Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu Quế là một loại cây lâm sản ngoài gỗ (LSNG) và là đặc sản lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao, tinh dầu Quế là nguyên liệu quý trong công nghiệp dược phẩm và thực phẩm, vì thế Quế cũng có thể được xếp vào nhóm cây công nghiệp (Trần Cửu, 2013), (Lê Đình Khả và cs. Ngoài ra, do có tán lá khá dày, rậm và xanh quanh năm nên rừng trồng Quế còn có tác dụng phòng hộ khá hiệu quả. Cây Quế là loài cây thân gỗ, sống lâu năm, ở cây trưởng thành có thể cao trên 15m, đường kính ngang ngực (1,3m) có thể đạt đến 40cm.
Quế có lá đơn mọc cách hay gần đối lá có 3 gân gốc kéo dài đến tận đầu lá và nổi rõ ở mặt dưới của lá, các gân bên gần như song song, mặt trên của lá xanh bóng, mặt dưới lá xanh đậm, lá trưởng thành dài khoảng 18 – 20cm, rộng khoảng 6 – 8cm, cuống lá dài khoảng 1cm. Quế có tán lá hình trứng, thường xanh quanh năm, thân cây tròn đều, vỏ ngoài màu xám, hơi nứt rạn theo chiều dọc. Trong các bộ phận của cây Quế như vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu, đặc biệt trong vỏ có hàm lượng tinh dầu cao nhất, có khi đạt đến 4 – 5%. Tinh dầu Quế có màu vàng, thành phần chủ yếu là Aldehyt Cinamic chiếm khoảng 70 – 90%.
Cây Quế khoảng 8 đến 10 tuổi thì bắt đầu ra hoa, hoa Quế mọc ở nách lá đầu cành, hoa tự chùm, nhỏ chỉ bằng nửa hạt gạo, vươn lên phía trên của lá, màu trắng hay phớt vàng. Quế ra hoa vào tháng 4 và tháng 5 và quả chín vào tháng 1 và tháng 2 năm sau. Quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1 đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ bàng lan rộng, đan chéo nhau vì vậy m 5 Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc.
Cây Quế lúc còn nhỏ cần có bóng che thích hợp mới sinh trưởng và phát triển tốt, càng lớn lên mức độ chịu bóng càng giảm dần và sau khoảng 3 – 4 năm trồng thì cây Quế hoàn toàn ưa sáng. Tinh dầu Quế có vị thơm, cay, ngọt rất được ưa chuộng. Do đó, Quế còn được gọi là cây đa mục đích và là một trong những loài cây trồng được lựa chọn trong chương trình dự án góp phần xoá đói giảm nghèo, giúp người dân miền núi có cơ hội vươn lên làm giàu. Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu Quế hiện đã không còn dồi dào.
Nhất là hiện nay, người dân chuyển sang trồng cây gỗ Keo nhiều hơn cây Quế, do cây Keo sớm thu lợi nhuận hơn (chỉ khoảng 4-5 năm là thu hoạch). Vì lợi ích trước mắt, rừng trồng có diện tích trồng hẹp và khó mở rộng, làm giảm sản lượng sản phẩm. Tổng quan kết quả nghiên cứu về cây Quế 1. Tình hình sản xuất Quế trên thế giới Các số liệu thống kê của FAO được cung cấp dưới đây cho thấy một bức tranh toàn cầu về Quế trên toàn cầu trong 10 năm qua.
Trong những năm gần đây nghiên cứu tài liệu thị trường cho thấy thị trường Quế không có những thay đổi đáng kể trong việc cung cấp Quế. Như vậy dữ liệu của FAO về sản xuất Quế được coi là có giá trị và hữu ích cho việc phân tích Quế ở các nước trên thế giới.1: Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2012 - 2020 Quốc gia Yếu tố 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Thế giới 151.529 In-đô-nê-xi-a 73.102 Việt nam Diện 17.079 Trung Quốc tích 31.300 hoạch Các tiểu quốc đảo đang phát triển 2.000 700 800 Trung phi 153 156 194 201 220 220 224 228 210 m Sao Tome and Principe 153 156 194 201 220 220 224 228 210 Thế giới 132.274 In-đô-nê-xi-a 64.300 (tấn) Các tiểu quốc đảo đang phát triển 459 396 400 400 370 387 375 329 353 Timor-Leste 105 100 109 114 119 126 121 100 105 Grenada 100 Seychelles 200 150 120 100 Số liệu thống kê của FAO Giá trị sản xuất Quế trên thế giới từ năm 2012-2020 7 Hơn 10 năm qua diện tích trồng Quế trên toàn thế giới đã tăng với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 5,2% từ 151.297ha năm 2003 lên đến 227.529ha vào năm 2011 và đặc biệt đáng chú ý đó là Vệt Nam đạt mức tăng trưởng hai chữ số với tỷ lệ 15,6%. Diện tích Quế trên toàn quốc tăng gấp 3 lần từ 17.000ha trong năm 2012 lên 54. In-đô-nê-xi-a, Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka hiển nhiên là cường quốc sản xuất Quế chính trên thế giới.
In-đô-nê-xi-a chiếm 45% tổng diện tích đất trồng Quế, tiếp theo là Việt Nam, Trung Quốc và Sri Lanka với số phần tương ứng là 24%, 17% và 13%. Tình hình nghiên cứu cây Quế trên thế giới Chi Quế (tên khoa học: Cinnamomum) là một chi các loài thực vật thường xanh thuộc họ Nguyệt Quế (Lauraceae). Lá và vỏ cây các loài thuộc chi này có tinh dầu thơm. Chi này có khoảng hơn 300 loài, phân bố chủ yếu tại các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đại Dương và Australasia.
Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học và kỹ thuật gây trồng - Đặc điểm sinh vật học Quế (Cinnamomum cassia) là cây thường xanh được trồng rộng rãi ở miền Nam và miền Đông châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Đài Loan, Thái Lan và Việt Nam). Cây cao từ 10-15 m, vỏ màu xám, lá thuôn dài từ 10- 15 cm, trong các bộ phận của cây Quế như: Vỏ, lá, hoa, gỗ, rễ đều có chứa tinh dầu. Hoa tự chùm, nhỏ màu trắng, quả Quế khi chưa chín có màu xanh, khi chín chuyển sang màu tím than, quả mọng trong chứa một hạt, quả dài 1cm đến 1,2 cm, hạt hình bầu dục, 1 kg hạt Quế có khoảng 2500 – 3000 hạt. Bộ rễ Quế phát triển mạnh, rễ cọc cắm sâu vào lòng đất, rễ lan rộng, đan chéo nhau.
Vì vậy, Quế có khả năng sinh sống tốt trên các vùng đồi núi dốc. m 8 - Đặc điểm sinh thái học Quế C.tamala phân bố ở hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và mở rộng đến vùng Đông Bắc Ấn Độ, đến độ cao 2000 m. tamala được trồng ở vùng Khasi, Jaintia, đồi Garo của Meghalaya và vùng đồi Cachar Bắc của Assam (Cinnamom and cassia. Quế Inđonêsia có phân bố từ mặt biển đến độ cao 2000m.
Trung tâm trồng Quế là vùng Padang, ở độ cao từ 500 – 1300m. Một biến chủng của loàinày có lá non màu đỏ sinh trưởng ở độ cao hơn trong vùng núi Korintji (còn gọi là Kerinci). Loại này chất lượng tốt hơn và được buôn bán trên thị trường thế giới với tên gọi Quế Korintji (Cinnamom and cassia. - Kỹ thuật gây trồng Trên thế giới có nhiều nước trồng Quế rất thành công cho sản lượng và năng suất cao như ở Ấn Độ, cây được trồng với cự li 3m x 2m.
Cây con được gieo trên luống và trồng khi cây 4 – 5 tháng tuổi. Khi cây 8 – 10 tuổi được khai thác lá cho đến hàng trăm tuổi. Lá già được thu từ tháng 10 – 12 đến tháng 3 năm sau. Lá được thu hàng năm ở các cây trẻ và khỏe và luân phiên đối với cây già và yếu.
Lá thường được bó thành từng bó, phơi ngoài nắng, rồi đem bán. Sản lượng mỗi cây khoảng 9 – 19 kg/năm. Trồng teijat là một bộ phận trong hệ thống nông lâm kết hợp ở Ấn Độ (Cinnamom and cassia. Rừng Quế ở đây được chăm sóc như đối với cây rừng.
Ngoài chăm sóc về lâm sinh và phân bón, tác động duy nhất là tỉa các cành thấp ở thân cây. Phân bón được khuyến cáo là NPK với tỷ lệ 15-15-15, liều lượng 40 – 100kg/ha tùy thuộc tuổi cây, nhưng người trồng Quế hiếm khi sử dụng phân bón (Akahil Baruah và Subhan C. Giá trị sử dụng Dầu Quế được chiết xuất từ lá, vỏ cây, cành cây bằng cách chưng cất hơi nước. Các thành phần hóa học chính của dầu Quế là aldehyd cinnamic, cinnamyl acetate, benzaldehyde, linalool và chavicol.
Các đặc tính chữa bệnh của dầu Quế là chống đầy hơi, chống tiêu chảy, chống vi khuẩn và chống nôn. Dầu Quế được sử dụng cho các bệnh cảm lạnh, cúm, sốt, viêm khớp và thấp khớp… Vỏ Quế được dùng làm gia vị trong công nghiệp chế biến thực phẩm (ướp thịt, cá, làm bánh kẹo, sản xuất đồ hộp, nước giải khát). Tinh dầu từ vỏ và lá được sử dụng nhiều trong công nghiệp dược phẩm và hoá mỹ phẩm. Tại các nước châu Âu, tinh dầu từ vỏ Quế quan được dùng để uống với chè vì nó có đặc tính kích thích và diệt khuẩn.
Ngoài tinh dầu trong vỏ Quế còn chứa tanin, nhựa dầu (oleoresin), protein, pentosan, chất keo, xơ và các chất khoáng. Tinh dầu lá Quế thành phần chính là eugenol (70-95%), ngoài ra còn khoảng 50 hợp chất khác, trong đó các hợp chất có hàm lượng đáng kể là linalool, cinnamyl acetat, β- caryophyllen, (E)-cinnamic aldehyd, benzyl benzoat…. Do có hàm lượng eugenol cao, nên tinh dầu lá Quế quan được dùng làm nguyên liệu để chuyển hoá thành iso- eugenol và tổng hợp vanilin. Hạt chứa dầu béo (hàm lượng khoảng 30%) nên được dùng làm dầu thực phẩm tại Ấn Độ và Sri Lanka.
Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ - Biện pháp phòng trừ bệnh hại Kiểm soát bệnh đốm tảo do Cephaleuros virescens bằng hỗn hợp hợp 1% Bordeaux, 50% Topsin và 50% Carbendazim lần lượt là 66,2%, 45,9%, và 33,8% (Zheng et al. Rajapakse and Wasantha (2007), để khống chế bệnh đốm lá do C. gloeesporioides bằng cách phun Chlorothalonil 75% WP, Carbendazim 50% m 10 WP, Mancozeb 80%WP or Thiphanatemethyl 70% WP khoảng 7 -10 ngày, có thể cải thiện bệnh. Bệnh Phấn hồng do Corticicum salmonicolor chưa có biện pháp hóa học nào được đề xuất quản lý loại bệnh này mà đốt cháy cành hoặc phần của cây bị nhiễm bệnh là biện pháp làm giảm tỷ lệ bị bệnh.
Phòng trừ bệnh loét sọc bằng cách cải thiện hệ thống thoát nước làm cho tỷ lệ bị bệnh thấp đi. Việc loại bỏ và tiêu hủy các bộ phận bị nhiễm bệnh và băng vết thương bằng nhựa đường cũng được đề xuất để kiểm soát bệnh. Những nghiên cứu cây Quế ở Việt Nam Quế có tên khoa học là: Cinnamomum cassia. BL, thuộc chi: Cinnamomum, họ: Lauraceae.Tên Việt Nam: Quế.
Tên địa phương: Quế Thanh, Quế Quỳ, Quế Quảng, Quế Yên Bái, Quế Bì, Mạy Quế. Tên tiếng Anh: Cinnamo 1.