hạn khi ra viện Aspirin: 75-160mg/ngày và uống lâu dài nếu không có chống chỉ định ở bệnh nhân không can thiệp. Nếu bệnh nhân can thiệp và đặt stent không bọc thuốc thì liều aspirin là 160-325mg/ngày trong vòng 1 tháng và sau đó duy trì liều 75-160mg/ngày. Nếu bệnh nhân đặt stent bọc thuốc thì liều aspirin từ 160- 325mg/ngày trong vòng 3-6 tháng, sau đó liều duy trì 75-160mg/ngày. Clopidogrel: 75mg/ngày (nếu không có chống chỉ định).
Clopidogrel được cho thêm cùng aspirin trong ít nhất 1 tháng và tối ưu là 12 tháng ở bệnh nhân không can thiệp. Nếu can thiệp đặt stent không bọc thuốc thì cho ít nhất là 1 tháng và tối ưu là 1 năm, trừ bệnh nhân nguy cơ cao bị chảy máu thì cho trong 2 tuần. Nếu can thiệp stent bọc thuốc thì cần cho ít nhất là 1 năm. Thuốc chẹn beta giao cảm: nếu không có chống chỉ định.
Cần chỉnh liều ở bệnh nhân có suy tim. Thuốc ức chế men chuyển: đối với các bệnh nhân có suy tim, rối loạn chức năng thất trái (EF<40%), tăng huyết áp hoặc đái tháo đường. Thuốc ức chế thụ thể angiotensin: nên cho khi bệnh nhân không dung nạp với thuốc ức chế men chuyển. Thuốc kháng aldosteron: nên cho ở những bệnh nhân có suy tim và không bị suy thận.
Nitroglycerin: để điều trị triệu chứng đau ngực. Thuốc hạ lipid máu: mục tiêu LDL-C<100mg/dl và tối ưu <70mg/dl. Thay đổi các yếu tố nguy cơ. Biến cố tim mạch chính sau hội chứng vành cấp NMCT sẽ dẫn đến 3 hậu quả: loạn nhịp tim có thể gây đột tử, tổn thương cơ tim gây mất khả năng co bóp và sự hoạt hóa thần kinh hormon dẫn đến sự tái cấu trúc thất trái; do đó buồng thất bị giãn ngày càng nhiều và cuối cùng là suy tim và tử vong [12].
Rối loạn chức năng thất trái Tác giả Mac Kay và cs đã giúp hiểu rõ cơ chế tái cấu trúc thất trái sau NMCT cấp. Tổn thương cơ tim sẽ làm giảm tống máu tâm thu. Hậu quả là tăng hoạt hóa thần kinh hormon và tăng lượng máu thất trái cuối tâm trương. Các yếu tố này sẽ làm gia tăng sức căng thành tim cuối tâm thu.
Sự gia tăng sức căng thành tim cuối tâm thu sẽ dẫn đến 2 hậu quả vùng nhồi máu sẽ bị giãn và dần dần mỏng hơn. Nguy cơ là suy tim, bị túi phình và vỡ tim. Vùng không nhồi máu bị kích hoạt bởi sức căng thành tim gia tăng sẽ phì đại. Phì đại sợi cơ tim sẽ làm giảm bớt sức căng thành tim.
Hiện tượng tái cấu trúc thất như trên sẽ cải thiện chức năng tim trong giai đoạn đầu do cơ chế bù trừ nhưng thể tích của thất trái sẽ gia tăng. Về lâu dài buồng thất giãn ngày càng nhiều hơn, dẫn đến suy tim. Rối loạn chức năng cơ tim và tử vong sau tổn thương tế bào cơ tim thông qua nhiều cơ chế tác động và trở thành một vòng xoắn bệnh lý. Rối loạn chức năng thất trái là yếu tố tiên lượng ngắn hạn và lâu dài sau NMCT.
Tỷ lệ tử vong bệnh viện theo độ Killip I-IV lần lượt là 5,1%; 13,6%; 32,2% và 57,8%. Nhồi máu cơ tim NMCT tái phát ở những bệnh nhân NMCTKSTCL hoặc NMCTSTCL có thể biểu hiện tình trạng hoại tử cơ tim lan rộng thêm hoặc NMCT vùng mới [22]. Chẩn đoán NMCT tái phát dựa trên những dấu hiệu hoặc triệu chứng lâm sàng nghi ngờ với men tim tăng >20% so với nồng độ trước đó 3-6 giờ [10]. Tử vong Trước năm 1990, nghiên cứu GUSTO-IIb khảo sát ở 12.142 bệnh nhân HCVC: trong số bệnh nhân NMCTSTCL có 11% nong động mạch, và ở nhóm NMCTKSTCL và ĐTNKÔĐ được chụp mạch vành và tái tưới máu 8 chiếm 57% và 34%.
Tần suất tử vong ở 3 nhóm trong cùng thời điểm như sau: tử vong trong 30 ngày là 6,1% ở nhóm NMCTSTCL 5,6% ở nhóm NMCTKSTCL và 2,4% ở nhóm ĐTNKÔĐ; tử vong trong 6 tháng lần lượt là 8,0%-8,8%-5,0%; tử vong trong 1 năm lần lượt là 9,6%-11,1%-7,0% [18]. Bệnh nhân NMCTSTCL có tỷ lệ tử vong tại bệnh viện cao hơn so với bệnh nhân HCVCKSTCL (7% so với 5%), nhưng sau 6 tháng thì tỷ lệ tử vong ở 2 nhóm tương đương nhau (12% so với 13%). Tỷ lệ tử vong trong bệnh viện ở bệnh nhân NMCTSTCL tăng cao (theo thống kê của GRACE là 8% và Euro Heart Survey là 8,4% so với thử nghiệm GUSTO-V là 5,6-5,9%) [22]. Tiên lượng bệnh nhân hội chứng vành cấp 1.
Yếu tố lâm sàng tiên lượng bệnh nhân hội chứng vành cấp Các yếu tố quan trọng nhất giúp tiên đoán tử vong trong 30 ngày gồm: tuổi, huyết áp tâm thu và tần số tim lúc nhập viện, suy tim sung huyết, vị trí vùng nhồi máu, tiền sử bị NMCT [65]. Tuổi cao là yếu tố tiên lượng quan trọng và độc lập được báo cáo trong nhiều nghiên cứu. Tử vong tại bệnh viện là 28% ở bệnh nhân >85 tuổi và 3% ở bệnh nhân nhóm <55 tuổi, 17,2% ở bệnh nhân >70 tuổi sau 30 ngày trong GUSTO-1 và 1,1% ở tuổi <45 [52]. Bệnh nhân >65 tuổi góp phần tử vong trong 30 ngày là 31% và sau 6 tháng là 37% so với nhóm chứng [17].
Giới tính: phụ nữ bị NMCT có tỷ lệ tử vong trong 30 ngày cao hơn nam giới [52]. Điều này được giải thích do là những yếu tố lâm sàng kèm theo hơn sự khác biệt về giới như tuổi cao, bệnh kết hợp [33]. Bệnh nhân đái tháo đường, tăng huyết áp, tiền sử bị NMCT cũng tăng nguy cơ [52]. Khám lâm sàng cung cấp những thông tin ban đầu để phân tầng nguy cơ sau HCVC.