CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.Giới thiệu Cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, đó là cuộc cách mạng của khoa học công nghệ, là sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ thông tin được ứng dụng nhiều trong mọi mặt của đời sống, đem lại sự đổi mới và mang lại giá trị kinh tế cao hơn trước rất nhiều. Tuy nhiên, cái mới không ngừng phát triển, đồng nghĩa là những thứ cổ xưa sẽ dần bị thay thế, không còn giá trị nữa. Và một trong những thứ đó là những di sản văn hóa của thế giới nói chugn và Việt Nam nói riêng. Di sản văn hóa là những thành tựu văn hóa, truyền thống mà người xưa đã đúc kết rất lâu mới hình thành được, mà giờ đây lại dần bị mai một theo thời gian và đang đứng trước nguy cơ bị biến mất.1:11 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận ( tính đến năm 2017) Dù di sản văn hóa ngày nay càng ngày càng được chú trọng bảo tồn và phát triển.
Đặc biệt là sự công nhận của UNESCO với các di sản văn hóa của Việt Nam là một nguồn động viên khích lệ rất lớn, làm tăng lên nhiều lần giá trị cho các di sản văn hóa của chúng ta. Tuy vậy, theo thống kê của Cục Di sản Văn Hóa (Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch), hiện nay có hơn 248 di sản văn hóa phi vật thể trên cả nước đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Từ số liệu trên ta hoàn toàn có thể thấy sự mâu thuẫn giữa cái được quan tâm và biết đến so với tổng thể. Qua đó cho thấy vẫn 1 còn rất nhiều di sản của chúng ta bị bỏ quên, và rồi dần dần ta sẽ dần mất đi từng bản sắc dân tộc của chúng ta.
Vào ngày 23/11/2019, đúng vào Ngày Di sản Văn Hóa Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dã dự lễ hiễn tặng thành quả nghiên cứu và bảo tồn của các nhà nghiên cứu văn hóa. Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng cho rằng: Trải qua hàng ngàn năm văn hiến của đất nước, văn hóa được coi là một sức mạnh nền tảng trong xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong mọi tiến trình dựng nước và giữ nước. Trong đó, bản sắc văn hóa là một trong những yếu tố cốt lõi tạo nên bản sắc dân tộc. Dân tộc nào giữ được bản sắc của mình thì dân tộc đó mãi trường tồn.
Dựa vào văn hóa, phải biến văn hóa trở thành di sản và tạo sinh kế cho người dân.2: Thủ tướng Nguyễn Xuấn Phúc tặng hoa Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Hải Liên Qua đó ta thấy rằng, việc phải bảo tồn di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Phải làm từ di sản văn hóa đó tạo dựng phát triển nền kinh tế như những nước giàu di sản như ( Trung Quốc, Tây Ban Nha, Italia) đã làm và họ đã giàu mạnh. Phải làm sao để truyền bá phổ biến qua các thế hệ các di sản văn hóa đó để bản sắc của một dân tộc có thể trường tồn mãi mãi, tạo dựng lòng đoàn kết vững bền cho cả một dân tộc để rồi cùng nhau hùng mạnh hơn. Nghệ thuật múa rối ở Việt Nam và thế giới Múa rối là một hình thức trình diễn sân khấu liên quan đến các con rối.
Đây là một nghệ thuật trình diễn cổ xưa, được ghi nhận có nguồn gốc từ 3000 năm trước công nguyên trên toàn thế giới. Hiện nay, múa có rất nhiều biến thể trên toàn thê giới, 2 nhưng điểm chung của chúng là điều khiển những con rối vô tri vô giác, biến chúng từ vô tri thành chuyển động nhịp nhàng, từ vô hồn thành có hồn và đầy cuốn hút, múa rối được biểu diễn trong các lễ hội truyền thống, trở thành đai diện cho một dân tộc, một vùng miền hay một quốc gia. Về nghệ thuât múa rối nói chung thì trên thế giới hiện nay có rất nhiều biến thể, từ rối bóng Indonesia, múa rối Bunraku Nhật Bản, rối dây Trung Quốc, rối đen Mỹ hay múa rối nước của Việt Nam ta.3: Rối bóng Indonesia và rối Bunraku Nhật Bản Múa rối là một hình thức rất đặc biệt, nó thực sự là một sản phẩm văn hóa đại diện cho một quốc gia, nó được xuất hiện sớm, là tiền đề cho nghệ thuật trình diễn sân khấu như bây giờ. Có thể nói rằng thông qua hình ảnh loại hình đó người ta có thể nhận ra nó đại diện cho người dân nước nào, cho thấy tín ngưỡng, trang phục hay tính cách đại diện cho quốc gia đó.
Đặc điểm chung của nghệ thuật rối cả thế giới là để điều khiển chúng phải đòi hỏi sự khéo léo, kỹ thuật điều khiển cao, điêu luyện của người nghệ nhân. Chính người nghệ nhân sẽ thổi hồn và quyết định sự thành công của vở diễn, họ sẽ quyết định đến sự sinh động và thu hút của loại hình đó.4: Các nghệ nhân đang điều khiển rối dây Trung Quốc Tuy đa dạng là thế, rộng rãi là thế nhưng để phát triển, duy trì những sản phẩm nghệ thuật đó, không phải là dễ, vì thế đòi hỏi phải có hướng đi phát triển đúng đắn phù hợp cho từng loại hình riêng của nó, khắc phục được những hạn chế và phát huy những điệm mạnh thì mới mong nó bền vững và phát triển mạnh mẽ được. Chẳng hạn như với nghệ thuật rối Bunraku của Nhật bản, Chính phủ Nhật bản đã có những sự hỗ trợ rất lớn để giúp cho sự phát triển của loại hình này. Đặc điểm của Bunraku, là một hình thức rối trên cạn, với các con rối được biểu diên bởi một người nghệ nhân đứng ngay sau, được đội nón đen để che mặt, kích thước rối có thể to bằng người hoác bé hơn, tùy vào nhân vât rối được diễn, và có một người sẽ đọc hết lời thoại và nội dung câu chuyện được diễn đó, người nghệ nhân sẽ điều khiển hành động của rối tùy theo âm điệu và hoàn cảnh lời nói của nhân vật.
Với chính sách bảo tồn di sản văn hóa quốc gia, Nhật Bản đã tạo ra riêng một nhà biểu diễn rối Bunraku ở thành phố Osaka để thu hút khách du lịch về di sản văn hoa này. Bên cạnh đó, Nhật Bản còn thành lập các đoàn diễn mỗi ngày với những vở kịch bé và vài tháng một lần với vở kịch lớn, tổ chức những tour lưu diễn trên thế giới qua Mĩ, Nga và Austraylia để phổ biến ra thế giới. Lập các nghành học về Bunraku ở một số trường Đại học để tiếp tục phát triển loại hình này. Lập Đoàn múa rối truyền thống Nhật Bản đầu tiên ở Bắc Mỹ và đặt trụ sở tại Đại học Missouri ở Columbia.5: Nhà hát rối quốc gia Bunraku ở Osaka ( Nhật Bản).
Chính những bước đi của Nhật bản về phát triển loại hình di sản văn hóa phi vật thể, vốn đã bị bỏ quên và có nguy cơ cao bị biến mất, dần dần được sống lại, được tiếp tục giữ gìn và bảo tồn. Sử dụng những di sản được tổ tiên tích lũy lại để tạo tính thương mại, tạo nguồn kinh tế để từ đó vừa giữu được truyền thống dân tộc vừa thúc đẩy tăng trưởng nghành du lịch và nền kinh tế tốt, làm tăng GDP của chính quốc gia này một cách đáng kể. Đó là một hướng đi rất tốt trong việc bảo vệ các di sản văn hóa. Còn ở Việt Nam hiện nay, múa rối có rất nhiều thể loại xuất phát từ xa xưa, từ những hình thức rối trên cạn chủ yếu ở các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa, với ý nghĩa ban đầu con rối là một nhân vật thiêng liêng và mang nhiều ý nghĩa tâm linh khác nhau, nhưng dân theo thời gian trở thành di sản văn hóa phi vật thể của nước ta.
Các dân tộc miền núi phía Bắc, Tày, Nùng, Thái, Dao hay diễn những thể loại rối từ Trung Quốc đi sang. Ở miền Trung và Nam, thì người Chăm có rối tay, rối bóng, nguồn gốc từ Ấn Độ giáo. Hay các dân tộc Tây Nguyên, Khmer Nam Bộ, diễn nhiều trò như: Rối dây, rối que, rối bóng… mang nhiều dấu tích vùng Đông Nam Á du nhập vào nước ta từ xa xưa, được biến thể và phù hợp với văn hóa truyền thống của dân ta.6: Múa rối dây và múa rối cạn tại Việt Nam Ngoài hình thức múa rối cạn, thì ở Việt Nam còn có loại hình rối nước, đã có từ lâu đời và là một nét thực sự rất riêng của Việt Nam, nghệ thuật rối nước được biết đến và chơi nhiều ở miền Bắc bộ và cho đến nay đã được phổ biến ra miền Trung và miền Nam. Hiểu được giá trị của bộ môn nghệ thuật riêng biệt này của nước ta, nước ta đã có nhiều bước đi rõ nét để khôi phục bộ môn nghệ thuật này.
Vào ngày 10/10/1969, tại Hà Nội, Nhà hát múa rối Thăng Long đã được thành lập với mục đích đổi mới phục hồi rối nước tạo cơ hội phát triển múa rối trên cả nước. Ban đầu một tuần 3 buổi phục vụ khán giả trong nước. Dần theo đà phát triển, việc đầu tư vào Nhà hát Thăng Long đã đem lại những kết quả rất khả quan. Đến năm 2013, theo thông tin từ nhà hát, doanh thu mỗi năm đạt 37 tỷ đồng, một con số thực sự đáng mơ ước với một bộ môn nghệ thuật truyền thống, các show diễn liên tục mỗi ngày.
Nhà hát múa rối nước Thăng Long đã đạt được kỷ lục Châu Á, là đơn vị có tần suất dịch vụ giải trí cao nhất, diễn 365 ngày không nghỉ ngày nào.7: Nhà hát múa rối Thăng Long tại Hoàn Kiếm, Hà nội Qua đó cho thấy các di sản văn hóa của Việt Nam nói chung và trên thế giới nói riêng hoàn toàn có thể phát triển giữ gìn và đem lại lợi ích kinh tế nếu như được quan tâm đúng mức, có đường lối phát triển đúng đắn.Múa rối nước - Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia Di sản văn hóa phi vật thể múa rối nước - Nghệ thuật độc đáo của Việt Nam có nguồn gốc từ đồng bằng sông Hồng ở thế kỷ thứ 11 vào triều đại nhà Lý.Theo thời gian nghệ thuật múa rối đã đạt đến trình độ mang lại giá trị cao về tinh thần. Nguồn tài liệu hiếm hoi ghi lại sự có mặt cảu loại hình này từ rất sớm là được ghi chép trên Bia “Sùng Thiện Diên linh tự pháp” có niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2(1121) thời Lý Nhân Tông. Trên bia có ghi rằng: “ Thả rùa vàng đội ba ngọn núi, trên mặt sóng dập dờn.