Đặt vấn đề Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta trước đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển khá mạnh, góp phần ổn định đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội. Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con người hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng là thịt và sữa. Thịt trâu, bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao, hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6- 7 USD/kg.
Sữa bò được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm hoàn chỉnh về dinh dưỡng và giúp tiêu hóa tốt. Trâu bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt, sữa. Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò, trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê, nghé. Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê, nghé.
Bệnh giun đũa là khá phổ biến ở bê nghé nước ta. Bệnh thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi. Bê nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn vùng trung du và đồng bằng. Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phan Địch Lân và cs (2005) [1010], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh trong ruột non của bê, nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi.) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh e 2 dưỡng làm cho bê, nghé gầy còm, chậm lớn.
Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho bê, nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời. Đồng Hỷ là huyện miền núi, bãi chăn thả rộng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò thịt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh giun đũa bê, nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý. Vì vậy, bê, nghé ở các địa phương của huyện còn bị mắc bệnh, gây thiệt hại kinh tế đáng kể.
Mặt khác, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, phương thức chăn thả, điều kiện chăn nuôi các tỉnh miền núi nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng có nhiều thay đổi. Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi sự sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”. Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu một số đặc điểm dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé trong điều kiện chăn nuôi hiện nay.
- Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé và xây dựng được biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trâu bò ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé; đồng thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh giun đũa, nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm giun đũa ở bê, nghé, hạn chế thiệt hại do giun đũa gây ra, góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi trâu, bò phát triển.
e 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 2. Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum, hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra.
Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [28], giun đũa bê, nghé có vị trí trong hệ thống phân loại động vật học như sau: Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873 Lớp Nematoda Rudolphi, 1808 Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942 Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940 Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915 Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945 Giống Neoascaris Travassos, 1927 Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782. Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22], giun đũa Neoascaris vitulorum ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài 13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm. Giun cái ở nghé dài 19 - 23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 0,07 - 0,075 x 80 - 90 mm; giun cái ở bê dài 20 - 26 cm, trứng 0,075 - 0,085 x 0,09 - 0,1 mm. Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân.
Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối e 5 tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu. Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có 20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm. Giun cái dài 19 - 23 cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ. Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều lỗ lõm nhỏ, dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,075 mm.
Theo Phan Lục (2005) [17] cho biết, giun tròn có kích thước to, dài khoảng 13-22 cm, thân màu vàng nhạt, đầu có 3 lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, tròn đầu có 3 môi. Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dầy giả. Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau. Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm.
Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19 mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành 2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép. Giun cái dài 151 - 200mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076 - 0,095 x 0,065 - 0,080 mm. Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch lân (1996) [11] cho biết, con đực dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm. Đuôi dài 0,21 - 0,46 mm thon dần, từ phần giữa đuôi trở xuống có hình ngón tay.
Trước và sau hậu môn ở phía bụng có nhiều gai từ 20 - 27 cái; ở mặt bụng có 2 hàng, 5 đôi gai sau hậu môn, trong e 6 đó có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm, có một màng mỏng trong suốt dọc chiều dài. Con cái dài 19 - 23 cm, rộng nhất 0,5 cm, âm hộ khoảng 1/8 trước thân. Đuôi hình nòn dài 0,37 - 0,42 mm. Gần chóp đuôi có hai bên mặt bụng, đuôi giống con đực bao phủ nhiều gai.
Trứng hơi tròn, màng ở ngoài có cấu tạo như tổ ong: kích thước 0,08 - 0,09 x 0,07 - 0,075 mm. Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [46] từ năm 1982 - 1988 về giun tròn. Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật Bản. Tác giả cho biết: độ dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14-18cm) giun cái 25,75 cm (16,5 - 34cm), thân trắng đục và mềm.
Trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo. (1989) [41] đã quan sát giun đũa Neoascaris vitulorum trên kính hiển vi điện tử thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi, răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên. Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) [47], thì giun đũa Neoascaris vitulorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của bê nghé, giun dài có thể đến 30 cm, giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy các cơ quan nội tạng. Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt.
Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum Vòng đời của giun đũa bê, nghé là vòng đời trực tiếp không qua ký chủ trung gian. Dactian (1934-1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non ở cơ thể bê. Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 -192 ngày nuốt trứng e 7 giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa. Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai.
Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai. Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Trích dẫn theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [19]).