Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Thảm thực vật rừng giữ vai trò điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, duy trì chu trình tuần hoàn vật chất tự nhiên và cung cấp các nguồn lâm sản, dược liệu thiết yếu cho đời sống con người. Tuy nhiên, trong nửa cuối thế kỷ 20, chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học tại Việt Nam đã suy giảm đáng kể do áp lực đô thị hóa, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nạn phá rừng làm nương rẫy và khai thác gỗ trái phép. Nhằm ngăn chặn đà suy thoái này, Chính phủ Việt Nam đã từng bước kiện toàn hệ thống rừng đặc dụng (khởi đầu từ Chỉ thị số 194-CT ngày 08/9/1986 của Hội đồng Bộ trưởng thành lập 73 khu, đến Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg và hiện nay đã phát triển lên 164 khu rừng đặc dụng cùng 03 khu bảo tồn biển) và ban hành các quy định pháp luật nghiêm ngặt như Nghị định số 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm.

Huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là vùng cao nguyên đá vôi đặc trưng nằm ở cực Bắc Việt Nam, nơi lưu giữ nhiều nguồn gen thực vật quý hiếm và đặc hữu như Thông hai lá, Lan hài, Bách vàng. Tuy nhiên, trước áp lực mưu sinh, trình độ dân trí còn hạn chế và các tập quán canh tác lạc hậu của cư dân bản địa, nhiều loài thực vật quý hiếm tại đây đang bị suy giảm nghiêm trọng, một số loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Thực trạng này đòi hỏi các giải pháp bảo tồn khoa học phải gắn liền với sinh kế và sự tham gia trực tiếp của cộng đồng địa phương.

Trên cơ sở đó, khóa luận tốt nghiệp ngành Quản lý Tài nguyên rừng của tác giả Nguyễn Văn Việt (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, 2014) thực hiện đề tài: "Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài thực vật quý hiếm có sự tham gia tại huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang".

Mục đích nghiên cứu:

  • Dựa trên cơ sở điều tra thực địa để xác định các loài thực vật quý hiếm tại địa bàn nghiên cứu.
  • Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có sự tham gia của người dân tại huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định danh lục một số loài thực vật nguy cấp, quý hiếm của huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.
  2. Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn có hiệu quả những loài cây quý hiếm và các loài cây có nguy cơ bị đe dọa cao tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật nguy cấp, quý hiếm phân bố trong khu vực.
  • Phạm vi nghiên cứu: Do hạn chế về thời gian, đề tài giới hạn phạm vi khảo sát thực địa tại hai xã trọng điểm là xã Thài Phìn Tủng và xã Sà Phìn thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

Cơ sở lý thuyết, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng các nguyên lý của sinh học bảo tồn (conservation biology) – một ngành khoa học đa ngành ra đời nhằm giải quyết tình trạng khủng hoảng đa dạng sinh học và xác định đối tượng ưu tiên bảo vệ. Khái niệm Sách đỏ (Red Data Book) được sử dụng làm cơ sở pháp lý và khoa học phân hạng mức độ bị đe dọa theo tiêu chuẩn IUCN (1994, 2013) và Sách đỏ Việt Nam (2007) với các phân hạng: Tuyệt chủng (EX), Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sắp nguy cấp (VU), Ít nguy cấp (LR: LR/cd, LR/nt, LR/lc), Thiếu dẫn liệu (DD), Không đánh giá (NE).

Cơ sở pháp lý của đề tài căn cứ trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam và quốc tế:

  • Khoản 14 Điều 3 và Điều 12 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 quy định khái niệm, chính sách bảo vệ thực vật rừng quý hiếm.
  • Điều 7 Luật Đa dạng sinh học năm 2008 về các hành vi bị nghiêm cấm đối với nguồn gen quý hiếm.
  • Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ phân định Thực vật rừng Nhóm IA (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại gồm 15 loài và nhóm loài) và Nhóm IIA (hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại gồm 37 loài và nhóm loài).
  • Nghị định số 82/2006/NĐ-CP, Nghị định số 99/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính lâm nghiệp.
  • Công ước Đa dạng sinh học (CBD, ký năm 1994) và Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES với 3 phụ lục kiểm soát xuất nhập khẩu).

Khái niệm "sự tham gia" (theo Ngân hàng Thế giới) cùng phương pháp luận đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) được sử dụng để điều tra xã hội học lâm nghiệp, tìm hiểu thực trạng quản lý và lựa chọn giải pháp khả thi từ cộng đồng.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu

Đề tài kết hợp phương pháp kế thừa tài liệu thứ cấp với các kỹ thuật điều tra lâm sinh và điều tra xã hội học:

  • Phỏng vấn người dân (PRA): Chọn mẫu phỏng vấn có chủ đích gồm 30 người (người từng khai thác, sử dụng, buôn bán lâm sản; người am hiểu cây rừng như người cao tuổi, thầy thuốc bản địa và cán bộ kiểm lâm địa bàn). Công cụ sử dụng phiếu điều tra kết hợp cho quan sát mẫu vật sống và hình ảnh nhận dạng.
  • Điều tra theo tuyến: Thiết lập 2 tuyến điều tra vuông góc với đường đồng mức (Tuyến 1 tại xã Thài Phìn Tủng, Tuyến 2 tại xã Sà Phìn). Cứ mỗi 100 m chiều dài trên tuyến chính, lập các tuyến phụ xương cá sang hai phía trong phạm vi 10 m khi có biến đổi đai thực vật, khảo sát qua các trạng thái rừng từ chân lên đỉnh núi đá theo bốn hướng. Mẫu vật thu thập được đựng trong túi nylon, xử lý bảo quản bằng cồn, ghi nhãn và kẹp tiêu bản để giám định tên khoa học.
  • Điều tra ô tiêu chuẩn (ÔTC): Lập 18 ÔTC điển hình ngẫu nhiên đại diện cho các trạng thái rừng, diện tích mỗi ô là 500 m² (25 m x 20 m) có chiều dài trải theo đường đồng mức (những nơi địa hình quá dốc lập ô nhỏ 100 - 200 m²). Trong ÔTC, tiến hành đo đếm tầng cây cao (ghi nhận vị trí, độ dốc, độ cao, hướng phơi, tên loài) và cấu trúc tầng cây bụi thảm tươi.
  • Điều tra cây tái sinh: Trên mỗi ÔTC bố trí 5 ô dạng bản (ÔDB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m), gồm 4 ô ở bốn góc và 1 ô ở tâm (tổng diện tích kiểm kê tái sinh là 125 m²/ÔTC). Kiểm đếm toàn bộ số cá thể cây tái sinh của các loài thực vật quý hiếm.
  • Phương pháp xử lý thông tin: Dữ liệu điều tra được tổng hợp và phân tích định lượng bằng công thức xác định tần suất xuất hiện: $$\text{Tần suất xuất hiện (%)} = \left(\frac{\text{Số lần xuất hiện}}{\text{Tổng số lần xuất hiện}}\right) \times 100%$$

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của công tác quản lý tài nguyên rừng tại Việt Nam và tính đặc thù sinh thái vùng cao nguyên đá vôi Đồng Văn. Xác lập rõ ràng mục đích, 2 mục tiêu cụ thể, đối tượng khảo sát và phạm vi giới hạn tại 2 xã Thài Phìn Tủng và Sà Phìn, đồng thời nêu rõ ý nghĩa lý luận khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo tồn nguồn gen.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa các cơ sở khoa học về sinh học bảo tồn, hệ thống tiêu chuẩn phân hạng Sách đỏ và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Tổng thuật lịch sử nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới (với các dẫn chứng về các khu bảo tồn lâu đời như Vườn quốc gia Yellowstone, Olympic tại Mỹ hay hệ thống Taiga tại Nga) và tại Việt Nam (các số liệu công bố trong Sách đỏ Việt Nam 2007 với 847 loài thực vật, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP và dữ liệu bảo tồn tại các Vườn quốc gia Ba Bể, Hoàng Liên, Tam Đảo).

Phần này cũng khái quát toàn diện điều kiện khu vực nghiên cứu: Huyện Đồng Văn có diện tích tự nhiên 44.837 ha, trong đó địa hình núi đá vôi chiếm tới 73,49%, độ cao trung bình 1.200 m so với mực nước biển, lượng mưa năm khoảng 1.800 - 2.200 mm, khí hậu mang tính ôn đới chia hai mùa khô - mưa rõ rệt, mùa đông có sương muối và nhiệt độ có thể xuống 4 - 5°C. Dân số toàn huyện năm 2012 là 65.421 người (mật độ 147 người/km²), gồm 16 dân tộc anh em sinh sống tại 17 xã và 2 thị trấn, trong đó đồng bào dân tộc Mông chiếm đa số tuyệt đối (88%).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định chi tiết các bước chuẩn bị ngoại nghiệp, kỹ thuật thu hái tiêu bản thực vật, thiết kế 2 tuyến điều tra tự nhiên, bố trí hệ thống 18 ÔTC (500 m²) và 90 ÔDB (25 m²), cùng quy trình phỏng vấn bán cấu trúc 30 người dân địa phương thông qua bảng hỏi và mẫu vật nhận diện.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm qua 5 nội dung chính:

  • Thực trạng và danh lục thực vật quý hiếm: Tổng hợp tần suất bắt gặp các loài quý hiếm trên 18 ÔTC dao động rất thấp (chỉ từ 1 đến 4 loài/ô, có tới 6/18 ô không ghi nhận loài quý hiếm nào). Trên Tuyến 1 (Thài Phìn Tủng) ghi nhận 28 cá thể thuộc 13 loài; Tuyến 2 (Sà Phìn) ghi nhận 14 cá thể thuộc 11 loài. Phân tích phân bố theo 2 đai cao (đai 1400 - <1500 m có 9 loài; đai 1500 - <1600 m có 13 loài). Danh lục điều tra bước đầu thống kê được 22 loài thực vật quý hiếm, đối chiếu chi tiết với Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2013) và Nghị định số 32/2006/NĐ-CP.
  • Tình hình khai thác, sử dụng và nhận thức cộng đồng: Tổng hợp việc sử dụng 19 loài thực vật quý hiếm vào 4 nhóm mục đích (làm nhà, đồ gia dụng, củi đun, thương mại bán ra ngoài). Phân tích khảo sát 30 hộ dân cho thấy nhận thức cao về vai trò của rừng và tác hại của suy thoái rừng, nhưng lại hạn chế về ranh giới thôn bản (chỉ 5/30 hộ nắm rõ) và đối mặt với nhiều khó khăn sản xuất (100% thiếu nước và thiếu đất trồng lúa, 83,3% đất dốc).
  • Hiện trạng tái sinh tự nhiên: Đo đếm mật độ tái sinh trên các ÔDB cho thấy mật độ tái sinh rất thưa thớt, chủ yếu là các loài cây lá kim; trong đó Thông tre lá ngắn chiếm ưu thế cao nhất (8 cây tái sinh ở Tuyến 1; 4 cây ở Tuyến 2).
  • Đánh giá công tác quản lý bảo vệ rừng: Mô tả mô hình tổ chức liên ngành tại huyện Đồng Văn (Hạt Kiểm lâm – UBND Xã – Trạm Kiểm lâm – Công an, Dân quân – Trưởng thôn – Người dân), đồng thời ghi nhận thực tế mô hình vườn bảo tồn cây quý hiếm tại xã Thài Phìn Tủng.
  • Xác định các mối đe dọa: Bóc tách 5 nguyên nhân trực tiếp xâm hại hệ thực vật địa phương gồm lấn chiếm nương rẫy, cháy rừng, khai thác trộm gỗ/lâm sản ngoài gỗ, xâm hại đất đai và chăn thả gia súc tự do.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các chỉ số sinh thái, danh lục 22 loài ghi nhận được và đề xuất các nhóm giải pháp lâm sinh, quản trị và kinh tế nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen thực vật tại Đồng Văn.

Kết quả và đóng góp của đề tài

Kết quả điều tra thực nghiệm

Đề tài đã xác lập danh lục bước đầu gồm 22 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm phân bố tại khu vực khảo sát thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang:

STT Tên phổ thông Tên khoa học Sách đỏ VN (2007) Nghị định 32/2006 IUCN (2013) Địa bàn ghi nhận
1 Hoàng đàn Cupressus torulosa EN Nhóm IA LR/lc Xã Sà Phìn
2 Pơ mu Fokienia hodginsii CR Nhóm IIA LR Thài Phìn Tủng, Sà Phìn
3 Thông tre lá ngắn Podocarpus pilgeri EN Nhóm IIA LR/lc Thài Phìn Tủng, Sà Phìn
4 Kim giao Nageia fleuryi EN - LR/nt Xã Thài Phìn Tủng
5 Thông Pà Cò Pinus kwangtunggensis EN Nhóm IA LR/nt Xã Thài Phìn Tủng
6 Trai lý Garcinia fagraeoides EN Nhóm IIA - Xã Thài Phìn Tủng
7 Trầm hương Aquilaria crassna VU - CR Xã Thài Phìn Tủng
8 Nghiến Burretiodendron tonkinensis EN Nhóm IIA EN Xã Sà Phìn
9 Lát hoa Chukrasia tabularis VU - LR/cd Xã Thài Phìn Tủng
10 Đỗ trọng Eucommia ulmoides VU - LR/cd Xã Thài Phìn Tủng
11 Bách vàng Xanthocyparis vietnamensis CR Nhóm IA EN Xã Thài Phìn Tủng
12 Bách xanh Calocedrus macrolepis EN Nhóm IIA LR/nt Xã Thài Phìn Tủng
13 Tô hạp Altingia siamensis VU - - Xã Sà Phìn
14 Sam hạt đỏ lá ngắn Taxus chinensis EN - EN Xã Sà Phìn
15 Re hương Cinnamomum parthenoxylon EN Nhóm IIA DD Xã Sà Phìn
16 Sến mật Madhuca pasquieri VU - VU Xã Sà Phìn
17 Vàng tâm Manglietia dandyi VU - - Xã Sà Phìn
18 Chò chỉ Parashorea chinensis VU - EN Xã Sà Phìn
19 Song mật Calamus platyacanthus EN - - Xã Sà Phìn
20 Cu ly Cibotium barometz VU - - Xã Thài Phìn Tủng
21 Bổ cốt toái Drynaria fortunei EN - - Xã Sà Phìn
22 Thiết sam giả lá ngắn Pseudotsuga brevifolia Đề nghị bổ sung - - Thài Phìn Tủng, Sà Phìn

Đối chiếu phân hạng bảo tồn:

  • Theo Sách đỏ Việt Nam (2007): Có 21 loài được xếp hạng (02 loài Cực kỳ nguy cấp - CR: Bách vàng, Pơ mu; 11 loài Nguy cấp - EN; 08 loài Sắp nguy cấp - VU) và 01 loài đang đề nghị đưa vào sách đỏ là Thiết sam giả lá ngắn (Pseudotsuga brevifolia).
  • Theo Danh lục đỏ IUCN (2013): Ghi nhận 15 loài (01 loài CR: Trầm hương; 04 loài EN: Nghiến, Sam hạt đỏ lá ngắn, Bách vàng, Chò chỉ; 01 loài VU: Sến mật; 08 loài bậc LR; 01 loài bậc DD).
  • Theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP: Có 09 loài nằm trong danh mục (03 loài thuộc Nhóm IA nghiêm cấm khai thác: Hoàng đàn, Thông Pà Cò, Bách vàng; 06 loài thuộc Nhóm IIA hạn chế khai thác: Pơ mu, Thông tre lá ngắn, Trai lý, Nghiến, Bách xanh, Re hương).

Phân bố và tái sinh lâm học:

  • Tần suất xuất hiện loài chiếm ưu thế lớn nhất là Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri), chiếm 50% số lần bắt gặp trên Tuyến 1 (14 lần) và 29% trên Tuyến 2 (4 lần).
  • Đai cao từ 1500 đến dưới 1600 m tập trung đa dạng loài hơn (13 loài trưởng thành và 12 loài có cây tái sinh) so với đai cao từ 1400 đến dưới 1500 m (09 loài trưởng thành và 06 loài có cây tái sinh).
  • Tái sinh tự nhiên nhìn chung rất nghèo kiệt: Trên Tuyến 1, Thông tre lá ngắn có 8 cây tái sinh, Thông Pà Cò có 2 cây, các loài khác chỉ có 1 cây hoặc hoàn toàn vắng bóng. Trên Tuyến 2, Thông tre lá ngắn ghi nhận 4 cây tái sinh, các loài khác chỉ đạt 1 cây.

Thực trạng sử dụng và xung đột sinh kế (khảo sát 30 hộ dân):

  • Thiết sam giả lá ngắn và Thông tre lá ngắn là hai loài bị khai thác nhiều nhất: Thiết sam giả lá ngắn bị 30 hộ dùng làm đồ gia dụng, 30 hộ dùng làm củi, 19 hộ dùng làm nhà, 16 hộ khai thác bán. Thông tre lá ngắn bị 28 hộ dùng làm đồ gia dụng, 20 hộ làm nhà, 22 hộ làm củi, 18 hộ bán.
  • Hoạt động khai thác thương mại diễn ra đối với các loài cây gỗ quý: Pơ mu (25 hộ bán), Thông Pà Cò (23 hộ bán), Hoàng đàn (20 hộ bán), Bách vàng (20 hộ bán), Bách xanh (16 hộ bán).
  • Khó khăn cốt lõi của người dân: 100% số hộ (30/30) xác nhận thiếu nước tưới tiêu và thiếu đất trồng lúa; 83,3% (25/30 hộ) canh tác trên đất quá dốc; 76,7% (23/30 hộ) thiếu đất lâm nghiệp; 66,7% (20/30 hộ) thiếu kỹ thuật sản xuất.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu kiểm kê thực tế có tọa độ định vị (GPS) về các quần thể thực vật nguy cấp trên núi đá vôi tại huyện Đồng Văn trong bối cảnh các nghiên cứu lâm sinh chuyên sâu tại địa bàn này còn rất hạn chế.
  • Chỉ ra mối liên hệ nhân quả giữa áp lực sinh kế nông nghiệp (thiếu nước, thiếu đất trồng lúa nước, địa hình dốc) với việc người dân tộc thiểu số bản địa (chủ yếu là người Mông) phải dựa vào rừng để khai thác gỗ làm nhà, củi đun và bán lâm sản kiếm sống.
  • Hệ thống hóa sơ đồ quản lý bảo vệ rừng đa cấp tại cơ sở, ghi nhận mô hình vườn bảo tồn cây quý hiếm tại xã Thài Phìn Tủng làm cơ sở thực tiễn để nhân rộng cơ chế đồng quản lý rừng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian mới chỉ tiến hành khảo sát tập trung tại hai xã Thài Phìn Tủng và Sà Phìn, chưa thể mở rộng ra toàn bộ 17 xã và 2 thị trấn của huyện Đồng Văn do hạn chế về thời gian và kinh phí dã ngoại.
  • Dung lượng mẫu điều tra xã hội học còn ở mức thăm dò ban đầu (30 phiếu phỏng vấn hộ gia đình).
  • Số lượng ô tiêu chuẩn lập được trên thực địa còn khiêm tốn (18 ÔTC trên 2 tuyến) do địa hình núi đá dốc đứng hiểm trở, gây khó khăn cho việc di chuyển và lập ô.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra lập ô tiêu chuẩn trên các xã khác thuộc vùng cao nguyên đá Đồng Văn nhằm hoàn thiện bản đồ phân bố chi tiết cho từng loài thực vật quý hiếm.
  • Thiết lập các ô định vị cố định để theo dõi động thái sinh trưởng và diễn thế tái sinh tự nhiên của các loài nguy cấp (đặc biệt là Bách vàng, Hoàng đàn, Sam hạt đỏ lá ngắn) theo thời gian dài hạn.
  • Nghiên cứu sâu hơn về kỹ thuật nhân giống vô tính hoặc hữu tính nhằm phục vụ công tác bảo tồn ngoại vi (ex-situ) và phát triển các mô hình vườn ươm cộng đồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn cho:

  • Sinh viên và học viên cao học: Chuyên ngành Quản lý Tài nguyên rừng, Lâm học, Lâm nghiệp đô thị, Sinh thái học và Quản lý Môi trường. Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp kết hợp tuyến xương cá vuông góc đường đồng mức với ô tiêu chuẩn 500 m² và ô dạng bản 25 m² trên địa hình núi đá vôi phức tạp.
  • Cán bộ Kiểm lâm và các cơ quan quản lý: Hạt Kiểm lâm huyện Đồng Văn, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang và UBND các xã vùng cao nguyên đá có thể sử dụng bảng tổng hợp danh lục 22 loài và bảng phân tích 5 nhóm nguy cơ đe dọa để xây dựng phương án tuần tra, phòng cháy chữa cháy rừng và quy hoạch phân khu bảo tồn nghiêm ngặt.
  • Các dự án bảo tồn phát triển: Cung cấp số liệu gốc về nhận thức cộng đồng và các khó khăn sản xuất của đồng bào bản địa, phục vụ việc thiết kế các can thiệp sinh kế thay thế (cải thiện nguồn nước, chuyển giao kỹ thuật canh tác) nhằm giảm tải áp lực khai thác rừng tự nhiên.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài đã ghi nhận được bao nhiêu loài thực vật quý hiếm và mức độ đe dọa theo Sách đỏ Việt Nam ra sao?

Khóa luận đã thống kê được 22 loài thực vật quý hiếm tại huyện Đồng Văn. Trong đó, 21 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) gồm 02 loài ở cấp Cực kỳ nguy cấp - CR (Bách vàng và Pơ mu), 11 loài ở cấp Nguy cấp - EN (như Hoàng đàn, Thông tre lá ngắn, Thông Pà Cò, Trai lý, Nghiến, Sam hạt đỏ lá ngắn, Re hương...) và 08 loài ở cấp Sắp nguy cấp - VU (như Trầm hương, Lát hoa, Đỗ trọng, Sến mật, Chò chỉ...). Ngoài ra có 01 loài là Thiết sam giả lá ngắn đang được đề nghị bổ sung vào Sách đỏ Việt Nam.

Loài thực vật nào có tần suất xuất hiện và khả năng tái sinh cao nhất trên các tuyến điều tra?

Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri) là loài bắt gặp nhiều nhất trên cả hai tuyến ngoại nghiệp: Tuyến 1 xuất hiện 14 lần (chiếm 50% tổng số lần xuất hiện của các loài quý hiếm), Tuyến 2 xuất hiện 4 lần (chiếm 29%). Loài này cũng có số lượng cây tái sinh cao nhất với 8 cây trên Tuyến 1 và 4 cây trên Tuyến 2, phân bố ở cả hai đai độ cao (1400 - <1500 m và 1500 - <1600 m).

Mục đích sử dụng các loài cây quý hiếm của người dân địa phương tập trung vào những khía cạnh nào?

Kết quả phỏng vấn 30 hộ dân cho thấy việc khai thác chia thành hai nhóm chính: phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại chỗ (làm nhà ở, đóng đồ dùng gia đình, lấy củi đun) và bán thương phẩm thu tiền mặt. Trong đó, Thiết sam giả lá ngắn và Thông tre lá ngắn bị khai thác nhiều nhất cho cả 4 mục đích; các loài cây gỗ quý có giá trị kinh tế cao như Pơ mu (25 hộ bán), Thông Pà Cò (23 hộ bán), Hoàng đàn (20 hộ bán), Bách vàng (20 hộ bán) chủ yếu bị khai thác để bán ra thị trường.

Yếu tố tự nhiên và kinh tế nào cản trở lớn nhất đến đời sống sản xuất của người dân tại vùng khảo sát?

Theo bảng khảo sát 30 hộ dân, khó khăn lớn nhất là điều kiện khắc nghiệt của vùng núi đá: 100% hộ dân thiếu nước tưới tiêu và thiếu đất canh tác nông nghiệp trồng lúa; 83,3% hộ gặp trở ngại do đất dốc; 76,7% hộ thiếu đất lâm nghiệp và 66,7% hộ thiếu kỹ thuật sản xuất. Tình trạng thiếu thốn tư liệu sản xuất nông nghiệp là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy người dân vào rừng khai thác lâm sản trái phép.

Bộ máy quản lý bảo vệ rừng tại cơ sở huyện Đồng Văn được tổ chức phối hợp như thế nào?

Cơ chế quản lý vận hành theo mối liên kết dọc và ngang: Hạt Kiểm lâm huyện chỉ đạo nghiệp vụ; Trạm Kiểm lâm đặt tại trung tâm xã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân xã, Công an xã và lực lượng Dân quân tự vệ. Lực lượng này làm việc trực tiếp với Trưởng thôn để triển khai tuần tra, hướng dẫn kỹ thuật bảo vệ rừng, giao khoán đất rừng và giám sát việc thực hiện cam kết bảo vệ của từng hộ dân.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Văn Việt đã cung cấp nguồn dẫn liệu thực địa về hiện trạng 22 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trên địa hình núi đá vôi tại hai xã Thài Phìn Tủng và Sà Phìn, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang. Kết quả nghiên cứu làm rõ sự suy giảm nghiêm trọng của các quần thể cây gỗ quý cùng tình trạng tái sinh nghèo kiệt do chịu tác động trực tiếp từ tập quán canh tác nương rẫy, chăn thả tự do và khai thác lâm sản phục vụ sinh kế của người dân địa phương. Công trình khẳng định tính cấp thiết của việc áp dụng mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng bản địa, kết hợp giữa thực thi pháp luật lâm nghiệp nghiêm ngặt với việc hỗ trợ giải quyết khó khăn về nước tưới, đất canh tác và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất cho người dân vùng cao.