Đặt vấn đề Rừng có một vai trò hết sức quan trọng đối với con người. Rừng là lá phổi xanh khổng lồ điều hoà khí hậu, hạn chế thiên tai, bão lũ, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất của thiên nhiên, là nơi cư trú của rất nhiều loài động vật, là nơi cung cấp thức ăn cho động vật nói chung. Đặc biệt thảm thực vật rừng còn có vai trò rất quan trọng cung cấp nguồn nguyên liệu cho các hoạt động của con người như gỗ, nguyên liệu giấy, xây dựng nhà cửa và các trang thiết bị nội thất, cho dầu béo, tinh dầu, làm thuốc, làm cảnh và nhiều giá trị sử dụng khác. Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập với quốc tế, quá trình đô thị hoá diễn ra một cách nhanh chóng, một diện tích đất rừng không nhỏ đã được chuyển đổi mục đích sử dụng để xây dựng các công trình nhà cửa, xí nghiệp, đường xá, khu vui chơi… Bên cạnh đó nạn phá rừng làm rẫy, khai thác gỗ, củi và các nguồn tài nguyên khác vẫn thường xuyên xảy ra, diện tích rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp, nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng.
Nếu không có các biện pháp ngăn chặn kịp thời thì trong những năm tới, nguồn tài nguyên rừng sẽ bị suy giảm và cạn kiệt. Trong những năm nửa cuối thế kỷ 20, diện tích rừng Việt Nam đã có những biến động đáng kể, chất lượng rừng và giá trị đa dạng sinh học đã và đang bị suy giảm. Trước tình hình đó, Chính phủ Việt Nam đã có những giải pháp nhằm bảo vệ rừng, bảo vệ giá trị đa dạng sinh học. Một trong những giải pháp quan trọng là việc thành lập hệ thống các khu rừng đặc dụng trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 08 tháng 9 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ban hành Chỉ thị số 194-CT về việc thành lập hệ thống rừng đặc dụng với 73 khu, và được chia làm 03 loại: Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng văn hóa lịch sử và môi trường. Ngày 17 tháng 9 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 192/2003/QĐ-TTg phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010. Hệ thống này có diện tích gần 2,5 triệu hecta chiếm khoảng 7% diện tích tự nhiên toàn quốc với 126 khu rừng đặc dụng, trong đó có 27 vườn quốc gia, 49 n 2 khu dự trữ thiên nhiên, 13 khu bảo tồn loài/nơi cư trú và 37 khu bảo tồn cảnh quan. Hiện nay, hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng (bao gồm 30 Vườn quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học) và 03 khu bảo tồn biển chứa đựng các hệ sinh thái, cảnh quan đặc trưng với giá trị đa dạng sinh học tiêu biểu cho hệ sinh thái trên cạn, đất ngập nước và trên biển.
Bên cạnh sự ra đời của hệ thống các khu rừng đặc dụng, Chính phủ cũng đã ban hành các quy định về bảo tồn và phát triển các loài động thực vật quý hiếm. Ngày 30 tháng 3 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định 32/2006/NĐ-CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm,[6]. Nghị định 32 đã quy định nhóm I A gồm 15 loài và nhóm loài thực vật, nhóm II A gồm 37 loài và nhóm loài thực vật cần được bảo vệ. Như vậy, số lượng loài và nhóm loài được quy định qua các thời kỳ tăng lên.
Điều này cho thấy áp lực ngày càng lớn tới các loài thực vật quý hiếm ở Việt Nam. Đồng Văn- Hà Giang là cao nguyên đá vôi nằm ở cực Bắc nước ta. Ở đây có nhiều động thực vật quý hiếm như Thông hai lá, Lan hài, Bách vàng…Nhiều loài đang bị suy giảm một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài đang ở ngưỡng cửa tuyệt chủng [18]. Xuất phát từ thực trạng trên nhiều câu hỏi được đặt ra đối với nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức, cá nhân là làm sao để bảo tồn và phát triển các loài tự nhiên trong đó có các loài thực vật quý hiếm, làm thế nào duy trì sự đa dạng sinh học và nâng cao giá trị sử dụng của chúng, vai trò của người dân tại địa phương đối với việc bảo tồn các loài này như thế nào, Các biện pháp nâng cao hơn nữa sự tham gia của người dân tại địa phương, xây dựng được hệ thống các biện pháp bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có sự tham gia.
Từ những vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp bảo tồn loài thực vật quý hiếm có sự tham gia tại huyện Đồng Văn- tỉnh Hà Giang”. Mục đích của đề tài Dựa trên cơ sở điều tra để từ đó xác định được các loài thực vật quý hiếm tại địa bàn nghiên cứu, đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có sự tham gia tại huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang. Mục tiêu của đề tài Đề tài nghiên cứu nhằm đạt các mục tiêu chính: - Xác định danh lục một số loài thực vật nguy cấp, quý hiếm của huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang. - Đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn có hiệu quả những loài cây quý hiếm và các loài cây có nguy cơ bị đe dọa cao tại huyện Đồng Văn - tỉnh Hà Giang.
Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa học tập và ý nghĩa việc nghiên cứu giúp sinh viên củng cố lại và bổ sung thêm kiến thức đã học. Qua đó giúp sinh viên làm quen với việc nghiên cứu khoa học, viết và trình bày báo cáo khoa học, nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa thực tiễn. - Xác định được hiện trạng một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng dựa theo Sách đỏ Việt Nam (2007), Danh lục đỏ IUCN (2013) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển loài thực vật quý hiếm tại huyện Đồng Văn – tỉnh Hà Giang. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học về nghiên cứu thực vật nguy cấp quý hiếm 2. Khái niệm sinh học bảo tồn Sinh học bảo tồn là một nguyên lý khoa học được xây dựng để bảo vệ các loài, thiết lập các khu bảo tồn mới và củng cố nâng cấp các vườn quốc gia cũng là để xác định những loài nào trên trái đất được bảo tồn cho tương lai [8].
Sinh học bảo tồn là một ngành khoa học đa ngành (multi-díciplinara), tập hợp được rất nhiều người và nhiều tri thức thuộc các lĩnh vực khác nhau nhằm khắc phục tình trạng khủng hoảng đa dạng sinh học hiện nay. Về nhiều mặt có thể nói sinh học bảo tồn là một khoa học thiết yếu (crisis discipline). Các quyết định về vấn đề bảo tồn được đưa ra hằng ngày và thường với những thông tin rất hạn chế do thời gian cấp bách. Sinh học cố gắng đề xuất những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề nảy sinh trong điều kiện thực tế ngày nay.
Khái niệm sách đỏ Sách đỏ (Rea Data Book) được coi là tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghĩa quốc tế, công bố các loài động vật, thực vật thuộc loại quý hiếm ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới đang bi đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề suất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đối với tường đối tượng thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại phát triển của các loài sinh vật cần được bảo vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước [8]. Khái niệm thực vật rừng qúy hiếm Theo khoản 14 điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng (2004) loài thực vật quý hiếm là loài có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng thuộc danh mục các loài thực vật rừng quý hiếm do chính phủ quy định để quản lý và bảo vệ [12]. Khái niệm sự tham gia Theo ngân hàng thế giới sự tham gia được định nghĩa như là một quá trình thông qua đó các chủ thể cùng tác động và chia sẻ những sáng kiến phát triển và cùng quyết định [13].
Mục đích của sự tham gia: - Làm cho kết quả nghiên cứu được chính xác nhất gần với nhu cầu của người dân. - Lựa chọn được các giải pháp thích hợp nhất. - Điều chỉnh phù hợp. Khái niệm RRA và PRA RRA là phương pháp đánh giá nhanh nông thôn.
Sử dụng phương pháp này là cùng làm việc với người dân và cán bộ chuyên nghành nhằm tìm hiểu và xác định nhanh chóng các giải pháp của cộng đồng [9]. PRA là một phương pháp luận giúp cho người nông dân nông thôn có thể chia sẻ, củng cố và phân tích kiến thức hiểu biết của họ về cuộc sống, điều kiện sống, cũng như lập kế hoạch, thực hiện giám sát đánh giá [10]. Vai trò của việc bảo tồn loài thực vật quý hiếm Không chỉ đến bây giờ mà rất lâu rồi, bảo vệ động, thực vật hoang dã là một vấn đề lớn gặp nhiều thách thức không chỉ riêng ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Đây là trách nhiệm chung của mỗi con người chúng ta.
Tuy nhiên, không phải ai cũng ý thức được như vậy. Đây là một lĩnh vực rất khó khăn và phức tạp. Đã xuất hiện khá nhiều bài viết, tin tức, phim ảnh, tuyên truyền. cùng nhiều luật được ban hành và thực thi.
Nhưng đáng buồn, việc buôn bán, tiêu thụ bất hợp pháp động thực vật hoang dã, quý hiếm ở nước ta còn phổ biến ở nhiều nơi và đang ở mức báo động mạnh mẽ. Mỗi một loài động, thực vật là một thành phần, nhiều thành phần xuất hiện sẽ góp phần tạo nên sự đa dạng sinh học. Và Việt Nam là một trong những nước trên thế giới mang trong mình sự đa dạng đó.Thế nhưng, nguồn tài nguyên quý báu, vô cùng phong phú đấy đang bị suy giảm nghiêm trọng bởi sự tàn phá, hủy diệt và nguyên nhân chủ yếu là tác động của con người.