Tổng quan nghiên cứu

Huyện Thái Thụy thuộc tỉnh Thái Bình sở hữu đường bờ biển dài 27 km cùng vùng bãi triều rộng trên 10.000 ha, tạo tiền đề tự nhiên lý tưởng cho phát triển kinh tế thủy sản với tổng sản lượng năm 2016 đạt 41.074 tấn. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng nóng đi kèm các phương thức canh tác thiếu bền vững đã gây sức ép nghiêm trọng lên môi trường sinh thái. Số liệu thống kê từ cơ quan nông nghiệp địa phương cho thấy tính đến cuối năm 2016, có tới 70% diện tích ao nuôi tại huyện từng ghi nhận dịch bệnh bùng phát, trong khi chỉ có 20% hộ dân tiếp cận và ứng dụng các quy trình nuôi hiện đại có hệ thống kiểm soát nguồn nước an toàn sinh học.

Trước bối cảnh đó, nghiên cứu được thực hiện nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hành vi ứng xử của nông hộ đối với tình trạng ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy sản nước lợ và mặn. Đề tài tập trung phân tích thực trạng nhận thức, hành vi chuẩn bị ao đầm, điều chỉnh mật độ thả nuôi, xử lý chất thải và xác định các yếu tố chi phối quyết định của hộ dân tại 3 xã ven biển trọng điểm gồm Thái Đô, Thái Thượng và Thụy Hải. Nghiên cứu sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 kết hợp số liệu sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2016 - 2017.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác giúp các cơ quan quản lý hoạch định chính sách phân vùng thủy lợi và chuyển giao kỹ thuật. Mục tiêu hướng tới là hỗ trợ giảm tỷ lệ rủi ro dịch bệnh xuống dưới 25%, gia tăng tỷ lệ hộ áp dụng xử lý chất thải đạt chuẩn trên 60%, góp phần chuyển dịch cơ cấu 123.493 lao động địa phương theo hướng kinh tế biển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết về kinh tế nông hộ của Alexander Chayanov và Frank Ellis, xác định hộ nuôi trồng thủy sản là đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ đồng thời là đơn vị tiêu dùng cơ bản. Quyết định sản xuất của hộ luôn chịu sự chi phối chặt chẽ giữa mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và hạn chế rủi ro sinh kế. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết hành vi và tâm lý môi trường của Lê Thị Bừng và Nguyễn Khắc Viện, khẳng định ứng xử của con người đối với các kích thích sinh thái là phản ứng có ý thức, được định hình bởi vốn tri thức, kinh nghiệm tích lũy và điều kiện kinh tế cụ thể.

Khung phân tích của đề tài tích hợp 4 khái niệm cốt lõi: môi trường nuôi trồng thủy sản, ô nhiễm môi trường nước ven biển, hành vi thích ứng của nông hộ và quản lý chất thải hữu cơ. Mô hình nghiên cứu đánh giá toàn diện hành vi của hộ qua 6 khâu tác nghiệp chính: xử lý đáy ao trước vụ thả, kiểm soát tỷ lệ phối trộn giống nuôi, điều tiết mật độ con nuôi, lựa chọn định lượng thức ăn, công nghệ lọc nước cấp - thoát và mức độ liên kết chuỗi giá trị đầu vào - đầu ra.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Phòng Thống kê huyện Thái Thụy và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Thái Bình với các chuỗi số liệu về khí hậu, diện tích canh tác và sản lượng giai đoạn 2013 - 2016. Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp thông qua bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu 90 hộ nuôi trồng thủy sản tại 3 xã ven biển đại diện: Thái Đô (đại diện tập quán truyền thống bãi triều), Thái Thượng (đại diện mô hình kết hợp) và Thụy Hải (đại diện mô hình công nghệ cao). Mỗi xã chọn ngẫu nhiên 30 hộ, phân tầng theo 3 quy mô diện tích mặt nước: quy mô lớn (>1,6 ha), quy mô trung bình (1,1 - 1,5 ha) và quy mô nhỏ (<1 ha).

Phương pháp phân tích số liệu kết hợp thống kê mô tả, thống kê so sánh và đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA). Nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo địa phương cùng 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung với cán bộ khuyến nông và đại diện hội đoàn thể. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp PRA giúp phản ánh chân thực các động cơ kinh tế và rào cản kỹ thuật của từng nhóm hộ, đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ 2.429 ha diện tích mặt nước mặn lợ của địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế cho thấy khâu xử lý ao nuôi trước vụ thả có sự phân hóa rõ rệt theo quy mô canh tác. Trong khâu cải tạo đáy, 100% các hộ quy mô lớn áp dụng liều lượng vôi củ CaO 1,5 tấn/ha kết hợp phơi ải đáy ao từ 20 đến 30 ngày và sử dụng Chlorine khử trùng với liều 25 - 30 kg/1.000 m3 nước. Ngược lại, ở nhóm hộ quy mô nhỏ dưới 1 ha, có khoảng 35% hộ rút ngắn thời gian phơi ao dưới 10 ngày do áp lực xoay vòng vụ nuôi, làm tăng nguy cơ lưu tồn mầm bệnh.

Vấn đề kiểm soát thức ăn và mật độ thả nuôi đang là nguồn phát sinh ô nhiễm lớn nhất. Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh dao động từ 120 - 150 con/m2, thậm chí một số hộ nâng lên 400 - 500 con/m2. Trong khẩu phần ăn hàng ngày, chỉ khoảng 15 - 20% lượng thức ăn được chuyển hóa thành sinh khối động vật, 15% thất thoát trực tiếp ra môi trường nước và 40 - 45% tiêu hao cho quá trình bài tiết và lột vỏ. Lượng mùn bã hữu cơ này tích tụ tại đáy ao tạo thành các khí độc nguy hiểm như H2S, NH3 và NO2.

Nhận thức và hành vi liên kết xử lý xả thải còn nhiều hạn chế. Chỉ có khoảng 22% hộ điều tra sở hữu ao lắng đạt chuẩn để xử lý nước trước khi thải ra ngoài tự nhiên. Đa số các hộ nuôi nước lợ tại vùng đầm ngoài đê (1.039 ha) và trong đê (390 ha) đều sử dụng chung hệ thống kênh cấp thoát nước, dẫn đến tình trạng ô nhiễm chéo cục bộ khi xảy ra dịch bệnh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng ô nhiễm bắt nguồn từ thói quen sản xuất tự phát và hạn chế về vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật. Phần lớn các hộ dân có tâm lý tối đa hóa lợi nhuận trước mắt bằng cách tăng mật độ nuôi mà không đầu tư tương xứng cho hệ thống quạt nước và ao sinh học xử lý bùn thải. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu thực tế tại vùng nuôi tôm Hoằng Phụ (Thanh Hóa) và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, nơi có hơn 1 triệu tấn chất thải hữu cơ từ thức ăn thủy sản bị xả thẳng ra hệ thống sông rạch tự nhiên mỗi năm.

Về mặt học thuật, các dữ liệu khảo sát có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng tương quan chéo giữa trình độ học vấn của chủ hộ với tỷ lệ ứng dụng chế phẩm vi sinh, cùng biểu đồ cột thể hiện mức độ tổn thất kinh tế theo từng nhóm mật độ thả nuôi. Những chỉ số này khẳng định rằng việc nâng cao nhận thức kỹ thuật kết hợp với kiểm soát môi trường nước đầu vào là biến số then chốt để duy trì tỷ suất lợi nhuận ổn định cho ngành kinh tế thủy sản ven biển.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường và nâng cao giá trị sản xuất thủy sản tại huyện Thái Thụy, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được thực thi đồng bộ:

  • Đổi mới công tác đào tạo và chuyển giao kỹ thuật an toàn sinh học: Trạm Khuyến nông huyện phối hợp cùng Hội Nông dân tổ chức 15 lớp tập huấn chuyên đề hàng năm cho ít nhất 1.200 lượt hộ nuôi, hướng dẫn chuẩn hóa quy trình bón lót vôi Dolomite 100 kg/ha, vôi CaCO3 50 kg/ha và kỹ thuật cấy vi sinh định kỳ 7 ngày/lần. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ hộ sử dụng chế phẩm sinh học lên 75%.
  • Nâng cấp và phân tách hạ tầng thủy lợi cấp - thoát nước: Ủy ban nhân dân huyện Thái Thụy ưu tiên phân bổ ngân sách giai đoạn 2018 - 2022 để kiên cố hóa hệ thống kênh cấp nước và kênh xả thải riêng biệt cho 1.039 ha đầm nuôi ngoài đê, đồng thời xóa bỏ tình trạng 100% dòng thải chưa lắng lọc xả trực tiếp ra cửa sông Diêm Hộ và Trà Lý.
  • Nhân rộng mô hình nuôi xen ghép sinh thái đa tầng: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vận động người dân chuyển đổi 300 ha diện tích nuôi đơn loài kém hiệu quả sang mô hình kết hợp tôm sú, cá đối mục, cá dìa, ốc hương và rong câu nhằm tận dụng cơ chế ăn lọc, giúp hấp thụ 40 - 50% lượng chất hữu cơ dư thừa và cắt giảm 30% chi phí xử lý hóa chất.
  • Tăng cường kiểm soát quan trắc và chế tài pháp lý môi trường: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện thiết lập 5 điểm quan trắc tự động tại các cửa sông ven biển để theo dõi liên tục các chỉ số oxy hòa tan, pH và độ mặn; kiên quyết xử phạt hành chính 100% các trường hợp tự ý xả nước ao nhiễm dịch chưa qua tiêu độc bằng Chlorine ra môi trường công cộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý Nhà nước ngành Nông nghiệp và Môi trường: Cung cấp dữ liệu thực chứng và cơ sở khoa học để xây dựng quy hoạch tổng thể vùng nuôi thủy sản 2.429 ha, ban hành các quy chế quản lý xả thải và thiết kế chính sách hỗ trợ vốn đầu tư ao lắng sinh học cấp huyện.
  • Chủ hộ nuôi trồng thủy sản và chủ trang trại ven biển: Cung cấp hướng dẫn kỹ thuật chuẩn xác về liều lượng cải tạo đáy ao bằng vôi CaO 1,5 tấn/ha, cách tính toán mật độ thả giống tối ưu và phương pháp nuôi ghép sinh thái giúp giảm thiểu rủi ro dịch bệnh và tiết kiệm chi phí thức ăn.
  • Kỹ sư khuyến ngư và cán bộ kỹ thuật thủy sản: Sử dụng các số liệu thực địa về đặc tính bão lũ, chế độ nhiệt ẩm và chu trình chuyển hóa khí độc trong ao để biên soạn tài liệu hướng dẫn kỹ thuật mùa vụ sát với điều kiện tự nhiên vùng ven biển Bắc Bộ.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu kinh tế nông nghiệp: Tham khảo phương pháp luận phân tích ứng xử kinh tế của hộ nông dân, cách thức thiết kế bảng hỏi và quy trình ứng dụng công cụ PRA trong việc phân tích các vấn đề ô nhiễm môi trường nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường tại các vùng nuôi thủy sản ven biển Thái Thụy là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do thức ăn công nghiệp dư thừa và phân thải tích tụ dưới đáy ao chiếm tới 70% tổng lượng chất thải phát sinh. Tình trạng thả nuôi mật độ quá dày lên đến 400 con/m2 kết hợp với việc 78% hộ không có ao lắng xử lý khiến các khí độc H2S, NH3 bùng phát làm lây lan dịch bệnh trên 70% diện tích đầm nuôi.

Quy mô diện tích ao nuôi tác động như thế nào đến hành vi xử lý môi trường của nông hộ?

Các hộ có quy mô lớn trên 1,6 ha thường có tiềm lực tài chính để đầu tư giàn quạt khí, ao chứa lắng và sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ hàng tuần. Trong khi đó, các hộ quy mô nhỏ dưới 1 ha thường chịu sức ép thu hồi vốn nhanh nên có xu hướng thả dày, rút ngắn thời gian phơi ao và xả thải trực tiếp ra kênh chung.

Mô hình nuôi xen ghép nào mang lại hiệu quả cải thiện môi trường tốt nhất hiện nay?

Mô hình kết hợp tôm sú, tôm thẻ với cá dìa, cá rô phi, hải sâm và rong câu được chứng minh đạt hiệu quả sinh thái vượt trội. Rong câu và các loài cá ăn lọc có khả năng hấp thụ 40 - 50% hàm lượng nitơ, phốt pho dư thừa trong nước, giúp làm sạch đáy ao tự nhiên và giảm tỷ lệ chết do bệnh mềm vỏ ở tôm.

Điều kiện thời tiết khí hậu huyện Thái Thụy ảnh hưởng thế nào đến nuôi trồng thủy sản?

Với lượng mưa trung bình năm 1.348,85 mm tập trung 84,5% vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, cùng tần suất 0,16 cơn bão trực tiếp mỗi năm, các đầm nuôi thường xuyên bị ngọt hóa đột ngột và suy giảm độ pH. Giai đoạn rét mùa đông nhiệt độ xuống dưới 16,97°C cũng làm chậm quá trình sinh trưởng của các đối tượng nuôi mặn lợ.

Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp trong luận văn được thực hiện như thế nào?

Tác giả thực hiện khảo sát chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng trên 90 hộ nuôi tại 3 xã đại diện Thái Đô, Thái Thượng, Thụy Hải (30 hộ/xã) chia theo 3 nhóm quy mô diện tích. Số liệu điều tra định lượng bằng bảng hỏi được kiểm tra chéo với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia PRA và phỏng vấn sâu cán bộ địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về hành vi ứng xử của hộ nông dân đối với vấn đề ô nhiễm môi trường nuôi trồng thủy sản ven biển.
  • Đánh giá chân thực thực trạng môi trường tại huyện Thái Thụy với 70% diện tích ao nuôi từng bị dịch bệnh và phân tích rõ cơ chế ô nhiễm phát sinh từ 15% lượng thức ăn thất thoát cùng mật độ nuôi vượt ngưỡng.
  • Làm rõ mối quan hệ tương quan giữa hành vi bảo vệ môi trường với trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô diện tích đất canh tác và năng lực giám sát của chính quyền cơ sở.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về kỹ thuật vi sinh, phân tách kênh thủy lợi, phát triển mô hình nuôi ghép đa tầng và hoàn thiện mạng lưới quan trắc tự động giai đoạn 2018 - 2022.
  • Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý và người nuôi tôm; các địa phương ven biển cần nhanh chóng áp dụng các khuyến nghị này để chuyển đổi sang mô hình kinh tế thủy sản sinh thái bền vững.