Đặt vấn đề Chó là một trong những loài động vật được thuần hóa rất sớm nên rất gầ n gũi với con người. Chó được xem là biểu tượng của lòng trung thành. Người ta nuôi chó phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Nuôi chó không chỉ để làm cảnh, trông nhà mà đối với nhiều người chó là người bạn trung thành gần gũi, thân thiện.
Chính vì vậy, nhiều giống chó được nhập về Việt Nam làm phong phú thêm chủng loại chó ở nước ta. Song chó lại khá mẫn cảm với các tác nhân gây bệnh. Chó được nuôi ngày một nhiều thì vấn đề dịch bệnh xảy ra trên chó càng khó kiểm soát, không những gây thiệt hại kinh tế cho nhiều hộ chăn nuôi mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Bệnh truyền nhiễmdo vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng đã và đang làm chết nhiều chó, gây thiệt hại kinh tế cho nhiều hộ chăn nuôi.
Các bệnh truyền nhiễm thường gặp như bệnh dại, viêm ruột truyền nhiễm, bệnh Care, bệnh do Parvovirus, trong đó có bệnh về ký sinh trùng. Các nhà khoa học nước ta đã xác định được 26 loài giun, sán ký sinh ở chó, trong đó bệnh giun đũa chó là một bệnh khá phổ biến. Trong mấy năm trở lại đây người nhiễm ấu trùng giun đũa chó khá phổ biến với những biểu hiện bệnh lý như: đau bụng, ho, rối loạn giấc ngủ, kém phát triển tinh thần và thể lực, ăn uống kém, sốt, viêm hạch cổ. Đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm của bệnh ký sinh trùng truyền lây sang người nói chung và bệnh giun đũa chó nói riêng trong giai đoạn hiện nay.
Những năm gần đây, chó được nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, trong đó có huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một huyện miền núi e 2 phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên đây là huyện có diện tích lớn nhất và có mật độ dân số thấp nhất trong tỉnh. Tuy nhiên, chó thường được nuôi theo phương thức thả rông, nếu chó bị nhiễm giun đũa thì rất dễ phát tán mầm bệnh, làm cho người và các vật nuôi khác dễ nhiễm và mắc bệnh. Đặc biệt, việc đảm bảo yêu cầu vệ sinh thú y trong giết mổ chó cũng như các loài gia súc khác tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên vẫn chưa được quan tâm đúng mức, tình trạng chó thải phân bừa bãi còn phổ biến khiến nguy cơ lây nhiễm bệnh giun đũa trên vật nuôi là khá cao. Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ và bệnh học giun đũa ở chóđể từ đó xây dựng các quy trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết.
Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa ở chó, mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng giun đũa cho người và một số loài vật nuôi khác. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cho đàn chó và sức khoẻ của con người, đặc biệt là người chăn nuôi ở huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh giun đũa ở chó nuôi tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và dùng thuốc điều trị”. Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin khoa học về bệnh giun đũa ở chó, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng biện pháp phòng trị bệnh giun đũa cho chó có hiệu quả cao. Mục tiêu nghiên cứu Có cơ sở để xác định được biện pháp phòng chống bệnh do giun đũagây ra ở chó nuôi huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên,từ đó xây dựng được quy trình phòng chống bệnh đạt hiệu quả cao.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học bổ sung và hoàn thiện thêm các nghiên cứu về bệnh giun đũa ở chó và biện pháp phòng trị trong điều kiện chăn nuôi hiện nay ở nước ta 1. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài là những minh chứng về tác hại của giun đũa ký sinh ở chó, đồng thời là những khuyến cáo có ý nghĩa cho những hộ chăn nuôi chó trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương khác. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng để chẩn đoán và phòng trị bệnh giun đũa cho chó, góp phần khống chế bệnh, bảo vệ sức khỏe của người và vật nuôi.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun đũa chó 2. Vị trí của giun đũa chó trong hệ thống phân loại động vật Theo Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [14], hệ thống phân loại giun đũa ký sinh ở chó như sau: Lớp: Nematoda Rudolphi, 1808 Bộ: Ascaridida Skrjabin và Schulz, 1940 Phân bộ: Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ: Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống: Toxocara Stiles, 1905 Loài Toxocara canis Werner, 1782 Loài Toxascaris leonina Linstow, 1902 Ký chủ cuối cùng: chó Nơi ký sinh: dạ dày, ruột non 2.
Đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo giun đũa chó * Giun đũa Toxocara canis (Werner 1782) Theo mô tả của Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [9], giun đũa Toxocara canis có đặc điểm như sau: T.canis có kích thước lớn, màu vàng nhạt, đầu hơi cong về phía bụng, miệng có 3 môi bao quanh, trên mỗi môi đều có các răng nhỏ. Thực quản hình trụ, đặc biệt giữa thực quản và ruột có đoạn phình to như dạ dày. Giun đực dài 50-100mm, đầu có cánh dài, hẹp, hơi giống mũi giáo, có hai gai giao cấu bằng nhau, dài 0,75-0,95mm. e 5 Giun cái dài 90-180mm, đuôi thẳng.
Lỗ sinh dục cái ở khoảng 1/4 phía trước thân. Giun cái đẻ trứng, trứng hình tròn hoặc hình ovan, đường kính 0,068-0,075mm, có 4 lớp vỏ dày, trên vỏ trứng có những nếp nhăn nhỏ mịn, tế bào phôi xếp thành khối bên trong. Lê Thị Hải (2011) [5] cho biết:trứng giun đũa chó T. canis có hình cầu, vỏ xù xì thô nhám, có màu vàng xám, có 3 màng trong đó: màng ngoài cùng dầy, xù xì, có màu vàng xám,màng trong nhẵn và mỏng, màng trong cùng bao bọc phôi bào khi chưa phânchia là khối màu xám.
Sau khoảng 2-3 ngày phôi bào trong trứng bắt đầu phân bào thành 2,3,4… phôi bào. Trong quá trình phôi bào biến đổi, nhân lên liên tục trong trứng thì hình thái của trứng gần như không thay đổi. Sau đó trứng giun đũa chó tiếp tục phát triển thành trứng có ấu trùng bên trong. Trứng có ấu trùng A1: trứng vẫn có hình tròn, vỏ có màu xám nhạt, vỏ mỏng hơn vỏ trứng ở trạng thái ban đầu, có thể nhìn thấy ấu trùng bên trong nhưng ấu trùng ở giai đoạn này còn ngắn và mập, ấu trùng hầu như không vận động.
Trứng có ấu trùng A2: trứng vẫn không có sự thay đổi hình thái, vỏ màu xám nhạt và mỏng hơn rất nhiều so với vỏ trứng ban đầu. Ấu trùng bên trong phát triển dài hơn và thon hơn, có thể nhìn thấy các tế bào tiền cơ quan tiêu hoá, ấu trùng hoạt động mạnh với cường độ khá cao. Trứng có ấu trùng A3: vỏ rất mỏng, mất màu và không còn xù xì như trước nữa. Quan sát dưới kính hiển vi thấy ấu trùng có dạng hình giun, nhìn thấy tiền cơ quan tiêu hoá, lúc đầu chuyển động rất mạnh nhưng sau đó chuyển động chậm dần và ngược lại.1: Trứng giun Toxocara canis Hình 1.2: Giun đũa Toxocara canis (Nguồn:http://www.php? (Nguồn:http://petcoffee.com/vi/ mod=thongtinvien&dvid=2&tvid=295[42]) news/Benh-o-cun/Benh-giun-dua-36/[44]) * Giun đũa Toxascaris leonina (Linstow, 1902) Theo Lê Thị Hải (2011) [5],giun đũa T.leonina có đặc điểm: T.leonina có màu vàng nhạt, đầu có 3 môi, thực quản hình trụ, không có đoạn phình to như loài T.
Giun đực dài 20-60mm. Lỗ sinh dục ở cuối cơ thể, hai gai giao hợp bằng nhau. Giun cái dài 65-100mm, lỗ sinh dục cái ở phía trước thân, trứng hình ô van, có 4 lớp vỏ dày, vỏ ngoài cùng nhẵn, tế bào phôi xếp thành khối kín trong trứng, đường kính 0,075-0,085mm. Trứng giun Toxascaris Hình 1.
Toxascaris leonina leonina (Nguồn: http://quizlet.com/34163414/ectoparasitos-flash-cards/ [46]) e 7 2. Vòng đời của giun đũa chó * Giun đũa Toxocara canis (Werner, 1782) Giun cái trưởng thành ký sinh ở dạ dày, ruột non, đẻ trứng. Trứng giun theo phân được thải ra môi trường bên ngoài, gặp điều kiện ngoại cảnh (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng) thích hợp, trứng phát triển thành ấu trùng cảm nhiễm, ấu trùng vẫn nằm trong vỏ trứng. Khi xâm nhập vào trong đường tiêu hóa của chó qua thức ăn nước uống, ấu trùng cảm nhiễm phá vỡ vỏ trứng và chui ra khỏi trứng, bắt đầu quá trình di hành trong cơ thể ký chủ.
Ấu trùng xuyên qua niêm mạc ruột, vào máu, theo hệ thống tuần hoàn đến gan, về tim, lên phổi đến nhánh khí quản lên hầu, theo đờm trở lại ruột non phát triển thành giun trưởng thành. Một số ấu trùng sau khi vào phổi tiếp tục theo hệ thống tuần hoàn về các tổ chức cư trú làm thành kén nhưng vẫn có khả năng gây nhiễm nếu các động vật cảm nhiễm khác ăn phải. Ấu trùng còn qua hệ tuần hoàn của chó mẹ khi có chửa và nhiễm vào bào thai. Ở bào thai, ấu trùng cư trú chủ yếu ở gan và phổi.
Do vậy, chó con sau khi được sinh ra đã mang mầm bệnh, đến 14 ngày tuổi đã gây bệnh cho chó con và khi 30 ngày tuổi đã thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời từ 26-28 ngày (Skrjabin K. e 8 Sơ đồ vòng đời giun T.canis được mô tả như sau: Ký chủ cuối cùng Giun trưởng thành Thức ăn, Trứng nước uống Tạo kén Trứng gây nhiễm trong tổ chức Bào thai Hình 1. Sơ đồ vòng phát triển Toxocara canis Sprent quan sát thấy ấu trùng Toxacara canis ở giai đoạn hai dài 0,335-0,444mm và ký sinh trong các mô khác nhau của chó.
Các ấu trùng này lột xác lần hai ở gan, phổi, tim hoặc trong thành dạ dày. Ở đây, chúng lột xác lần ba và trở thành ấu trùng giai đoạn bốn và chuyển đến ruột chó. Ấu trùng giai đoạn bốn lột xác lần thứ tư trong ruột chó dài 5,3-7,4mm. Spent cho biết, ở chó sơ sinh, ấu trùng giai đoạn ba chỉ ở phổi.
Sau 3 ngày, ấu trùng này chuyển vào ruột chó, ở đó, 23 ngày sau, chúng phát triển thành giun trưởng thành (Phan Địch Lân và cs, 1989) [13]. * Giun đũa Toxascarisleonina (Linstow, 1902) Giun cái trưởng thành ký sinh ở ruột non của ký chủ cuối cùng. Giun đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi, phát triển thành trứng có ấu trùng gây nhiễm, ấu trùng vẫn nằm trong trứng.