MỞ ĐẦU Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng. Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển Đất Nước. Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Được sự nhất trí của thầy giáo hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài : “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn Trần Thị Mai - xã Tân Cương – thành phố Thái Nguyên và thử nghiệm một số phác đồ điều trị”. Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế nên trong bản khóa luận tốt nghiệp này không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, của bạn bè, đồng nghiệp để bản khóa luận được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Sinh viên Mai Danh Hoàng n DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1.
Cơ cấu đàn lợn của Trang trại Trần Thị Mai (2012 – 11/2014). Lịch sát trùng trại lợn nái. Lịch phòng bệnh của trại lợn nái. Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm. Điều tra quy mô đàn lợn nái 3 năm trở lại đây của trại (từ năm 2012 – 11/2014). Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái trong 3 năm (từ năm 2012 đến 11/2014). Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ.
Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo các giống lợn. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị.
Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị. 61 n DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT Cs : Cộng sự Nxb : Nhà xuất bản P : Thể trọng STT : Số thứ tự VNMTC : Viêm nội mạc tử cung VCTC : Viêm cơ tử cung VTMTC : Viêm tương mạc tử cung n MỤC LỤC Trang Phần 1: CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT. Điều tra tình hình cơ bản.
Điều kiện tự nhiên. Tình hình kinh tế - xã hội. Tình hình sản xuất nông nghiệp. Đánh giá chung.
Nội dung, phương pháp và kết quả phục vụ sản xuất. Nội dung phục vụ sản xuất. Phương pháp thực hiện. Kết quả công tác phục vụ sản xuất.
Kết luận và đề nghị. 23 Phần 2: CHUYÊN ĐỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC. Tính cấp thiết của đề tài. Mục đích của đề tài.
Nội dung của đề tài. Tổng quan tài liệu. Cơ sở khoa học. Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong đề tài.
Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước. Đối tượng, nội dung, và phương pháp nghiên cứu. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi.
Phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Quy mô đàn lợn nái 3 năm trở lại đây. Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2012 - 2014).
Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều kiện thời tiết khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn.
Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo phác đồ điều trị. Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh. Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị. Kết luận, tồn tại và đề nghị.
63 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 64 n 1 Phần 1 CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 1. Điều tra tình hình cơ bản 1. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Trại lợn Trần Thị Mai là một đơn vị chăn nuôi gia công thuộc công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam. Đóng trên địa phận hành chính xóm Soi Vàng, xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên. - Xã Tân Cương có địa giới hành chính như sau: Phía Bắc giáp xã Phúc Xuân – thành phố Thái Nguyên, phía Đông và Phía Nam giáp xã Thịnh Đức – thành phố Thái Nguyên, phía tây giáp xã Phúc Tân thuộc huyện Phổ Yên – tỉnh Thái Nguyên. Nhìn chung đây là một vị trí khá thuận lợi cho một trại chăn nuôi vì nó xa khu công nghiệp, xa khu dân cư và đường giao thông chính nhưng vẫn thuận tiện cho vận chuyển thức ăn và xuất lợn.
Điều kiện địa hình đất đai Trại nằm trên địa bàn thuộc khu vực trung du xen đồi núi thấp, địa hình không bằng phẳng, đất bạc màu, diện tích tự nhiên là 806,61 ha trong đó: - Đất nông nghiệp 503,44 ha gồm: Đất sản xuất nông nghiệp 481,78 ha. Đất nuôi trồng thủy sản 19,67 ha. Đất nông nghiệp khác 1,99 ha. - Đất phi nông nghiệp 280,70 ha gồm: Đất ở 47,23 ha.
Đất chuyên dùng 92,62 ha. Đất tín ngưỡng tôn giáo 1,64 ha. n 2 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 9,26 ha. Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 29,95 ha.
- Đất chưa sử dụng 22,47 ha gồm: Đất bằng chưa sử dụng 15,36 ha. Đất đồi núi chưa sử dụng 7,11 ha. Thời tiết khí hậu Trại chăn nuôi lợn nái Trần Thị Mai nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Phân ra làm 4 mùa: xuân, hạ, thu, đông, chia hai mùa rõ rệt: Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, lượng mưa chiếm 85 %, nhiều nhất tháng 7, 8.
Mùa đông lạnh, khô, ít mưa, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Khí hậu của xã Tân Cương có những đặc trưng sau: Nhiệt độ trung bình của xã: 19 - 22oC. Nhiệt độ cao nhất: 35 - 38oC (tháng 6, 7) Nhiệt độ thấp nhất: 8 - 12oC (tháng 11, 12) Ẩm độ không khí trung bình/năm: 70 - 75 %. Tháng cao nhất là 85 %, tháng thấp nhất là 65 %.
Với điều kiện khí hậu như vậy nhìn chung thuận lợi cho phát triển cả về trồng trọt lẫn chăn nuôi. Tuy nhiên, cũng có những giai đoạn điều kiện khí hậu thay đổi thất thường như hạn hán, lũ lụt, mùa hè có ngày nhiệt độ rất cao (39 - 40oC), mùa đông có ngày nhiệt độ rất thấp (dưới 10oC) ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước Nguồn nước từ chăn nuôi của trại được lấy từ giếng khoan, đảm bảo nước sạch và đủ nhu cầu sinh hoạt cho công nhân và nước dùng cho lợn trong trại ngay cả mùa hè oi bức. Nguồn nước cho trồng trọt được lấy từ ao cá và tận dụng nước tự nhiên.
Tình hình kinh tế - xã hội 1. Tình hình dân cư xung quanh trại Tân Cương có tổng số dân 8.628 người nằm ở 23 thôn, trong đó nam 4.355 người, nữ 4. + Tổng số người trong độ tuổi lao động 5.152 người trong đó: Lao động nam 2. Lao động nữ 2.
+ Tổng số hộ gia đình 2.365 hộ trong đó: Hộ làm nông nghiệp 1. Hộ làm dịch vụ, công nghiệp 230 hộ. Hộ làm thương nghiệp 74 hộ. Hộ khác 198 hộ.
Trại lợn Trần Thị Mai đóng trên địa bàn xã Tân Cương, một xã nông nghiệp của thành phố Thái Nguyên cho nên dân cư xung quanh trại chủ yếu là nông dân sinh sống, định canh định cư bằng nghề nông nghiệp, một phần nhỏ làm hàng thủ công và buôn bán nhỏ. Ngoài ra có một số gia đình là cán bộ viên chức nhà nước. Nhìn chung, dân cư xung quanh trại đều có trình độ dân trí khá cao cho nên cũng tạo điều kiện cho sự phát triển của trại. Tình hình phát triển văn hóa, y tế và giáo dục * Văn hoá: Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân trong xã cũng có nhiều khởi sắc.
Nếp sống văn hoá trong đám cưới, việc tang, lễ hội từng bước đi vào nề nếp. Môi trường ở nông thôn được bảo vệ, các thôn, làng được công nhận làng văn hoá “xanh, sạch, đẹp”. Các thôn, các dòng họ đều có tổ chức hội khuyến học, khuyến tài. Phong trào văn nghệ, thể thao phát triển rộng khắp trong địa bàn xã.
Đến nay, trong xã đã xây dựng được nhà văn hóa đa năng của xã, các thôn đều có nhà văn hóa thôn, để cho bà con và các em thiếu nhi sinh hoạt. n 4 * Về y tế: Tân Cương có 1 trạm y tế với 8 cán bộ nhân viên trong đó 1 bác sỹ kiêm trạm trưởng, 7 y sĩ, 23 y tế thôn, 23 cộng tác viên dân số, có đầy đủ trang thiết bị cần thiết cho việc khám chữa bệnh của người dân ở tuyến cơ sở. * Về giáo dục: Xã Tân Cương có hệ thống trường với 2 trường mầm non, 1 trường tiểu học, 1 trường trung học cơ sở đều đạt chuẩn quốc gia, đội ngũ cán bộ giáo viên có trình độ và năng lực công tác tốt, cơ sở vật chất được kiên cố hóa, học sinh ngoan có truyền thống hiếu học. Được Đảng chính quyền và nhân dân địa phương thường xuyên quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, do đó phong trào dạy và học ở đây phát triển tốt.