CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ CAO SU THIÊN NHIÊN 1.1 Giới thiệu chung về cây cao su 1.1 Lịch sử phát triển cây cao su ở Việt Nam Cây cao su có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Vào khoảng năm 1840, hạt cây cao su được lấy từ lưu vực sông Amazon, đưa gửi sang Anh để ươm trồng và cuối cùng đưa sang Nam Á và Đông Nam Châu Á để trồng. Ở Việt Nam, cây cao su bắt đầu được gieo trồng từ năm 1897. Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, có khả năng thích ứng rộng, tính chống chịu với điều kiện bất lợi cao và là cây bảo vệ môi trường nên nhiều nước có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thích hợp quan tâm phát triển trên qui mô diện tích lớn.
Hạt cao su được nhập vào Việt Nam năm 1897. Năm 1906, các đồn điền cao su đầu tiên được xây dựng tại Đông Nam Bộ. Từ năm 1906 đến 1920, diện tích hàng năm tăng gần 500 ha. Năm 1920, có 7077 ha cao su được trồng và sản lượng là 3000 tấn.
Từ năm 1921 đến 1944, ngành cao su đã phát tri ển nhanh chóng với mức tăng hàng năm là 4000 - 6000 ha. Trong năm 1944, tổng diện tích là 108.400 ha và sản lượng là 42. Năm 1958, cây cao su được trồng thử nghiệm tại miền Bắc Việt Nam và được trồng với qui mô lớn kể từ năm 1961. Cho đến năm 1975, diện tích cao su khoảng 5000 ha tại khu vực này [3].2 Điều kiện sinh thái của cây cao su Tại Việt Nam cao su sinh trưởng tốt trong giới hạn vĩ độ địa lý từ 15 độ vĩ Bắc đến 5 độ vĩ Nam.
Cao su sinh trưởng tốt trên các loại đất như đất feralit vàng đỏ hay vàng nhạt, đất bazan nâu đỏ, hoặc nâu vàng trên phù sa cổ (Cục Nông Nghiệp). Khu vực sinh thái phù hợp để trồng cây cao su phải có các điều kiện: độ cao dưới 700 m không bị ngập úng, không có tầng sỏi, đá trong phạm vi độ sâu 80 cm cách mặt đất. Độ dốc dưới 30 %, nhiệt độ bình quân năm t ừ Luận văn tốt nghiệp Trang 1 SVTH: Lê Đức Anh GVHD: TS.Nguyễn Quang Khuyến 25 oC đến 28 oC, với lượng mưa trung bình năm trên 1500 mm, giờ nắng trung bình hàng năm hơn 1600 giờ. Vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và một số khu vực tại Nam Trung Bộ là những nơi có điều kiện khí hậu và đất đai phù hợp với cây cao su, nên diện tích cao su phần lớn được trồng ở các khu vực này.
Trong đó, Đông Nam Bộ là khu vực có diện tích lớn nhất (399.2 Sự phát triển và triển vọng của cao su thiên nhiên 1.1 Tình hình phát triển cao su thiên nhiên trên thế giới Cây cao su thiên nhiên với tên gọi là Hevea brasiliensis có nguồn gốc từ Brasil là cây có giá trị kinh tế lớn nhất trong chi Hevea. Chất nhựa của cây, nhựa mủ-latex là nguồn chủ lực trong sản xuất cao su tự nhiên. Khi cây đạt độ tuổi 5 - 6 năm thì ngư ời ta bắt đầu thu hoạch nhựa mủ cho đến khi khi đạt độ tuổi 26 - 30 năm. Ngoài ra, gỗ cao su được sử dụng trong sản xuất đồ gỗ có giá trị cao, được coi là loại gỗ "thân thiện môi trường", do người ta chỉ khai thác gỗ sau khi cây cao su đã kết thúc chu trình sản sinh nhựa mủ.
Thời vàng son của cao su thiên nhiên, mệnh danh là vàng trắng ở các thập niên 1910 - 1940, lúc đó giá cao su thiên nhiên là 0,45 - 0,50 USD/kg. Do lợi lộc rất lớn do cao su mang lại, nên các ông chủ đồn điền cao su đã thúc đẩy trồng cao su phát mạnh trên các vùng đất phì nhiêu vùng nhiệt đới. Nhưng do giá cao su tự nhiên cao, nên người ta cũng đã tìm cách chế tạo ra cao su nhân tạo, cao su tổng hợp nhóm elastomers, thay thế cao su thiên nhiên. Các elastomers tổng hợp cạnh tranh mạnh với cao su thiên nhiên là polychloroprene, SBR, polybutadiene, EPDM, polyurethane, butyl rubber, polypropylene.
Do ảnh hưởng của khủng hoảng năng lượng thập niên 70 nên vào thập niên 80, tiêu thụ cao su nhân tạo thay thế đã chiếm 70 % tổng số nhu cầu cao su của thế giới (cao su thiên nhiên chỉ còn 30 %). Ngày nay, mức tiêu thụ và giá cả cao su thiên nhiên có xu hướng tái gia tăng do giá dầu lửa tăng và công nghệ dùng nhiều cao su thiên nhiên tăng nhất là công nghệ xe hơi các nước như Trung Quốc, Ấn Độ. Mặt khác, khuynh hướng tiết kiệm năng lượng hóa Luận văn tốt nghiệp Trang 2 SVTH: Lê Đức Anh GVHD: TS.Nguyễn Quang Khuyến thạch (fosssil fuel) thay bằng sản phẩm tái sinh thiên nhiên, thân thiện môi trường phát triển. Năm 2001, giá cao su thiên nhiên lên mức cao nhất sau 27 năm giá thấp vào ngày 13/6/2001, giá lên đến 2,81 USD/kg ở thị trường Tokyo.
Theo ước lượng của các chuyên gia quốc tế, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên nhiên sẽ phục hồi đến 40 % ở cả hai loại cao su vào năm 2015. Mức gia tăng tiêu thụ cao su thiên nhiên sẽ vào khoảng 2,4 % trên năm từ 2007 đến 2015. Sản phẩm sơ chế thành nguyên liệu cao su thiên nhiên xuất khẩu cũng đa d ạng hơn từ phổ biến dạng xông khói RSS đến các dạng cao su thiên nhiên kỹ thuật đặc thù (TRS, RSS), cao su đen vớt lớp mặt, crape, mủ cô đặc. Trong công nghiệp, 70 % cao su thiên nhiên được dùng để làm thành các chất dính, lớp dưới thảm, các đai dây chuyền máy, các linh kiện tế bào và bột nổi, các ổ quay cầu, bộ phận xe hơi, các đồ thổi phồng được.
Những ứng dụng mà cao su nhân tạo không thay thế được cao su thiên nhiên là các lốp xe tải chở nặng, các lốp xe buýt, máy bay hay nhựa latex ở ngành y khoa v.v… Ngành làm lốp xe tiêu thụ gần 70 % cao su thiên nhiên trên thế giới và mức thay thế bằng cao su nhân tạo những thập niên qua chỉ vào khoảng 2 % một năm. Như vậy, cao su là loại cây có tương lai phát triển đầy triển vọng cùng với tương lai phát triển của các ngành công nghiệp hùng mạnh trên thế giới. Sự phát triển của ngành cao su trong đó có cao su thiên nhiên gắn liền với sự phát triển của những ngành kỹ thuật hiện đại, gắn liền với sự phát triển ngành dầu mỏ - thực chất là gắn liền với tăng trưởng kinh tế thế giới.2 Tình hình phát triển cao su ở Việt Nam 1.1 Giai đoạn trước năm 1990 Cây cao su được du nhập vào VN được trên 110 năm (kể từ 1897). Thời rực rỡ của trồng và sản xuất cao su thiên nhiên ở Việt Nam là các năm 1920 - 1940.
Năm 1930 đã khai thác trên 10.000 ha, sản xuất 11.000 tấn, trên diện tích khai thác gần 70. Nhờ chính sách khuyến khích của chính quyền thuộc địa, chính sách đất đai và chính sách Luận văn tốt nghiệp Trang 3 SVTH: Lê Đức Anh GVHD: TS.Nguyễn Quang Khuyến cho vay lãi suất thấp, tư bản Pháp đã thi ết lập các đồn điền lớn như Công ty Đất đỏ, SIPH, Công ty đồn điền Michelin, ở các tỉnh miền Đông và ở Tây Nguyên. Xuất khẩu cao su và gạo lúc đó là “hai vú sữa cho nền kinh tế Việt Nam”. Cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60, Việt Nam phát động phong trào cao su tiểu điền như Malaysia, Indonesia và Thailand, nhưng với nét khác biệt là chương trình cao su dinh đi ền.
Các tiểu điền cao su dinh điền thiết lập liên canh, liên địa thành diện tích lớn với các dòng năng su ất cao lúc đó là GT1, PB86… Chương trình cao su dinhđi ền dự trù phát triển đến 200.000 ha ở những vùng sinh thái thích hợp như miền Đông Nam bộ, các tỉnh Tây Nguyên. Trong hơn 5 năm, từ 1958 đến 1963, diện tích cao su dinh điền đã lên đ ến 30. Năm 1962, chương trình cao su đư ợc khuyến khích tài trợ và giúp đỡ kỹ thuật cho các tư nhân Viêt Nam. Chươngình tr cao su Viêt Nam d ự tính diện tích cao su tiểu điền có năng suất cải thiện là 500.000 ha, nghĩa là bằng diện tích cao su tiểu điền Malaysia và Indonesia các thập niên này.
Tuy nhiên, chiến tranh tàn khốc đã làm tan hoang các đ ồn điền công ty và nhất các cao su tiểu điền dinh điền. Trong thập niên 1970, chích sách phát triển kinh tế tập thể đã không còn hỗ trợ phát triển tư nhân tiểu điền cao su nữa. Theo thống kê năm 1976, tổng diện tích cao su mới chỉ có 76.600 ha, riêng các tỉnh phía Bắc có khoảng 5.000 ha, với sản lượng 40. Trong thập niên 80, chính sách đổi mới bắt đầu cho phép tiểu nông thuê khai thác tiểu điền, đã đem l ại phần nào sinh khí cho ngành cao su Viêt Nam.
Tuy nhiên, do giá cao su vào thập niên thập niên 80 giảm mạnh, các tiểu điền cũng như đồn điền cũ chưa tạo ra được bước phát triển đáng kể cho ngành cao su Việt Nam.2 Giai đoạn sau năm 1990 đến nay Sau khi Liên Xô tan rã, diện tích cao su không phát triển được vào những năm đầu thập niên 90. Năm 1990, diện tích cao su Việt Nam là 250.000 ha và sản lượng là 103.000 tấn, diện tích cao sản chỉ khoảng 15 %, trong khi Luận văn tốt nghiệp Trang 4 SVTH: Lê Đức Anh GVHD: TS.Nguyễn Quang Khuyến đó Thái Lan có 1.000 ha, với 52 % diện tích cao sản, mức sản xuất mủ khô là 1.000 ha, nhưng sản lượng ít hơn Thái Lan 1. Nhờ chủ trương phát triển kinh tế thị trường những năm 90, cao su tiểu điền lại được khuyến khích phát triển, và cũng trong th ời kỳ này giá cao su xuất khẩu đã lên đến đỉnh với 1.500 USD/tấn, và ngành cao su khởi sắc trở lại. Đến năm 2000 sản lượng cao su đạt 290,8 ngàn tấn.
Trước tình hình cạnh tranh đất trồng giữa các loại cây công nghiệp khác có cùng yêu cầu sinh thái như cà phê, hồ tiêu, cây ăn quả. chính phủ đã chủ trương chỉ phát triển ngành cao su với quy mô 400. Tuy nhiên, đến năm 2001 diện tích cao su trên toàn quốc đã lên t ới trên 405.000 ha, và các địa phương vẫn tiếp tục ủng hộ phát triển cao su, nhất là các tỉnh duyên hải miền Trung. Trước năm 2005, Việt Nam là nước sản xuất cao su thiên nhiên đứng thứ 6 trên thế giới (sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Ấn Độ, và Trung Quốc).
Vị thế của ngành cao su Việt Nam trên thế giới ngày càng được khẳng định.