CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình ung thư TTL trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình ung thư TTL trên thế giới Ung thư TTL (UTTTL) là vấn đề sức khỏe toàn cầu vì tần suất mới mắc và tần suất tử vong cao, chất lượng sống của bệnh nhân (BN) bị giảm sút và gánh nặng chi phí điều trị chăm sóc nhiều. Ung thư TTL là ung thư có tần suất mới mắc đứng hàng thứ 2 và tần suất tử vong đứng hàng thứ 5 tính riêng cho nam giới trên toàn thế giới [1].
Năm 2013, trên thế giới có trên 3 triệu bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt còn sống, trong khi tại Hoa Kỳ có 238. 590 bệnh nhân và 29.720 bệnh nhân đã tử vong. Ung thư tuyến tiền liệt là ung thư hay gặp nhất ở nam giới tại nước này với tỷ lệ mắc bệnh là 152 trên 100. Tại châu Âu, ung thư TTL là một gánh nặng cho nền kinh tế với chi phí ước tính hàng năm lên đến 8,43 tỷ Euro, đứng hàng thứ 4 trong số các loại ung thư (sau ung thư phổi, vú và đại trực tràng) [16], [17].
Đây là bệnh lý ác tính thường gặp nhất ở nam giới lớn tuổi (>70 tuổi). Ung thư TTL có tần suất mới mắc và tử vong thay đổi tùy theo chủng tộc và khu vực trên thế giới. Tần suất mới mắc hiệu chỉnh theo tuổi tính trên 100000 nam giới cao nhất ở các nước có thu nhập cao, bao gồm Bắc Mỹ (85,6), Caribe (71,1), Australia/New Zealand (104,2), Tây Âu (93,1), và Scandinavia (73,1) và thấp nhất ở châu Á (7,2) và Bắc Phi (8,1). Tần suất tử vong hiệu chỉnh theo tuổi tính trên 100000 nam giới cao nhất ở Caribe (26,3), các nước châu Phi cận Sahara (18,3- 19,3) và Nam Mỹ (16,2); thấp nhất ở châu Á (3,2) [1].
Nhìn chung, khu vực châu Á có tần suất mới mắc và tần suất tử vong do ung thư TTL thấp so với các khu vực khác trên thế giới. Tuy nhiên tần suất mới mắc đang có xu hướng ngày càng tăng. Ngay cả trong các nước châu luan an 4 Á, tần suất mới mắc và tần suất tử vong cũng rất thay đổi. Tần suất mới mắc cao nhất ở các nước có nền kinh tế phát triển và các nước Tây Á như Israel, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc,… và thấp hơn ở các nước trong khu vực Đông Nam Á có nền kinh tế đang phát triển [1].
Tuy nhiên, tỷ số giữa tần suất tử vong và tần suất mới mắc hàng năm do ung thư TTL tại các nước này, trong đó có Việt Nam còn cao (59,6%) cho thấy vấn đề phát hiện và điều trị ung thư TTL chưa thực sự hiệu quả [1]. Tình hình UTTTL tại ViệtNam Tại Việt Nam, ung thư TTL có tần suất mới mắc và tần suất tử vong hiệu chỉnh theo tuổi lần lượt là 3,4 và 2,5 tính trên 100000 dân. Bệnh thường gặp đứng hàng thứ 10 trong các ung thư ở cả 2 giới với 1275 TH mới mắc và 872 TH tử vong ước tính hàng năm trên cả nước [18]. Như đã nói ở trên, tỷ số giữa tần suất tử vong và tần suất mới mắc do ung thư TTL tại Việt Nam còn cao (73,5%) so với các nước trong khu vực Đông Nam Á (59,6%), bình quân thế giới (27,6%) và các nước phát triển (18,7%) [16].
Những số liệu trên cho thấy vấn đề phát hiện và điều trị ung thư TTL tại Việt Nam chưa thực sự hiệu quả so với các nước trong khu vực và thế giới. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hưng năm 2005 trên 633 bệnh nhân đã được phẫu thuật TTL. Kết quả mô bệnh học cho thấy tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt được phát hiện bằng phương pháp sinh thiết là 7,9%. Trong đó chủ yếu gặp là dạng ung thư biểu mô tuyến biệt hóa cao (95,2%) [19].
Nghiên cứu của Đỗ Khánh Hỷ (2003) kết luận giá trị PSA trên lâm sàng không cho phép chẩn đoán xác định ung thư tuyến tiền liệt đặc biệt với PSA có giá trị trong vùng xám (4 - 10ng/ml). Ngoài ra nghiên cứu này cũng chỉ rõ chỉ số PSA không chỉ tăng trong bệnh ung thư tuyến tiền liệt, mà còn tăng trong bệnh u phì đại lành tính tuyến tiền liệt hay các TTL sau can thiệp … [20]. luan an 5 Trong năm 2012, nhóm tác giả bệnh viện Bình Dân báo cáo kết quả tầm soát ung thư TTL tại bệnh viện Bình Dân. Trong số 1098 nam giới ≥ 50 tuổi tham gia nghiên cứu có 222 trường hợp được sinh thiết, có 33 người ung thư được phát hiện, chiếm tỷ lệ 3% [4].
Tóm lại Việt Nam cũng như các nước Châu Á có tần suất mắc mới UTTTL thấp so với các khu vực khác có tần suất mắc trung bình như Nam Âu, Mỹ Latinh và cao như Úc, Bắc Âu, Bắc Mỹ [18]. Giải phẫu tuyến tiền liệt 1. Hình thể ngoài Tuyến tiền liệt có dạng hình tháp tứ giác, đỉnh ở dưới cụt, đáy ở phía trên có các góc tù. - Mặt trước: Gần phẳng hoặc hơi lồi theo chiều ngang, hướng ra trước và hơi lên trên.
- Mặt sau: Nghiêng mạnh xuống dưới và ra sau, lồi, được chia thành 2 thuỳ bởi rãnh giữa, rõ nhất về phía trên. - Hai mặt bên lồi ra hai hướng. - Một đáy ở trên được chia ra bởi một gờ ngang (mép trước tinh) thành 2 sườn. - Đỉnh ở phía dưới hay là mõm tiền liệt tuyến có lỗ ra của niệu đạo xẻ vào mặt sau.
Tuyến tiền liệt ở người lớn đo được khoảng 30 mm chiều cao, phần đáy rộng khoảng 35 mm, dày khoảng 25 mm, cân nặng khoảng 20 gram. Tuyến tiền liệt được bao bọc hoàn toàn bởi một bao tiếp hợp mỏng rất giàu sợi cơ trơn và sợi chun chúng tạo nên ở sâu những khoang cách biệt những nhánh tuyến [21]. luan an 6 Hình 1.1: Hình thể ngoài TTL (nhìn từ mặt sau). Skandalaskis (2004): “ Surgcal Anatomy”, chapter 25.
Liên quan tuyến tiền liệt Tuyến tiền liệt là tuyến cố định chỉ có thể di động hạn chế chiều trước sau bằng cách áp sát nó vào khớp mu và thành bụng bởi lực ép trong trực tràng, phía bên tuyến tiền liệt không thể di động được. Sự cố định này được tạo nên bởi các yếu tố cấu tạo thành hốc tuyến tiền liệt. * Hốc tuyến tiền liệt Hốc tuyến tiền liệt được cấu tạo bởi: - Phía trước: Cân trước tuyến tiền liệt. - Phía sau: Cân Denonvilliers ngăn cách tuyến tiền liệt với trực tràng.
- Phía bên: Cân đáy chậu tạo nên giải cân hai bên bàng quang tiền liệt tuyến, cân này bao phủ cơ nâng hậu môn, tiếp nối trực tiếp với vỏ tuyến tiền liệt ở mặt trước và trước bên. * Liên quan chung Mặt trước Phẳng, dựng đứng, có các thớ cơ của cơ thắt vân niệu đạo dàn mỏng và tỏa ra ở 2/3 dưới của mặt trước tuyến. Giữa xương mu và mặt trước tuyến tiền liệt có đám rối tĩnh mạch Santorini. Mặt sau Nghiêng, được chia làm 2 thùy bởi một rãnh giữa thẳng đứng, có thể sờ thấy qua thăm khám trực tràng.
Mặt sau liên quan tới trực tràng qua cân tiền liệt – phúc mạc (cân Denonvillier). luan an 7 Hai mặt bên Lồi, liên quan với ngách trước của hố ngồi trực tràng. Nền: Được chia làm 2 phần - Phần hướng ra trước: gọi là phần niệu đạo BQ, liên quan chặt chẽ với BQ và có các thớ cơ dọc của BQ tỏa xuống. - Phần sau: là phần sinh dục liên quan với túi tinh.
Đỉnh Hình tròn, mật độ của tuyến chắc đều, ở người già thì cứng hơn, có thể đánh giá được dễ dàng qua thăm trực tràng. Cấu trúc giải phẫu Theo Mc Neal S. Selman (2011) nhu mô TTL được chia làm 5 vùng[22]: - Vùng trước: Cấu trúc xơ cơ không có cấu trúc tuyến. - Vùng trung tâm: Chiếm 25% thể tích tuyến, có ống phóng tinh đi qua, 8% UTTTL có nguồn gốc từ vùng này, đây là vùng dễ xảy ra quá trình viêm.
- Vùng chuyển tiếp: Chiếm 5-10% thể tích tuyến, tạo nên 2 thuỳ bên và những tuyến xung quanh niệu đạo. Đây là vùng phát sinh ra u phì đại lành tính tuyến tiền liệt, cũng sinh ra khoảng 25% ung thư tuyến tiền liệt. - Vùng ngoại vi: Chiếm 70% thể tích tuyến, tạo nên phần sau dưới của tuyến và sinh ra khoảng 67% ung thư biểu mô TTL. - Vùng quanh tuyến niệu đạo.
* Các vùng Phân vùng tuyến tiền liệt được Mc Neal đề xuất lần đầu tiên vào năm 1968. Nó được sử dụng nhiều hơn trong bệnh lý tuyến tiền liệt. luan an 8 Tuyến tiền liệt gồm có 4 vùng riêng biệt Tên Tỷ lệ của tuyến Miêu tả Vùng ngoại vi Chiếm 70% thể Tạo nên phần sau dưới của tuyến tiền Peripheral zone tích tuyến ở liệt và 70-80% ung thư tuyến tiền liệt (PZ) namm giới trẻ sinh ra từ vùng này. Vùng này bao quanh các ống phóng tinh.
Đây là vùng dễ sinh ra quá trình Chiếm khoảng Vùng trung tâm viêm. Khoảng 2,5% - 5% các ca ung 25% thể tích Central zone (CZ) thư tuyến tiền liệt xuất phát từ vùng tuyến này vàcó nhiều khả năng xâm lấn vào túi tinh. Khoảng 10% -20% ung thư tuyến tiền liệt có nguồn gốc ở vùng này. Vùng chuyển tiếp Chiếm 5% thể Vùng chuyển tiếp bao quanh niệu Transition zone tích tuyến ở tuổi đạo và là khu vực phát triển trong (TZ) dậy thì suốt cuộc đời, phát sinh ra bệnh phì đại lành tính tuyến tiền liệt.
Vùng trước Vùng này có cấu trúc xơ cơ không có Anterior fibro- Khoảng 5% cấu trúc tuyến. muscular zone luan an 9 Hình 1.2: Phân vùng tuyến tiền liệt theo Mc Neal 1. Phân bố mạch máu và hệ bạch huyết 1. Động mạch + Động mạch nuôi TTL là các nhánh của động mạch hạ vị: Động mạch BQ sinh dục, động mạch túi tinh và ống dẫn tinh và động mạch BQ-TTL.
+ Động mạch trĩ giữa phân bố máu cho phần đáy BQ, túi tinh và mặt sau tuyến tiền liệt. Tĩnh mạch Tĩnh mạch của TTL cùng với tĩnh mạch mu dương vật, tĩnh mạch sau mu và tĩnh mạch BQ tạo nên đám rối tĩnh mạch Santorini để đổ về tĩnh mạch chậu. Đặc biệt là đám rối tĩnh mạch trước tạo thành những xoang tĩnh mạch mà trong khi phẫu thuật nếu cắt phải những xoang tĩnh mạch này sẽ gây chảy máu nhiều và rất khó cầm máu. Bạch mạch của TTL Các mao bạch mạch làm thành mạng lưới quanh mỗi nang tuyến rồi tập trung lại đổ về những hạch cạnh động mạch chậu trong và động mạch hạ vị.
Ung thư tuyến tiền liệt 1. Những yếu tố nguy cơ * Tuổi Ung thư tuyến tiền liệt rất hiếm ở nam giới tuổi dưới 40, nhưng nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt tăng nhanh sau tuổi 50.