Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Cầu trùng là động vật đơn bào có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục (phụ thuộc vào từng loài cầu trùng). Cầu trùng ký sinh chủ yếu ở tế bào biểu mô ruột của nhiều loài gia súc, gia cầm và cả ở người. Phân loại cầu trùng ở gia súc, gia cầm chủ yếu dựa vào đặc điểm về hình thái, kích thước, màu sắc, vị trí ký sinh, thời gian sinh bào tử. CẦU TRÙNG GIỐNG EIMERIA KÝ SINH Ở THỎ 1.
Thành phần loài cầu trùng ở thỏ Theo Kolapxki N. (1980) [55], vị trí của cầu trùng trong hệ thống động vật nguyên sinh như sau: Ngành Protozoa Lớp Sporozoa Lớp phụ Coccidiomorpha Bộ Coccidia Họ Eimeridae Giống Eimeria Loài Eimeria stiedae (Lindemann, 1864) Eimeria perforans (Leuckart, 1879) Eimeria media (Kessel, 1929) Eimeria magna (Perard, 1925) Eimeria irresidua (Kessel và Jankiewicz, 1931) Eimeria coecicola (Cheissin, 1947) Eimeria intestinalis (Kheisin, 1948) Eimeria exigua (Yakimoff, 1934) Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã phát hiện được 25 loài Eimeria ký sinh và gây bệnh cho thỏ. và cs (1998) [134], tỷ lệ các loài cầu trùng gây bệnh cho thỏ như sau: E. Có 90% thỏ bị nhiễm 2 hoặc 3 loài n 4 cầu trùng.
và cs (2003) [87] đã kiểm tra 254 thỏ hoang tại Pháp phát hiện thấy 10 loài cầu trùng ký sinh là: E. và cs (2006) [60] cho biết, có 10 loài cầu trùng ký sinh ở thỏ giống thịt là E. stiedae và tỷ lệ nhiễm chung là 81,82%. Theo Lê Văn Năm (2006) [38], có ít nhất 5 loài cầu trùng ký sinh và gây bệnh cho thỏ là: E.
(1998) [92] cho rằng, trong một thỏ hoang đồng thồi cũng nhiễm rất nhiều loài cầu trùng. Trong tổng số 20 con thỏ ở Riyadh, Ả-rập Xê-út được thu thập tại các thị trường thỏ, các nhà nghiên cứu đã giải phẫu và kiểm tra bằng phương pháp phù nổi thấy 100%, một số cơ quan nội tạng như tá tràng thỏ dương tính với cầu trùng (Long et al. Kasim và Al-Shawa (1987) [100] cho biết, đã xác định có 9 loài Eimeria nhiễm trên thỏ ở Ả-rập Xê-út. Eimeria là giống cầu trùng ký sinh phổ biến nhất ở thỏ và gây bệnh nặng nhất trong đường tiêu hoá thỏ (Coudert, 1989 [77]; Licois và Coudert, 1982 [139]; Ceré et al.
Nguyễn Hữu Hưng và cs (2008) [23] đã xác định có 5 loài cầu trùng ký sinh trên thỏ nuôi tại thành phố Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng, đó là: E. 14/15 loài Eimeria được biết đến là gây nhiễm chủ yếu ở ruột của thỏ (Li M. Eimeria ký sinh trong các phần riêng biệt của ruột như: manh tràng, kết tràng….và ở các độ sâu khác nhau của niêm mạc (Pakandl, 2008 [113]). Eimeria perforans được xác định ký sinh, phát triển và gây tổn thương nhẹ ở tá tràng của ruột thỏ (Pakandl, 2009 [114]).
Các giai đoạn nội sinh của Eimeria đã được nghiên cứu lần đầu tiên bởi Wiesenhixtter E. Đến nay, đã có 3 công trình nghiên cứu về xác định các loài Eimeria n 5 khác nhau ở thỏ và dịch tễ học của chúng tại Ả-rập Xê-út (Kasim và Al-Shawa, 1987 [100]; Toula và Ramadan, 1998 [134] và Bashtar et al., 2003 [65]); có 2 công trình nghiên cứu về các giai đoạn nội sinh của Eimeria magna nhiễm ở thỏ nuôi tại Ả-rập Xê-út (Shazly et al, 2005 [128] và Ghamdy et al. Đặc điểm hình thái, kích thước các loài cầu trùng ở thỏ đã được nghiên cứu - Eimeria stiedae: các Oocyst hình bầu dục hay hình elip, màu vàng nâu, vỏ Oocyst trơn nhẵn, có lỗ noãn ở phần hẹp của Oocyst. Sau giai đoạn sinh sản bào tử trong Oocyst và trong bào tử có những thể cặn.
Kích thước Oocyst 30 - 48 x 16 - 25 µm, trung bình là 37,5 x 24,5 µm. Sinh bào tử kéo dài tối đa là 3 - 4 ngày. Chu kỳ nội sinh tiến triển trong biểu bì ống dẫn mật (Fidamann, 1865; Kisskalf và Hartmann, 1970). Theo dẫn liệu của Kolapxki N.
(1980) [55] - Eimeria perforans: Oocyst có dạng elip hay tròn. Lỗ noãn trông rõ ở những Oocyst lớn, còn Oocyst bé thì không rõ. Vỏ Oocyst không màu, kích thước 13,3 - 30,6 x 10,6 - 17,3 µm, trung bình là 20,3 - 24,5 x 12,4 - 15,3 µm. Loài cầu trùng này thường hay gặp nhất trong ruột thỏ.
Sau thời kỳ sinh bào tử các thể cặn hình thành trong Oocyst và trong bào tử. Thời gian sinh bào tử 24 - 48 giờ. Theo tài liệu của Khâyxin E. Theo dẫn liệu của Kolapxki N.
- Eimeria media: Oocyst hình bầu dục nhưng có thể có dạng elip. Lỗ noãn trông rất rõ, có thể thấy bề dầy lớp vỏ ngoài. Vỏ Oocyst màu vàng sáng hay nâu vàng, kích thước: 18,6 - 33,3 x 13,3 - 21,3 µm. Sau thời kỳ sinh bào tử hình thành các thể cặn trong Oocyst và trong bào tử.
Thời gian sinh bào tử 2 - 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh trong tá tràng và phần trên ruột non (Kessel, 1929). Theo dẫn liệu của Kolapxki N. - Eimeria magna: Oocyst hình bầu dục, lỗ noãn trông rất rõ, trong lỗ noãn thấy được vỏ ngoài dầy.
Vỏ Oocyst màu vàng da cam hay nâu. Sau thời kỳ sinh bào tử có thể cặn trong Oocyst và bào tử. Kích thước Oocyst 26,6 - 41,3 x 17,3 - 9,3 µm, n 6 trung bình là 32,9 - 37,2 x 21,5 - 25,5 µm. Sinh sản bào tử từ 3 - 5 ngày.
Phát triển nội sinh ở phần giữa và phần dưới ruột non. Đôi khi các bào tử loài này còn thấy trong manh tràng và trực tràng (Perard, 1925). Theo dẫn liệu của Kolapxki N. - Eimeria irresidua: Các Oocyst hình elip hay bầu dục, phần cuối Oocyst mở rộng ở đó có lỗ noãn.
Oocyst màu nâu sáng hay nâu tối. Kích thước 25,3 - 47,8 x 15,9 - 27,9 µm, trung bình là 35 - 40 x 20 - 23 µm, sau thời kỳ sinh sản bào tử chỉ trong bào tử có thể cặn. Sinh sản bào tử 3 - 4 ngày. Chu kỳ phát triển nội sinh ở phần giữa ruột non (Kessel và Jankiewiez, 1931).
Theo dẫn liệu của Kolapxki N. - Eimeria piriformis: Oocyst hình quả trứng hay hình quả lê, màu nâu vàng. Ở phần hẹp của Oocyst có lỗ noãn trông rất rõ. Kích thước Oocyst 26 - 32,5 x 14,6 - 19,5 µm, trung bình là 29,6 - 31,7 x 17,7 - 18,5 µm.
Chỉ có thể cặn trong bào tử sau khi sinh bào tử. Phát triển nội sinh trong ruột già, chủ yếu là những khe biểu bì. Theo dẫn liệu của Kolapxki N. - Eimeria coecicola: Trong một thời gian dài người ta coi cầu trùng này như loài Eimeria magna hay Eimeria media, sau đó những nghiên cứu của Khâyxin E.
(1967) cho thấy, các Oocyst của Eimeria coecicola khác với hai loài kể trên về mặt hình thái và sinh vật học. Nó có hình trụ hay hình bầu dục. Lỗ noãn trông rất rõ. Oocyst màu vàng sáng hay nâu sáng.
Kích thước 25,3 - 39,9 x 14,6 - 21,3 µm, trung bình là 33,1 - 35,5 x 16,9 - 19,6 µm. Hình thành thể cặn trong bào tử và Oocyst sau thời kỳ sinh sản bào tử. Thời gian sinh bào tử gần 3 ngày. Cầu trùng phát triển nội sinh ở phần dưới ruột non.
Các giao tử cầu trùng này có thể gặp cả trong manh tràng (Cheissin, 1947) [76]. - Eimeria intestinalis: Loài cầu trùng này trước đây người ta coi như Eimeria pirifomis, sau đó phân nó thành một loại độc lập (Khâyxin E. Oocyst Eimeria intestinalis có dạng quả lê hay quả trứng, lỗ noãn trông rất rõ, xung quanh có n 7 màng dầy, mềm. Vỏ Oocyst màu nâu sáng hay vàng sáng.
Kích thước 21,3 - 35,9 x 14,6 - 21,2 µm, trung bình 27,1 - 32,2 x 16,9 -19,8 µm. Sau thời kỳ sinh sản bào tử, cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì nhung mao và các khe ở phần dưới ruột non và ruột già (Cheissin, 1948). Theo dẫn liệu của Kolapxki N. - Eimeria exigua: Oocyst có dạng hình tròn hoặc hình bầu dục.
Vỏ Oocyst màu vàng nhạt hoặc không màu. Kích thước trung bình 28,0 x 18,0 µm, thời gian hình thành bào tử 70 - 90 giờ. Sau thời kỳ sinh sản bào tử, cầu trùng sinh sản nội sinh trong biểu bì ruột non (Yakimoff, 1934). Theo dẫn liệu của Kolapxki N.
- Eimeria flavescens: Loài này gây bệnh rất nặng cho thỏ. Ký sinh ở đoạn ruột non, manh tràng và kết tràng. Oocyst có hình trứng, kích thước 25 - 37 x 14 - 24 µm với hai lớp vỏ. Lớp ngoài nhẵn, màu vàng, dày 1,4 µm.
Lớp trong sậm màu dày 0,4 µm với Micropile nhô lên ở đầu rộng. Không có hạt cực hay thể cặn. Sporocyst có hình trứng dài 13 - 17 x 7 – 10 µm, Micropile nằm dài từ đầu đến cuối của Sporocyst. Thời gian hình thành bào tử là 38 giờ (Marotel and Guilhon, 1941).
Theo dẫn liệu của Kolapxki N. Hình thái các Oocyst gây bệnh cầu trùng ở thỏ (Sophia Renaux, 2001) n 8 Hình 1. Vị trí ký sinh của các loài cầu trùng trên thỏ (Sophia Renaux, 2001) 1. Cấu trúc của Oocyst cầu trùng ở thỏ Oocyst cầu trùng có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình gần tròn, hình trứng, hình bầu dục… , kích thước cũng khác nhau thay đổi tùy theo loài.
Tuy nhiên, phần lớn Oocyst cầu trùng có đặc điểm cấu tạo như sau: Oocyst màu vàng sáng hoặc không màu, màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt. Vỏ ngoài của Oocyst thường nhẵn, cũng có loài xù xì (E. Vỏ chia làm hai lớp vỏ ngoài dày, vỏ trong mỏng. Vỏ ngoài và vỏ trong có thể tách rời nhau bằng cách làm nóng Oocyst ở trong nước hoặc xử lý bằng axit H2SO4.
Về mặt cấu tạo hóa học: vỏ ngoài là lớp quinonon protein, vỏ trong là lớp lipit kết hợp với protein để tạo nên khúc xạ kép (lipoprotein). Nghiên cứu về bản chất hóa học của thành Oocyst, Ryley J. và cs (1976) [124] cho biết, lớp ngoài của vỏ Oocyst chiếm 20%, có chứa Carbohydrat và một protein đặc trưng. Nyberg và Knapp (1976) Theo dẫn liệu của Kolapxki N.
(1980) [55] khi quan sát trên kính hiển vi điện tử thấy, lớp ngoài của vỏ Oocyst có thể bị khử bằng dung dịch sodium hypochlorid 2 – 3% trong 15 phút. C (1978) [132] khi nghiên cứu về bản chất hóa học của màng Oocyst bằng cách sử dụng Sodium hypochlorid 5% cho biết: Sodium hypochlorid 5% không tác động được đến màng Oocyst còn nguyên vẹn mà chủ yếu tác động đến Micropyle. Lớp trong của vỏ Oocyst chiếm 80% gồm: một lớp glycoprotein dày 0,9 µm, được bao bọc bởi một lớp lipit dày 0,1 µm. Lớp lipit chủ yếu là phospho lipit, chính lớp này bảo vệ Oocyst cầu trùng chống lại sự tấn công về mặt hóa học.
Hạt triết quang nhỏ trong Sporozoite 6. Hạt triết quang lớn trong Sporozoite 7. Bào tử trùng (Sporocyse) 8. Thể cặn Sporocyste (Sporocyste residuum) 9.
Thể cặn Oocyst 10. Lớp vỏ trong 11. Lớp vỏ ngoài Hình 1.