Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu perovskite có hệ số nhiệt điện trở dương

Luận án tiến sĩ nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu perovskite với hệ số nhiệt điện trở dương, mở ra tiềm năng trong công nghệ năng lượng.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Vật lí chất rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

167
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

1. CHƯƠNG 1: CẤU TRÚC TINH THỂ VÀ TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU PEROVSKITE

1.1. Cấu trúc tinh thể của vật liệu perovskite

1.2. Năng lượng liên kết trong mạng vật liệu perovskite

1.3. Các biến dạng của vật liệu perovskite

1.4. Sự chuyển pha trong tinh thể perovskite sắt điện

1.5. Một số tính chất của vật liệu perovskite

1.6. Sự phân cực trong tinh thể perovskite sắt điện

1.7. Tính chất điện môi

1.8. Tính chất điện- từ của vật liệu perovskite

1.9. Các mô hình để giải thích tính dẫn điện của vật liệu perovskite

1.10. Ứng dụng lý thuyết phiếm hàm mật độ điện tử để tính toán một số tính chất điện tử của hệ perovskite

1.11. Hiệu ứng hệ số nhiệt- điện trở dương (PTCR) ở vật liệu perovskite sắt điện

1.12. Vật liệu multiferroic

1.13. Những ứng dụng phổ biến của vật liệu có hiệu ứng PTCR

1.14. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CHẾ TẠO VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Một số phương pháp chế tạo vật liệu

2.2. Tổng hợp hệ mẫu Ba1-x-ySrxYyTiO3

2.3. Tổng hợp hệ mẫu (BaTiO3)1-x(LaNiO3)x

2.4. Chế tạo vật liệu nano BaTiO3 bằng phương pháp thuỷ nhiệt

2.5. Chế tạo vật liệu nano LaNiO3 bằng phương pháp đốt gel

2.6. Chế tạo hệ mẫu (BaTiO3)1-x(LaNiO3)x

2.7. Các phương pháp, thiết bị khảo sát cấu trúc và tính chất của vật liệu

2.7.1. Kính hiển vi điện tử quét (SEM)

2.7.2. Hệ đo điện trở suất phụ thuộc vào nhiệt độ

2.7.3. Nhiễu xạ kế tia X (XRD)

2.7.4. Phương pháp đo phổ tán xạ Raman

2.7.5. Hệ khảo sát hằng số điện môi phụ thuộc vào nhiệt độ và tần số

2.7.6. Hệ đo đường đặc trưng V-A

2.7.7. Hệ đo hiệu ứng Hall

2.7.8. Hệ đo từ kế mẫu rung

2.7.9. Hệ đo tính chất sắt điện của vật liệu

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CHẾ TẠO- NGHIÊN CỨU HỆ VẬT LIỆU Ba1-x-ySrxYyTiO3

3.1. Kết quả đo phổ nhiễu xạ tia X

3.2. Kết quả khảo sát cấu trúc bề mặt

3.3. Sự phụ thuộc của hằng số điện môi vào nhiệt độ

3.4. Sự phụ thuộc của điện trở suất vào nhiệt độ

3.5. Sự phụ thuộc của hệ số nhiệt điện trở của các mẫu pha tạp vào nhiệt độ

3.6. Đặc trưng Vôn- Ampe

3.7. Khảo sát hiệu ứng Hall

3.8. Một vài khả năng ứng dụng của vật liệu có hệ số nhiệt- điện trở dương

3.9. Nghiên cứu khả năng chế tạo cảm biến khí CO từ vật liệu Ba1-x-ySrxYyTiO3

3.10. Nghiên cứu khả năng chế tạo bộ giải từ cho tivi

3.11. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: CHẾ TẠO- NGHIÊN CỨU HỆ VẬT LIỆU TỔ HỢP (BaTiO3)1-x(LaNiO3)x

4.1. Tổng hợp vật liệu nano BaTiO3 bằng phương pháp thuỷ nhiệt

4.2. Ảnh hưởng của thời gian phản ứng đến sự hình thành sản phẩm BaTiO3

4.3. Ảnh hưởng của nhiệt độ phản ứng đến sự hình thành sản phẩm BaTiO3

4.4. Giải thích sự hình thành của BaTiO3 trong quá trình tổng hợp bằng phương pháp thuỷ nhiệt

4.5. Tổng hợp vật liệu nano LaNiO3 bằng phương pháp đốt gel

4.6. Khảo sát sự phụ thuộc của sản phẩm vào nhiệt độ nung

4.7. Sự phụ thuộc của cấu trúc sản phẩm vào độ pH

4.8. Sự phụ thuộc của sản phẩm vào nhiệt độ tạo gel

4.9. Khảo sát cấu trúc bề mặt sản phẩm

4.10. Kết quả tổng hợp hệ mẫu tổ hợp (BaTiO3)1-x(LaNiO3)x

4.11. Ảnh hưởng của thời gian nung đến sự hình thành sản phẩm

4.12. Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự hình thành sản phẩm

4.13. Ảnh hưởng của thành phần x đến sự hình thành sản phẩm

4.14. Khảo sát cấu trúc bề mặt mẫu tổ hợp

4.15. Tính chất điện- từ của các mẫu

4.16. Khảo sát sự phụ thuộc của hằng số điện môi hệ mẫu theo tần số

4.17. Sự phụ thuộc của điện trở suất của mẫu BTLN vào nhiệt độ

4.18. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về vật liệu perovskite

Vật liệu perovskite đã trở thành một trong những chủ đề nghiên cứu quan trọng trong lĩnh vực vật liệu mới. Với cấu trúc tinh thể đặc biệt, vật liệu này có nhiều tính chất điện, từ và quang học nổi bật. Cấu trúc perovskite thường được mô tả bằng công thức ABO3, trong đó A và B là các ion kim loại khác nhau. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng vật liệu perovskite có khả năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như điện tử, quang học và cảm biến. Đặc biệt, hiệu ứng nhiệt điện trở dương (PTCR) đã được phát hiện trong các vật liệu này, mở ra nhiều cơ hội ứng dụng trong công nghiệp điện tử.

1.1. Tính chất của vật liệu perovskite

Vật liệu perovskite có nhiều tính chất đặc biệt như tính dẫn điện, tính sắt điện và tính từ. Những tính chất này phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể và thành phần hóa học của vật liệu. Nghiên cứu cho thấy rằng việc pha tạp các nguyên tố như đất hiếm có thể làm thay đổi đáng kể các tính chất này. Hiệu ứng nhiệt điện trở dương là một trong những tính chất quan trọng, cho phép vật liệu này được sử dụng trong các ứng dụng như cảm biến và linh kiện điện tử. Các mô hình lý thuyết như lý thuyết phiếm hàm mật độ điện tử đã được áp dụng để tính toán và dự đoán các tính chất điện tử của hệ perovskite.

II. Chế tạo vật liệu perovskite

Quá trình chế tạo vật liệu perovskite thường bao gồm nhiều phương pháp khác nhau như phương pháp gốm, phương pháp thủy nhiệt và phương pháp đốt gel. Mỗi phương pháp có những ưu điểm và nhược điểm riêng, ảnh hưởng đến cấu trúc và tính chất của vật liệu cuối cùng. Việc lựa chọn phương pháp chế tạo phù hợp là rất quan trọng để đạt được các tính chất mong muốn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh các thông số như nhiệt độ, thời gian nung và tỷ lệ thành phần có thể tạo ra các mẫu vật liệu với tính chất tối ưu.

2.1. Phương pháp chế tạo vật liệu nano

Chế tạo vật liệu nano perovskite là một trong những xu hướng nghiên cứu hiện nay. Các phương pháp như thủy nhiệt và đốt gel cho phép tạo ra các hạt nano với kích thước nhỏ và tính chất đồng nhất. Nghiên cứu cho thấy rằng kích thước hạt có ảnh hưởng lớn đến tính chất điện từ của vật liệu. Việc kiểm soát kích thước và hình dạng của hạt nano có thể dẫn đến những cải tiến đáng kể trong hiệu suất của các linh kiện điện tử. Các ứng dụng tiềm năng của vật liệu nano perovskite bao gồm cảm biến, linh kiện quang điện và các thiết bị điện tử tiên tiến.

III. Ứng dụng của vật liệu perovskite

Vật liệu perovskite có nhiều ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau nhờ vào tính chất điện từ đặc biệt của chúng. Hiệu ứng nhiệt điện trở dương (PTCR) đã được ứng dụng trong các linh kiện điện tử như cảm biến và bộ điều khiển nhiệt độ. Ngoài ra, vật liệu này còn được sử dụng trong các thiết bị quang điện và các ứng dụng trong công nghệ nano. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc kết hợp vật liệu perovskite với các vật liệu khác có thể tạo ra các hệ vật liệu đa chức năng, mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu và phát triển công nghệ.

3.1. Ứng dụng trong cảm biến

Vật liệu perovskite có khả năng ứng dụng cao trong lĩnh vực cảm biến nhờ vào tính nhạy cảm với các yếu tố môi trường. Các cảm biến khí CO được chế tạo từ vật liệu này cho thấy độ nhạy cao và khả năng hoạt động ổn định. Hiệu ứng nhiệt điện trở dương giúp cải thiện độ nhạy và độ chính xác của cảm biến. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa cấu trúc và thành phần của vật liệu có thể dẫn đến những cải tiến đáng kể trong hiệu suất của cảm biến, mở ra hướng đi mới cho các ứng dụng trong công nghiệp và môi trường.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CẤU TRÚC TINH THỂ VÀ TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU PEROVSKITE 1. Cấu trúc tinh thể của vật liệu perovskite 1. Cấu trúc tinh thể của vật liệu perovskite Vật liệu perovskite là tên gọi chung của các chất có cấu trúc tinh thể giống với cấu trúc của vật liệu canxi titanat (CaTiO3). Phần lớn các loại gốm sắt điện, áp điện được sử dụng rộng rãi hiện nay như BaTiO3, PbTiO3, PbZr1-xTixO3,.

đều có cấu trúc perovskite [1]. Công thức phân tử chung của các hợp chất perovskite là ABO3, trong đó A là các cation hoá trị 1, 2 hoặc 3 như Na1+, K1+, Sr2+, Ba2+., B là các cation hóa trị 5, 4, hoặc 3 tương ứng như Nb5+, Ti4+, Mn4+. có bán kính ion khác A. Ở vị trí của O có thể là một nguyên tố khác như F1-, Cl1-, nhưng phổ biến nhất vẫn là oxy.

Thông thường, bán kính ion A lớn hơn so với B.1 biểu diễn mô hình cấu trúc của perovskite BaTiO3 với ô mạng lập phương, tương ứng với nhóm không gian Pm-3m (221). Hầu hết các chất perovskite sắt điện có cấu trúc perovskite đã được tìm thấy đều có công thức dạng A2+B4+O32- hoặc A1+B5+O32- [1]. Cấu trúc perovskite [40]. 5 z Một số perovskite với công thức A3+B3+O2-3 không có tính chất sắt điện.

Cấu trúc của perovskite thường là biến thể từ cấu trúc lập phương với các cation A nằm ở các đỉnh hình lập phương và các cation B nằm ở tâm. Tuy nhiên, cũng có thể mô tả chúng gồm những hình lập phương xếp chặt của các ion A và O, ion B nằm ở tâm bát diện. Cấu trúc tinh thể có thể thay đổi từ lập phương sang các dạng khác như trực giao hay trực thoi khi các ion A hay B bị thay thế bởi các ion khác. Đặc trưng quan trọng trong cấu trúc của perovskite là sự tồn tại của bát diện BO6 với sáu ion O2- nằm ở đỉnh tạo thành khối bát diện và một ion B4+ nằm tại tâm.

Khối bát diện này đóng một vai trò rất quan trọng tới tính chất điện của vật liệu perovskite. Nếu coi các ion là những quả cầu rắn (hình 1.2), khi đó thông số mạng sẽ là [82]: a  2 (rA  rO )  2(rB  rO ) (1.1) Trong đó rA, rB, rO tương ứng là bán kính của các ion A2+, B4+, và O2-. Để đặc trưng cho độ bền vững của cấu trúc perovskite, V. Goldschmidt đã đưa ra một tham số rất quan trọng đó là thừa số bền vững hay còn được gọi là “thừa số dung hạn Goldschmidt” [82] được xác định theo công thức: rA  rO t (1.2) 2 rB  rO  Thừa số này liên quan mật thiết đến sự hình thành của độ phân cực tự phát.

Nếu t =1 ta có cấu trúc perovskite xếp chặt lý tưởng. Nếu t >1: Khoảng cách OB lớn hơn tổng bán kính của các ion O2- và B4+ nên ion B4+ có thể di chuyển dễ dàng ở bên trong khối bát diện của mình. Nếu t <1: Khoảng cách OA lớn hơn tổng bán kính của các ion O2- và A2+ nên ion A2+ có thể dịch chuyển dễ dàng hơn trong mạng perovskite. Cấu trúc tinh thể perovskite (a) và mô hình cho thông số mạng (b) [82].

6 z Thông số mạng của cấu trúc được quyết định bởi kích thước của ion A và B.3 biểu diễn mặt (110) của cấu trúc perovskite. Khi bán kính các ion lệch khỏi các giá trị lý tưởng (thừa số t ≠ 1) thì cấu trúc perovskite bị biến dạng và có đối xứng thấp hơn. Nếu t  1 có thể xảy ra trường hợp hơi méo kiểu thoi, trong đó chứa dạng quay tập thể của các bát diện BO6 quanh trục [111]. Khi sự không thích ứng về bán kính ion lớn hơn thì sẽ xảy ra sự uốn cong của mạng các bát diện BO6 quanh trục [110] và có thể dẫn tới cấu trúc trực thoi (orthorhombic) loại O.

Các tác giả đã đưa ra nhiều khoảng giá trị khác nhau của t. Khi mạng có cấu trúc trực thoi, Goldschmidt cho rằng, t nằm trong khoảng 0,8 ≤ t ≤ 1,0; theo Zachariasen, t nằm trong khoảng 0,85 ≤ t ≤ 1,05; còn theo các tác giả khác: 0,89 ≤ t ≤ 1,02 [6]. Việc đánh giá thừa số bền vững của cùng một chất cũng có sự sai khác nhất định do các tác giả sử dụng các giá trị bán kính ion khác nhau. Thí dụ theo Goldschmidt, bán kính ion oxy (rO) xấp xỉ 1,32 Å, theo Belov và Boki rO ≈ 1,36 Å.

Theo Shannon rO ≈ 1,40 Å. Cùng một loại ion nhưng nếu hoá trị khác nhau hay trạng thái spin khác nhau cũng dẫn đến bán kính ion khác nhau [15]. Các giá trị của thừa số bền vững t đối với một số hợp chất kiểu perovskite được cho ở bảng 1. Gần đây, để đánh giá sự ổn định của liên kết một cách tốt hơn, các nhà d AO khoa học đã sử dụng công thức sau cho thừa số dung hạn [6]: t '  (1.3) 2d B O 7 z Với dA-O, dB-O lần lượt là khoảng cách từ ion A2+ và ion B4+ đến ion O2-.

Với cấu trúc perovskite lý tưởng thì giá trị của t’= 1. Nghiên cứu tính chất đối xứng của họ vật liệu perovskite, người ta thấy chỉ có một số rất ít perovskite có cấu trúc lập phương lí tưởng ở nhiệt độ phòng. Các thông số mạng, bán kính ion và thừa số bền vững của một số perovskite [115]. TT Hợp chất a(Å) rA(Å) rB(Å) rO(Å) t 1 CsIO3 4,674 1,88 0,95 1,35 0,993 2 BaFeO3 3,994 1,61 0,585 1,35 1,082 3 SrTiO3 3,905 1,44 0,605 1,35 1,009 4 SrMoO3 3,975 1,44 0,650 1,35 0,986 5 SrFeO3 3,850 1,44 0,585 1,35 1,020 6 BaTiO3 4,012 1,61 0,605 1,35 1,071 7 CaTiO3 3,840 1,34 0,605 1,35 0,973 1.

Năng lượng liên kết trong mạng vật liệu perovskite Năng lượng liên kết các nguyên tử với nhau để tạo thành vật rắn được gọi là năng lượng liên kết. Đây là đại lượng đặc trưng cho sự bền vững của vật liệu. Về mặt định lượng, năng lượng liên kết là hiệu của năng lượng vật rắn và năng lượng của các nguyên tử hay phân tử tạo nên vật rắn ở trạng thái tự do. Vật liệu perovskite là tinh thể ion nên giữa các ion trong tinh thể luôn tồn tại song song hai loại lực là lực hút hoặc đẩy Coulomb và lực đẩy ở khoảng cách ngắn.

Nguyên nhân sâu xa của lực đẩy này chính là nguyên lý Pauli nên lực đẩy của các ion được gọi là lực đẩy Pauli. Trong hệ CGS, năng lượng tĩnh điện của 2 ion i và j nằm cách nhau khoảng q2 1 q2 rij được xác định bằng biểu thức: Wi    (1.4) rij pij R r Với R là khoảng cách giữa hai lân cận gần nhất và pij  ij R Kết quả thực nghiệm cho thấy thế năng đẩy giữa hai ion cách nhau khoảng R được  R xác định bằng biểu thức sau: Wi   exp   (1.5)   8 z Với ,  là hai hằng số. Do lực đẩy của các ion chỉ đáng kể ở khoảng cách gần, nên thế năng đẩy chỉ cần tính đối với các ion là lân cận gần nhất, còn đối với các ion ở xa thì có thể bỏ qua. Năng lượng liên kết giữa hai ion trong tinh thể perovskite có dạng (ở hệ CGS):   R  q2  exp    (lân cận gần nhất)    R Wij   2 (1.7) W  NWi  N  z exp        R  Ở đây z là số các lân cận gần nhất,  là hằng số Madelung phụ thuộc vào cấu trúc của tinh thể.7) trên thực ra là biểu thức gần đúng do đã bỏ qua sự tương tác giữa các điện tử và các hạt nhân cũng như tương tác giữa các hạt nhân với nhau.

Sự phụ thuộc của năng lượng tổng cộng của perovskite BaTiO3 có cấu trúc lập phương vào thể tích ô cơ sở [2] Hiện nay, dựa trên phương pháp phiếm hàm mật độ (DFT), các nhà khoa học đã 9 z tính toán được năng lượng tổng cộng, năng lượng liên kết và tính chất điện tử của vật liệu perovskite với độ chính xác cao nhờ đề cập đầy đủ hơn đến các loại tương tác khác nhau giữa các nguyên tử.4 mô tả sự phụ thuộc của năng lượng tổng cộng của perovskite BaTiO3 có cấu trúc lập phương vào thể tích ô cơ sở, tính theo phương pháp DFT sử dụng chương trình DACAPO [2]. Dựa vào đồ thị, ta thấy khi thể tích ô cơ sở bằng 62,96 Å3 (ứng với hằng số mạng a = b = c = 3,98 Å) thì năng lượng tổng cộng đạt cực tiểu và từ đó ta có thể suy ra năng lượng liên kết. Các biến dạng của vật liệu perovskite Khi nghiên cứu cấu trúc tinh thể của các perovskite, người ta thấy rằng có rất ít cấu trúc dạng lập phương lí tưởng ở nhiệt độ phòng, phần lớn có cấu trúc lập phương biến dạng. Các biến dạng này có nguyên nhân khác nhau và được chia thành 2 loại: Loại 1: Xuất hiện do kích thước ion không tương ứng với kích thước các chỗ trống mà chúng chiếm (lập phương- bát diện hoặc bát diện).

Trong trường hợp đó, để đảm bảo được độ bền vững của cấu trúc ion, khoảng cách giữa các nguyên tử phải giảm đến những giá trị nhỏ nhất và các lập phương- bát diện hoặc bát diện tạo nên bởi các anion phải biến dạng sao cho tạo ra số cation- anion "vacancy" là ít nhất. Đó là loại biến dạng do "sắp xếp". Trong trường hợp biến dạng do "sắp xếp", nếu các cation A không quá nhỏ và hoá trị của các ion B hoặc đồng hoá trị của các liên kết B-O là khá lớn thì có thể xem như các bát diện hầu như không biến dạng mà chỉ xoay quanh các trục đối xứng của ô cơ sở lập phương lý tưởng. Trong tất cả các dịch chuyển của ion, đáng quan tâm nhất là các dịch chuyển tạo ra các mômen lưỡng cực của các đa diện cấu trúc.

Các biến dạng đó có thể xảy ra dọc theo các trục đối xứng bậc bốn, bậc hai hay bậc ba của các ô cơ sở. Ô mạng cơ sở tam giác (trigonal) là kết quả của ô lập phương kéo dài hoặc co lại dọc theo trục bậc ba. Các hệ perovskite ba hoặc bốn thành phần có thể được mô tả bằng công thức chung sau: (A'1-xA"x)BO3; A(B'1-yB"y)O3 và (A'1-xA"x)(B'1-yB"y)O3 với 0 ≤ x≤ 1 và 0 ≤ y ≤ 1. 10 z Đối với các hệ này, đối xứng của các oxy bao quanh cation bị phá vỡ và khi có sự sắp xếp trật tự siêu cấu trúc của các ion B', B" hoặc A', A" thì các O2- rời khỏi vị trí ban đầu (ra khỏi mặt phẳng của các ion A hoặc B).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng vật liệu perovskite có hệ số nhiệt điện trở dương" của tác giả Lương Văn Việt, dưới sự hướng dẫn của GS. Bạch Thành Công, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2013. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển vật liệu perovskite, một loại vật liệu có tiềm năng lớn trong lĩnh vực vật lý chất rắn, đặc biệt là trong ứng dụng năng lượng và điện tử. Các kết quả nghiên cứu không chỉ mở ra hướng đi mới cho việc chế tạo vật liệu hiệu suất cao mà còn cung cấp những hiểu biết sâu sắc về tính chất nhiệt điện của chúng, từ đó có thể ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghệ hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vật liệu và ứng dụng trong lĩnh vực vật lý chất rắn, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như "Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman", nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano có ứng dụng trong nhận diện phân tử hữu cơ, hay "Luận án tiến sĩ: Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride", nghiên cứu về tính chất xúc tác quang của các vật liệu composite, có thể liên quan đến ứng dụng của vật liệu perovskite trong công nghệ năng lượng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu hiện tại trong lĩnh vực vật liệu và ứng dụng của chúng.