mở đầu hay kết thúc cuộc thoại. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phân tích diễn ngôn hội thoại 1. Ngữ cảnh Ngữ cảnh là một trong những khái niệm quan trọng trong phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn hội thoại.
Cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm về ngữ cảnh. Theo tác giả David Nunan, ngữ cảnh có nhiệm vụ quy chiếu tình huống gây ra diễn ngôn và tình huống trong đó diễn ngôn được gắn vào. Có hai loại ngữ cảnh khác nhau, một là ngữ cảnh ngôn ngữ, tức là gồm tất cả các yếu tố ngôn ngữ bao quanh hoặc đi kèm với sản phẩm diễn ngôn đang được phân tích, và hai là ngữ cảnh phi ngôn ngữ hoặc ngữ cảnh thuộc về kinh nghiệm mà trong đó diễn ngôn xảy ra. Loại ngữ cảnh thứ hai bao gồm tất cả các yếu tố ngoài ngôn ngữ như kiểu loại của sự kiện giao tiếp, mục đích sự kiện, bối cảnh, người tham dự giao tiếp.
và cả những hiểu biết cơ sở, những giả định làm cơ sở cho sự kiện giao tiếp. Một số nhà ngôn ngữ học khác thì cho rằng ngữ cảnh bao gồm hai loại là ngữ cảnh tình huống (context of situation) và ngữ cảnh văn hóa (context of culture), trong đó ngữ cảnh tình huống được hiểu là ngữ cảnh của một hiện tượng ngôn ngữ, của một văn bản, của một trường hợp cụ thể của ngôn ngữ. Nó có thể bao gồm sự hiểu biểu của những người tham gia giao tiếp, sự hiểu biết về không gian, thời gian, sự hiểu biết về phép xã giao trong xã hội., thậm chí nó còn bao gồm cả sự chấp nhận ngầm của người nói và người nghe về tất cả những quy ước, tiền đề được coi là đương nhiên trong cộng đồng của cả người nói lẫn người nghe. Trái lại, ngữ cảnh văn hóa được hiểu là ngữ cảnh của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống.
Nó bao gồm hàng loạt các nhân tố văn hóa như phong tục, tập quán, chuẩn tắc hành vi, quan niệm giá trị, sự kiện lịch sử, tri thức về tự nhiên và xã hội, về chính trị và kinh tế, tức toàn bộ các yếu tố cấu thành nên nền văn hóa của một cộng đồng dân tộc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Nhân vật giao tiếp Nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ, dùng ngôn ngữ để tạo ra các lời nói, diễn ngôn của cuộc thoại. Các nhân vật giao tiếp bị chi phối bởi nhiều yếu tố và nhiều mối quan hệ, trong đó mối quan hệ đóng vai trò quyết định là quan hệ liên cá nhân.
Mối quan hệ này có thể được xem xét dựa trên hai trục quan hệ là trục ngang (trục thân sơ) và trục dọc (trục vị thế xã hội, còn gọi là trục quyền lực hay quyền uy). Dễ có thể nhận thấy mối quan hệ tương thích giữa hai trục quyền uy và thân sơ bởi khoảng cách địa vị càng lớn, sẽ càng khó gần gũi nhau hơn. Đó cũng là lý do mà trong những cuộc thoại được tạo lập với người chưa từng quen biết, chúng ta sẽ thường phải dựa vào nhiều yếu tố bên ngoài (hành vi, cử chỉ, cách ăn mặc, cách chuyện trò …) để thăm dò vị thế xã hội của họ. Nguyên lý giao tiếp Muốn cho một cuộc hội thoại thành công, mỗi bên tham gia hội thoại cần tuân thủ những nguyên lý nhất định trong hội thoại, đó là nguyên lý cộng tác và nguyên lý lịch sự.
Những nguyên lý này chi phối, tác động mạnh mẽ tới quá trình hội thoại, cho phép giải thích những hàm ý ở mỗi lượt lời, những hình thức ngôn từ và cấu trúc của phát ngôn trong những tình huống giao tiếp cụ thể. * Nguyên lý cộng tác Nói đến nguyên lý cộng tác không thể không nhắc tới H. Grice, người lần đầu tiên đề xướng khái niệm này vào năm 1967, và về sau tiếp tục được ông phát triển, bổ sung trong các công trình nghiên cứu sâu hơn. Nội dung nguyên lý được tóm gọn trong một phát biểu bao trùm kèm thêm bốn tiểu nguyên lý còn được gọi là bốn phương châm: 1- Phương châm lượng: hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng thông tin đúng như nó được đòi hỏi cho mục đích của cuộc thoại; 2 - Phương châm chất: đừng nói điều mà mình tin là sai, đừng nói điều mà mình không có bằng chứng chính xác; 3 - Phương châm quan hệ: hãy đóng góp những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều có liên quan; 4 - Phương châm cách thức: hãy nói cho rõ ràng, đặc biệt tránh tối nghĩa, mơ hồ, và đảm bảo ngắn gọn, mạch lạc [6, tr.
Để cuộc thoại được diễn ra suôn sẻ và đạt đích cuối cùng, người tham gia giao tiếp cần tuân thủ các phương châm cơ bản nêu trên. Tuy nhiên, trong thực tế xuất hiện không ít những trường hợp vi phạm một trong những phương châm cơ bản khiến cuộc thoại có thể bị phá hủy hoặc bị làm chệch hướng. Điều quan trọng là người tham gia giao tiếp cần tỉnh táo nhận ra sự vi phạm ấy là vô tình hay cố ý để tiếp nhận và xử lý thông tin cho chuẩn xác. Trong rất nhiều trường hợp, vì tôn trọng phương châm này mà người đối thoại buộc phải vi phạm phương châm khác.
Trái lại, trong nhiều trường hợp, để nhằm đạt được mục đích giao tiếp của mình, người tham gia cuộc thoại đã cố tình vi phạm một trong các phương châm hội thoại. Thông qua việc sử dụng công cụ ngôn ngữ tạo hàm ý, họ muốn tác động tới đối tượng tiếp nhận hoặc gây hiện tượng mơ hồ nhằm thăm dò chủ ý của đối phương hoặc khai thác thêm thông tin hoặc biến chuyển cuộc thoại theo định hướng của mình. Sự vi phạm có chủ đích này được xem là chiến thuật của người tham gia giao tiếp và đôi khi nó mang lại hiệu quả khá cao. * Nguyên lý lịch sự Bên cạnh việc tuân thủ nguyên lý cộng tác thì nguyên lý lịch sự cũng là một trong những yêu cầu quan trọng giúp người tham gia giao tiếp kiến tạo nên thành công cho mỗi cuộc thoại.
Tuy nhiên, trong khi nguyên lý cộng tác quan tâm chủ yếu tới mục đích tìm kiếm hiệu quả tối ưu của việc trao đổi thông tin thì nguyên lý lịch sự lại đặc biệt chú ý tới mối quan hệ liên cá nhân giữa những người tham gia giao tiếp. Tính tế nhị, lịch sự trong giao tiếp sẽ có tác động tới toàn bộ các hiện tượng, quy luật và cấu trúc ngôn ngữ, đặc biệt nó ảnh hưởng rất mạnh tới các phát ngôn trong quá trình giao tiếp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dẫn theo công trình nghiên cứu “Lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt” của tác giả Tạ Thị Thanh Tâm, một trong những cái tên được xướng danh đầu tiên khi đề cập đến nguyên lý lịch sự là R. Lakoff, nữ tác giả đi đầu trong việc nghiên cứu lịch sự dưới cái nhìn ngôn ngữ học.
Lakoff đánh giá rất cao quan điểm nguyên lý cộng tác của Grice, tuy nhiên khác với Grice, bà mở rộng một số khái niệm gắn liền với ngữ cảnh trong giao tiếp, trong đó có lịch sự. Theo Lakoff, lịch sự là tôn trọng nhau, nó là biện pháp được sử dụng để giảm bớt trở ngại trong tương tác giữa các cá thể. Với quan điểm như vậy, Lakoff đã đề ra ba quy tắc lịch sự. Một là quy tắc lịch sự quy thức, tức không được áp đặt.
Quy tắc này có tính phi cá nhân (chủ yếu dùng trong lễ nghi, ngoại giao), thích hợp với những hội thoại mà người tham gia giao tiếp có những khác biệt nhất định về quyền lực, cương vị, tức vị thế giao tiếp. Quy tắc thứ hai là để ngỏ sự lựa chọn, được áp dụng trong giao tiếp thông thường, trong đó các bên tham gia hội thoại có cương vị xã hội và quyền lực gần như tương đương nhau nhưng không gần gũi về mối quan hệ xã hội (người mua hàng và bán hàng, người không quen biết. Khuyến khích tình cảm bạn bè là nội dung quy tắc thứ ba, và quy tắc này thường được áp dụng trong những trường hợp người tham gia giao tiếp có mối quan hệ gần gũi, thân mật. Bên cạnh Lakoff, G.
Leech cũng là một cái tên không thể thiếu khi nhắc tới quan điểm lịch sự. Dựa trên hai khái niệm “tổn thất” (cost) và “lợi ích” (benefit), tác giả cho rằng, có những hành động mang bản chất cố hữu là không lịch sự (như ra lệnh chẳng hạn), và có những hành động mang bản chất lại là lịch sự (như khen, tặng), vì thế mục đích của mọi ứng xử ngôn ngữ cần “tối thiểu hóa những lối nói bất lịch sự và tối đa hóa những lối nói lịch sự”. Goffman thì lại có cái nhìn khác, ông cho rằng, điều quan trọng nhất khi nghiên cứu về lịch sự là vấn đề thể diện bởi thể diện của mỗi một con người có liên quan đến sự tồn tại về phương diện xã hội – tâm lý của một cá nhân trong giao tiếp. Do đó, trong giao tiếp, mỗi cá nhân cần thực hiện những điều cần thiết để các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hành động của mình giữ được thể diện cho mọi người và cho chính mình.
Quan điểm này về sau tiếp tục được hai tác giả P.Levinson bổ sung, phát triển. Theo Brown và Levinson, để đạt được mục đích lịch sự, bên cạnh những quy ước chung, mỗi cộng đồng thường tạo dựng cho mình những quy ước, chuẩn mực riêng, sao cho các hành động ngôn từ tự thân khi sử dụng không làm tổn thương đến thể diện âm tính – được hiểu là sự mong muốn về việc hành động của mình không bị người khác cản trở, mong muốn được tự do hành động, và thể diện dương tính – được hiểu là sự mong muốn hình ảnh cái tôi của mình được người khác khẳng định, tôn trọng. Vị thế xã hội và vị thế giao tiếp Trong thực tế, vị thế xã hội của mỗi một người được quy định bởi các yếu tố như địa vị xã hội, tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính., trong đó hai yếu tố đóng vai trò quan trọng là yếu tố tuổi tác và địa vị xã hội. Đôi khi, các yếu tố này xuất hiện đồng thời trên cùng một trục, quy định việc sử dụng và tạo lập ngôn ngữ của các nhân vật tham gia giao tiếp.
Do đó, cần sắp xếp theo thứ tự ưu tiên nhằm đạt hiệu quả giao tiếp cao. Việc sắp xếp này không chỉ dựa vào cảm quan của người tham gia giao tiếp mà còn phụ thuộc nhiều vào những định chế văn hóa và quy tắc ứng xử của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó.