Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chăn nuôi thú cảnh, chó là loài động vật gần gũi với con người và có số lượng nuôi ngày càng gia tăng. Cùng với sự phát triển về quy mô đàn, nguy cơ bùng phát các bệnh truyền nhiễm và ký sinh trùng cũng tăng theo. Khác với các bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm như Parvovirus hay Care thường gây tử vong nhanh chóng, bệnh ký sinh trùng diễn tiến âm thầm, làm suy giảm sức đề kháng, gây gầy mòn, suy nhược cơ thể và tạo điều kiện cho các bệnh thứ phát xuất hiện. Trong nhóm các bệnh ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó, bệnh do giun tròn Spirocerca lupi (S. lupi) ký sinh ở thực quản và dạ dày là một bệnh lý phức tạp. Chó mắc bệnh thường có biểu hiện lâm sàng đa dạng như nôn mửa, khó nuốt, bỏ ăn, gầy yếu, ho, khó thở, ợ hơi và có thể xuất hiện triệu chứng thần kinh hoặc đột tử do vỡ phình động mạch chủ.
Tại Việt Nam, các tác giả như Nguyễn Thị Lê và cộng sự (1996), Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008), Võ Thị Hải Lê (2012) đã có những công trình khảo sát thành phần ký sinh trùng đường tiêu hóa ở chó tại một số khu vực. Tuy nhiên, tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, các đặc điểm dịch tễ học chi tiết của giun thực quản S. lupi chưa từng được nghiên cứu hệ thống. Thêm vào đó, tập quán chăn nuôi tại địa phương phần lớn vẫn là thả rông hoặc bán thả rông (vừa thả vừa nhốt), tạo điều kiện thuận lợi cho chó tiếp xúc với nguồn lây mầm bệnh từ môi trường ngoại cảnh và các vật chủ trung gian. Vấn đề phòng ngừa và phác đồ điều trị đặc hiệu đối với bệnh giun thực quản ở địa phương vẫn chưa có quy trình chuẩn mực. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho công tác phòng trừ dịch bệnh ký sinh trùng này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Đánh giá tình hình nhiễm giun thực quản do Spirocerca lupi gây ra ở chó tại thành phố Thái Nguyên thông qua phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa và phương pháp xét nghiệm phân.
- Khảo sát các đặc điểm dịch tễ học của bệnh theo địa bàn cư trú, lứa tuổi, tính biệt, nhóm giống, phương thức chăn nuôi và tháng nghiên cứu.
- Đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý, vệ sinh thú y và phòng trị bệnh giun sán đường tiêu hóa của các hộ nuôi chó trên địa bàn.
- Thử nghiệm hiệu lực tẩy giun và độ an toàn của hai loại thuốc Ivermectin và Mebendazole trên chó thí nghiệm; đánh giá kết quả điều trị của Ivermectin trên thực địa, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống bệnh hiệu quả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Chó nuôi thuộc các nhóm giống, lứa tuổi, tính biệt khác nhau; bệnh giun thực quản và loài giun tròn ký sinh Spirocerca lupi.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực địa được tiến hành tại 3 xã thuộc thành phố Thái Nguyên gồm xã Quyết Thắng, xã Phúc Xuân và xã Tân Cương. Công tác xét nghiệm mẫu và mổ khám phân tích được thực hiện tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y, Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được triển khai từ ngày 10/12/2021 đến ngày 05/06/2022.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và phân loại học
Theo hệ thống phân loại động vật học được tác giả trích dẫn, vị trí phân loại của loài giun thực quản Spirocerca lupi được xác định: Ngành Nematoda Potts, 1932; Lớp Chromadorea Inglis, 1983; Phân lớp Chromadoria Pearse, 1942; Bộ Rhabditida Chitwood, 1933; Phân bộ Spirurina Railliet and Henry, 1915; Liên họ Spiruroidea Railliet et Henry, 1915; Họ Spirocercidae Chitwood and Wehr, 1932; Giống Spirocerca Railliet et Henry, 1911; Loài Spirocerca lupi Rudolphi, 1809.
Về hình thái cấu tạo (theo Brodey R. và cs, 1977): Giun trưởng thành có màu đỏ tươi, miệng hình sáu cạnh không có môi, thực quản kép gồm phần cơ ngắn phía trước và phần tuyến dài phía sau. Giun cái dài 50 - 80 mm, âm hộ nằm ở phần trước cơ thể gần cuối thực quản; trứng giun có hình elip nhỏ, kích thước 35 - 39 × 14 - 23 μm, bên trong chứa sẵn ấu trùng. Giun đực dài 30 - 54 mm, đuôi xoắn có cánh đuôi, sở hữu 4 đôi gai trước hậu môn, một gai lớn trước huyệt và hai gai giao hợp không đều nhau (gai phải dài 0,47 - 0,75 mm, gai trái dài 2,5 - 2,8 mm).
Vòng đời sinh học của S. lupi là vòng đời gián tiếp:
- Ký chủ cuối cùng: Chó, cáo và các loài thú ăn thịt khác.
- Ký chủ trung gian: Bọ cánh cứng ăn phân (họ Scarabaeidae và Tenebrionidae).
- Ký chủ dự trữ (paratenic host): Các loài động vật có xương sống nhỏ như ếch nhái, thằn lằn, chim, chuột.
Cơ chế bệnh sinh diễn ra khi ấu trùng kỳ 3 (L3) xâm nhập vào đường tiêu hóa của chó qua việc nuốt bọ cánh cứng hoặc nội tạng ký chủ dự trữ. Sau khi vào dạ dày, ấu trùng chui qua niêm mạc, di chuyển theo động mạch dạ dày đi ngược dòng lên động mạch chủ ngực. Tại đây, ấu trùng cư trú khoảng 3 tháng, lột xác phát triển thành ấu trùng kỳ 4 (L4) gây viêm động mạch, xơ hóa và hình thành các ổ phình mạch có nguy cơ vỡ gây xuất huyết tử vong đột ngột. Sau đó, ấu trùng tiếp tục di chuyển sang lớp hạ niêm mạc thực quản, kích thích tăng sinh mô liên kết hình thành các khối u hạt (nodule/granuloma), phát triển thành giun trưởng thành và đẻ trứng vào lòng thực quản qua các lỗ rò. U hạt có thể tiến triển thành ung thư biểu mô liên kết (sarcoma) hoặc gây phình trướng xương khớp ngoại biên ở chân trước (hypertrophic osteopathy).
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng kết hợp các phương pháp dịch tễ học thú y, ký sinh trùng học và thử nghiệm điều trị lâm sàng:
- Phương pháp điều tra thực trạng: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát phỏng vấn trực tiếp 115 hộ nuôi chó tại 3 xã về công tác tẩy giun, thu gom, xử lý phân và vệ sinh môi trường chăn nuôi.
- Phương pháp chọn mẫu dịch tễ: Áp dụng phương pháp lấy mẫu chùm nhiều bậc. Cỡ mẫu phân tối thiểu được xác định theo công thức:
$$n = \frac{1{,}96^2 \cdot P(1 - P)}{d^2}$$
Với tỷ lệ ước đoán $P \approx 13%$ (tham chiếu theo nghiên cứu của Võ Thị Hải Lê, 2012) và sai số cho phép $d = 0{,}05$, tổng số mẫu phân thu thập được là 300 mẫu (100 mẫu/xã). Mẫu phân được lấy ngẫu nhiên vào buổi sáng, đựng trong túi nilon kín, ghi rõ thông tin dịch tễ và xét nghiệm trong ngày hoặc trữ ở 4 - 8°C.
- Phương pháp xét nghiệm phân: Phát hiện trứng giun S. lupi bằng phương pháp nổi Fülleborn sử dụng dung dịch NaCl bão hòa dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 10 × 10). Cường độ nhiễm được định lượng bằng số trứng trên một gam phân (EPG) qua buồng đếm McMaster theo công thức:
$$\text{Số trứng/g phân} = \frac{\text{Tổng số trứng ở 2 buồng đếm} \times 60}{4}$$
- Phương pháp mổ khám giun sán: Tiến hành mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa theo phương pháp Skrjabin (1928) trên 94 con chó tại các điểm mổ thịt. Giun thu thập từ các khối u thực quản được làm chết trong nước muối sinh lý, định hình và bảo quản trong dung dịch Barbagallo hoặc FAA để định danh hình thái.
- Phương pháp thử nghiệm thuốc:
- Thí nghiệm trong cũi: 9 con chó nội từ 11 - 12 tháng tuổi nhiễm bệnh được chia đều vào 3 lô: Lô I sử dụng Ivermectin liều 0,2 mg/kg thể trọng; Lô II sử dụng Mebendazole liều 120 mg/kg thể trọng; Lô III đối chứng không dùng thuốc. Xét nghiệm phân kiểm tra EPG liên tục từ ngày 1 đến ngày 15 sau khi cấp thuốc; mổ khám kiểm tra số giun thực quản còn sống vào ngày 16. Đánh giá độ an toàn thông qua theo dõi phản ứng sinh lý sau khi dùng thuốc 1 giờ.
- Thử nghiệm thực địa: Điều trị bằng Ivermectin (0,2 mg/kg thể trọng) cho 10 con chó nhiễm giun tại các hộ gia đình thuộc 3 xã nghiên cứu, kiểm tra lại phân sau 15 ngày.
- Xử lý số liệu: Số liệu được phân tích theo phương pháp thống kê sinh học trong chăn nuôi thú y của Nguyễn Văn Thiện (2008), sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2016.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả nêu rõ tầm quan trọng của chó trong đời sống xã hội và ảnh hưởng bất lợi của bệnh giun thực quản do Spirocerca lupi gây ra đối với sức khỏe đàn chó. Khẳng định tính cấp thiết của đề tài khi Thái Nguyên chưa có công trình nghiên cứu đầy đủ về dịch tễ và phác đồ điều trị S. lupi. Mục tiêu chính là xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm giun thực quản ở chó tại 3 xã thuộc thành phố Thái Nguyên và đánh giá hiệu lực của hai hoạt chất Ivermectin và Mebendazole.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật chi tiết cơ sở khoa học về vị trí phân loại, hình thái học, chu kỳ sinh học, cơ chế bệnh sinh, bệnh tích đại thể và vi thể, cùng các phương pháp chẩn đoán giun thực quản (xét nghiệm phân, X-quang, chụp cắt lớp vi tính, nội soi thực quản). Bên cạnh đó, tác giả tổng hợp tình hình nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Ngô Huyền Thúy, Lê Hữu Khương, Nguyễn Hữu Hưng, Võ Thị Hải Lê) và quốc tế (Ballweber, Kirberger, Lavy, van der Merwe) về tỷ lệ lưu hành, các tổn thương thứ phát như u xơ tiến triển thành ung thư biểu mô liên kết, thoái hóa đốt sống ngực và phác đồ sử dụng Doramectin, Milbemycin oxime.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày cụ thể địa điểm (3 xã: Quyết Thắng, Phúc Xuân, Tân Cương và Phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y), thời gian (tháng 12/2021 đến tháng 06/2022), dụng cụ hóa chất, công thức tính toán dung lượng mẫu 300 phân chó, kỹ thuật mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa theo Skrjabin, quy trình xét nghiệm phù nổi Fülleborn, đếm trứng McMaster và sơ đồ bố trí thí nghiệm so sánh hiệu lực thuốc.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương kết quả thể hiện toàn bộ các số liệu khảo sát thực địa và thử nghiệm lâm sàng qua 11 bảng thống kê chi tiết:
1. Thực trạng công tác phòng trị bệnh giun sán đường tiêu hóa cho chó
Kết quả khảo sát 115 hộ gia đình nuôi chó tại 3 xã nghiên cứu phản ánh ý thức vệ sinh thú y của người dân:
| Biện pháp sử dụng |
Tình trạng áp dụng |
Số hộ áp dụng (hộ) |
Tỷ lệ (%) |
| 1. Tẩy giun định kỳ |
1 lần/năm |
72 |
62,61 |
|
2 - 3 lần/năm |
35 |
30,43 |
|
Không tẩy |
8 |
6,96 |
| 2. Thu gom phân chó |
Thường xuyên |
43 |
37,39 |
|
Không thường xuyên |
40 |
34,78 |
|
Không thu gom |
32 |
27,83 |
| 3. Xử lý phân chó |
Chôn lấp |
16 |
13,91 |
|
Bằng cách khác |
64 |
64,35 |
|
Không xử lý |
25 |
21,74 |
| 4. Vệ sinh chuồng/cũi |
Có thực hiện |
94 |
81,74 |
|
Không thực hiện |
21 |
18,26 |
| 5. Nước uống, thức ăn |
Đảm bảo vệ sinh |
95 |
82,61 |
|
Không đảm bảo vệ sinh |
20 |
17,39 |
| 6. Không dùng biện pháp nào |
Không áp dụng gì |
7 |
6,09 |
2. Tỷ lệ nhiễm giun thực quản qua mổ khám
Mổ khám toàn diện 94 con chó tại các điểm mổ cho thấy tỷ lệ nhiễm giun thực quản rất cao, tất cả giun thu thập được đều nằm trong các khối u ở thành thực quản:
| Địa phương (xã) |
Số chó mổ khám (con) |
Số chó nhiễm (con) |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ nhiễm (giun/chó) |
Vị trí ký sinh |
| Quyết Thắng |
29 |
14 |
48,28 |
2 - 15 |
Thực quản |
| Phúc Xuân |
34 |
18 |
52,94 |
2 - 14 |
Thực quản |
| Tân Cương |
31 |
13 |
41,94 |
2 - 23 |
Thực quản |
| Tính chung |
94 |
45 |
47,87 |
2 - 23 |
Thực quản |
3. Tỷ lệ và cường độ nhiễm qua xét nghiệm phân
Xét nghiệm 300 mẫu phân tại 3 xã ghi nhận 54 mẫu dương tính với trứng giun S. lupi:
| Địa phương (xã) |
Số mẫu xét nghiệm |
Số mẫu nhiễm |
Tỷ lệ nhiễm (%) |
Cường độ nhẹ (n / %) |
Cường độ trung bình (n / %) |
Cường độ nặng (n / %) |
| Quyết Thắng |
100 |
15 |
15,00 |
10 / 66,67 |
4 / 26,67 |
1 / 6,66 |
| Phúc Xuân |
100 |
20 |
20,00 |
12 / 60,00 |
6 / 30,00 |
2 / 10,00 |
| Tân Cương |
100 |
19 |
19,00 |
11 / 57,89 |
7 / 36,84 |
1 / 5,27 |
| Tính chung |
300 |
54 |
18,00 |
33 / 61,11 |
17 / 31,48 |
4 / 7,41 |
Tỷ lệ nhiễm qua xét nghiệm phân (18,00%) thấp hơn nhiều so với mổ khám (47,87%), do trứng chỉ được đào thải vào lòng thực quản khi khối u đã có lỗ rò và giun đã thành thục về sinh dục.
4. Phân tích các yếu tố dịch tễ ảnh hưởng đến tỷ lệ nhiễm
- Theo lứa tuổi: Tỷ lệ nhiễm tăng dần theo tuổi. Chó dưới 6 tháng tuổi hoàn toàn không phát hiện trứng giun trong phân (0/70 mẫu dương tính). Chó từ 6 - 12 tháng tuổi nhiễm 19,00% (19/100 mẫu). Chó trên 12 tháng tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất với 26,92% (35/130 mẫu).
- Theo tháng nghiên cứu: Tỷ lệ nhiễm dao động qua các tháng điều tra: Tháng 12 đạt cao nhất với 31,43% (11/35 mẫu); Tháng 5 đạt 25,00% (9/36 mẫu); Tháng 4 đạt 22,73% (10/44 mẫu); Tháng 2 đạt 15,25% (9/59 mẫu); Tháng 1 đạt 14,04% (8/57 mẫu); Tháng 3 ghi nhận tỷ lệ thấp nhất là 10,14% (7/69 mẫu).
- Theo tính biệt: Chó đực có tỷ lệ nhiễm là 18,42% (35/190 mẫu); chó cái có tỷ lệ nhiễm là 17,27% (19/110 mẫu). Sự khác biệt giữa hai giới tính không có ý nghĩa thống kê.
- Theo nhóm giống chó: Chó nội có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 23,57% (33/140 mẫu); chó lai đạt 15,45% (17/110 mẫu); nhóm chó ngoại có tỷ lệ nhiễm thấp nhất với 8,00% (4/50 mẫu).
- Theo phương thức nuôi: Chó nuôi thả rông nhiễm cao nhất với 22,86% (32/140 mẫu); phương thức vừa thả vừa nhốt đạt 18,00% (18/100 mẫu); phương thức nuôi nhốt hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 6,67% (4/60 mẫu) và 100% ca nhiễm ở nhóm nuôi nhốt chỉ ở mức độ nhẹ.
5. Kết quả thử nghiệm thuốc điều trị
Kết quả điều trị trên 9 con chó thí nghiệm được tổng hợp như sau:
| Lô thí nghiệm |
Thuốc và liều lượng |
TT chó |
Cường độ trước tẩy (EPG) |
EPG sau 15 ngày |
Số giun mổ khám còn lại |
Đánh giá sạch giun |
| Lô I |
Ivermectin |
1 |
343 |
0 |
0 |
Sạch giun |
|
(0,2 mg/kg TT) |
2 |
726 |
0 |
0 |
Sạch giun |
|
|
3 |
1132 |
259 |
3 |
Chưa triệt để |
| Lô II |
Mebendazole |
1 |
256 |
0 |
0 |
Sạch giun |
|
(120 mg/kg TT) |
2 |
672 |
0 |
2 |
Chưa triệt để |
|
|
3 |
1223 |
482 |
5 |
Chưa triệt để |
| Lô ĐC |
Đối chứng |
1 |
312 |
562 |
4 |
Không tẩy |
|
(Không dùng thuốc) |
2 |
628 |
983 |
7 |
Không tẩy |
|
|
3 |
1076 |
1285 |
19 |
Không tẩy |
Thuốc Ivermectin giúp 2/3 chó thí nghiệm sạch giun hoàn toàn; trường hợp nhiễm nặng (1132 EPG) mổ khám chỉ còn 3 giun sống trong u hạt. Thuốc Mebendazole chỉ làm sạch giun trên 1/3 chó. Theo dõi lâm sàng sau 1 giờ cho thấy Ivermectin an toàn tuyệt đối, không gây nôn mửa, sốt hay ủ rũ.
Khi thử nghiệm diện hẹp trên thực địa bằng Ivermectin liều 0,2 mg/kg thể trọng cho 10 con chó nhiễm tại 3 xã (Quyết Thắng 2 con, Phúc Xuân 5 con, Tân Cương 3 con), tỷ lệ sạch trứng phân sau 15 ngày đạt 90% (9/10 con) và độ an toàn đạt 100% (10/10 con).
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tóm tắt các chỉ số dịch tễ chủ chốt và khẳng định hiệu quả điều trị của Ivermectin liều 0,2 mg/kg thể trọng. Đề xuất quy trình tẩy giun định kỳ 3 - 4 tháng/lần, kiểm soát phương thức nuôi, không thả rông và xử lý triệt để phân gia súc để cắt đứt nguồn thức ăn của bọ cánh cứng trung gian.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản S. lupi tại 3 xã thuộc thành phố Thái Nguyên qua mổ khám đạt 47,87% (45/94 con), cường độ dao động từ 2 đến 23 giun/chó; qua xét nghiệm phân đạt 18,00% (54/300 mẫu), trong đó đa số ở cường độ nhẹ (61,11%), trung bình chiếm 31,48% và nặng chiếm 7,41%.
- Chứng minh tỷ lệ nhiễm chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi lứa tuổi (chó ≤ 6 tháng tuổi không phát hiện trứng giun; chó > 12 tháng tuổi nhiễm 26,92%), nhóm giống (chó nội 23,57% cao hơn chó lai 15,45% và chó ngoại 8,00%) và phương thức chăn nuôi (thả rông 22,86% cao hơn bán thả rông 18,00% và nuôi nhốt 6,67%). Tính biệt không ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mắc bệnh (đực 18,42% so với cái 17,27%).
- Chứng minh hoạt chất Ivermectin (0,2 mg/kg thể trọng) có hiệu lực tẩy giun thực quản vượt trội so với Mebendazole (120 mg/kg thể trọng); đạt tỷ lệ sạch trứng trên thực địa 90% sau 15 ngày và an toàn đối với chó điều trị.
Giải pháp và kiến nghị
- Thực hiện định kỳ tẩy giun cho chó từ 3 đến 4 tháng/lần bằng hoạt chất Ivermectin liều lượng 0,2 mg/kg thể trọng.
- Thay đổi tập quán chăn nuôi: Chấm dứt việc thả rông chó tự do; chuyển sang nuôi nhốt hoặc quản lý chặt chẽ trong khuôn viên gia đình nhằm ngăn chặn chó ăn bọ hung hoặc các loài vật chủ dự trữ mang ấu trùng (chuột, thằn lằn, ếch nhái).
- Định kỳ thu gom và xử lý chất thải phân chó bằng biện pháp chôn lấp hoặc ủ xử lý sinh học; thường xuyên tiêu độc, khử trùng chuồng cũi, giữ vệ sinh nguồn thức ăn và nước uống.
- Quản lý tốt nguồn phân của các loài gia súc khác tại địa phương để triệt tiêu môi trường phát sinh, phát triển của bọ cánh cứng trung gian.
Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn
Khóa luận đã bổ sung dẫn liệu khoa học đầu tiên về đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun thực quản Spirocerca lupi ở chó tại địa bàn thành phố Thái Nguyên, xác thực sự lưu hành của mầm bệnh trong quần thể vật nuôi địa phương. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu kiểm chứng thành công tính hiệu quả và độ an toàn của phác đồ Ivermectin liều 0,2 mg/kg thể trọng, cung cấp hướng dẫn kỹ thuật cụ thể giúp người chăn nuôi và cán bộ thú y cơ sở áp dụng vào điều trị và phòng bệnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ tháng 12/2021 đến tháng 05/2022), do đó chưa bao quát trọn vẹn sự biến thiên dịch tễ qua cả 12 tháng trong năm, đặc biệt là giai đoạn mùa hè - thu.
- Dung lượng mẫu chó mổ khám (94 con) và số lượng chó đưa vào thí nghiệm thuốc (3 con/lô, 10 con thực địa) còn hạn chế về mặt thống kê do điều kiện nguồn lực và kinh phí thực hiện đề tài sinh viên.
- Phương pháp chẩn đoán trên cá thể sống mới chỉ thực hiện bằng kỹ thuật xét nghiệm phân nổi Fülleborn và đếm trứng McMaster; chưa áp dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu (chụp X-quang cản quang, chụp cắt lớp vi tính, nội soi ống mềm) hoặc chẩn đoán phân tử do hạn chế về trang thiết bị lâm sàng tại địa phương.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi và thời gian nghiên cứu liên tục qua nhiều năm trên toàn bộ các huyện, thị xã của tỉnh Thái Nguyên để xây dựng bản đồ dịch tễ hoàn chỉnh.
- Thử nghiệm lâm sàng trên quy mô đàn lớn hơn với các hoạt chất và phác đồ mới được thế giới khuyến cáo như Doramectin liều cao nhiều đợt hoặc Milbemycin oxime để đánh giá khả năng tiêu biến hoàn toàn khối u hạt thực quản.
- Nghiên cứu sâu hơn về tỷ lệ nhiễm ấu trùng S. lupi trên các loài ký chủ trung gian (bọ hung) và ký chủ dự trữ tại khu vực để xác định chính xác mắt xích truyền lây sinh thái.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y làm tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu dịch tễ ký sinh trùng đường tiêu hóa và quy trình mổ khám định loại giun sán theo Skrjabin.
- Bác sĩ thú y lâm sàng tại các phòng khám thú cưng: Tham khảo số liệu dịch tễ học để đưa ra chẩn đoán phân biệt đối với các ca bệnh có hội chứng nôn mửa, khó nuốt, suy mòn mãn tính, cũng như tham khảo liều lượng sử dụng Ivermectin trong điều trị giun thực quản.
- Cơ quan quản lý thú y địa phương: Cung cấp số liệu thực tế về thói quen quản lý chất thải và tập quán nuôi chó của người dân để xây dựng các chương trình truyền thông phòng chống bệnh ký sinh trùng truyền lây.
Phần đáng tham khảo nhất của văn bản là hệ thống số liệu dịch tễ đối chiếu chi tiết giữa mổ khám và xét nghiệm phân qua các biến số (tuổi, giống, phương thức nuôi) tại Chương 4, cùng quy trình bố trí thí nghiệm đối chứng kiểm tra hiệu lực thuốc tẩy giun.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao tỷ lệ nhiễm giun thực quản qua mổ khám (47,87%) lại cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ phát hiện qua xét nghiệm phân (18,00%)?
Sự chênh lệch lớn này bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính được tác giả phân tích:
- Nguồn chó đưa vào mổ khám phần lớn là chó nuôi lâu năm (từ 2 đến 5 năm tuổi), có thời gian phơi nhiễm kéo dài ngoài môi trường nên tỷ lệ tích lũy mầm bệnh cao hơn.
- Về mặt sinh học, trứng giun Spirocerca lupi chỉ được thải vào lòng thực quản và xuất hiện trong phân khi khối u hạt đã phát triển thành thục và tạo được lỗ rò thông với lòng thực quản. Ở các giai đoạn ấu trùng đang di chuyển trong động mạch hoặc khối u non chưa có lỗ rò, xét nghiệm phân sẽ cho kết quả âm tính giả dù cá thể chó thực tế đang mang ký sinh trùng.
2. Phương thức chăn nuôi ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh ở chó?
Phương thức chăn nuôi quyết định mức độ tiếp xúc giữa chó và nguồn lây nhiễm:
- Nuôi thả rông có tỷ lệ nhiễm cao nhất (22,86%) và ghi nhận 9,38% trường hợp nhiễm nặng, do chó tự do lục lọi môi trường, ăn phân và bắt bọ cánh cứng hoặc các động vật nhỏ mang ấu trùng.
- Phương thức vừa thả vừa nhốt có tỷ lệ nhiễm trung bình là 18,00%.
- Phương thức nuôi nhốt hoàn toàn có tỷ lệ nhiễm thấp nhất (6,67%), đặc biệt 100% cá thể nhiễm ở nhóm này chỉ ở mức độ nhẹ, không có ca nhiễm trung bình hoặc nặng do được cách ly tốt với nguồn vật chủ trung gian.
3. Vì sao chó dưới 6 tháng tuổi trong nghiên cứu hoàn toàn không phát hiện thấy trứng giun trong phân?
Chu kỳ sinh học của giun S. lupi từ lúc ấu trùng L3 xâm nhập vào cơ thể vật chủ qua đường tiêu hóa, di chuyển qua thành dạ dày, ngược dòng lên cư trú tại động mạch chủ khoảng 3 tháng rồi mới di chuyển sang thành thực quản tạo u và phát triển thành giun trưởng thành mất từ 4 đến 6 tháng. Do đó, ở lứa tuổi dưới 6 tháng, giun chưa đạt đến giai đoạn trưởng thành đẻ trứng vào lòng thực quản, dẫn đến việc xét nghiệm mẫu phân không tìm thấy trứng.
4. Thuốc Ivermectin và Mebendazole thể hiện hiệu lực điều trị khác nhau như thế nào trong thí nghiệm?
Trong thí nghiệm đối chứng trên chó nội 11 - 12 tháng tuổi:
- Hoạt chất Ivermectin (liều 0,2 mg/kg thể trọng) cho hiệu lực cao: 2/3 chó sạch hoàn toàn trứng giun sau 15 ngày và mổ khám không còn giun sống; 1 chó nhiễm nặng còn sót 3 giun trong u hạt. Trên thực địa, Ivermectin đạt tỷ lệ sạch trứng 90% (9/10 con) và an toàn tuyệt đối.
- Hoạt chất Mebendazole (liều 120 mg/kg thể trọng) có hiệu lực thấp hơn: chỉ có 1/3 chó sạch giun; 2 chó còn lại vẫn thải trứng hoặc mổ khám còn sót 2 đến 5 giun sống trong thực quản.
5. Ấu trùng giun thực quản di chuyển trong cơ thể chó gây ra những tổn thương cơ giới và bệnh lý nguy hiểm nào?
Trong quá trình di chuyển, ấu trùng xâm nhập động mạch dạ dày và cư trú tại thành động mạch chủ ngực tới 3 tháng. Sự tác động cơ học làm mất lớp nội mạc, xơ hóa lớp áo giữa, thoái hóa sợi chun và gây giãn phình động mạch chủ; chỗ phình có thể vỡ bất cứ lúc nào làm chó xuất huyết nội và tử vong đột ngột. Khi về đến thực quản, chúng tạo các u xơ/u hạt chèn ép đường nuốt gây nôn mửa, khó thở; các u hạt này có nguy cơ tiến triển thành ung thư mô liên kết hoặc gây biến chứng phình trướng và vôi hóa màng xương khớp ở chân trước.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Chu Thị Thu Uyên đã xác định được thực trạng nhiễm giun thực quản Spirocerca lupi ở chó tại thành phố Thái Nguyên với tỷ lệ 47,87% qua mổ khám và 18,00% qua xét nghiệm phân. Nghiên cứu chỉ ra các yếu tố dịch tễ học quan trọng: tỷ lệ nhiễm tỷ lệ thuận với lứa tuổi, tăng cao ở chó nội và đàn chó nuôi thả rông, đồng thời không phụ thuộc vào tính biệt của vật chủ. Hoạt chất Ivermectin liều 0,2 mg/kg thể trọng được chứng minh có hiệu lực tẩy giun thực địa đạt 90% và đảm bảo an toàn sinh học cao, làm cơ sở khoa học tin cậy để xây dựng quy trình phòng trị ký sinh trùng thực quản cho đàn chó tại địa phương.