Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật giảm áp hốc mắt bằng nội soi đường mũi điều trị bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp

Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật giảm áp hốc mắt bằng nội soi đường mũi điều trị bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp.

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhãn khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2023

172
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẫu thuật giảm áp hốc mắt

Phẫu thuật giảm áp hốc mắt là một phương pháp điều trị quan trọng cho bệnh hốc mắt liên quan đến tuyến giáp. Phẫu thuật giảm áp hốc mắt nhằm mục đích giảm áp lực trong hốc mắt, bảo vệ chức năng thị lực và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Kỹ thuật này đã được phát triển từ hơn 100 năm qua, với nhiều phương pháp khác nhau được áp dụng. Tuy nhiên, chưa có sự đồng thuận về phương pháp nào là hiệu quả nhất. Phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt, được áp dụng từ những năm 1990, đã cho thấy nhiều ưu điểm vượt trội, bao gồm khả năng quan sát rõ ràng và tiếp cận dễ dàng đến các khu vực khó khăn trong hốc mắt. Điều này giúp giảm thiểu nguy cơ biến chứng và cải thiện kết quả phẫu thuật.

1.1. Đặc điểm bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp

Bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp (Thyroid related eye disease - TED) là một bệnh lý tự miễn, thường gặp trong bệnh Basedow. TED có thể gây ra nhiều triệu chứng nghiêm trọng như lồi mắt, song thị và chèn ép thị thần kinh. Trong giai đoạn hoạt tính, các triệu chứng này có thể tiến triển nhanh chóng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Việc can thiệp phẫu thuật là cần thiết để giảm thiểu các biến chứng và cải thiện tình trạng bệnh. Phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt đã chứng minh hiệu quả trong việc điều trị TED, giúp giảm độ lồi mắt và cải thiện thị lực cho bệnh nhân.

II. Kỹ thuật phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt

Kỹ thuật nội soi đường mũi trong phẫu thuật giảm áp hốc mắt đã được cải tiến đáng kể trong những năm gần đây. Phương pháp này cho phép bác sĩ tiếp cận hốc mắt mà không cần thực hiện các vết mổ lớn, từ đó giảm thiểu tổn thương mô mềm và cải thiện thẩm mỹ cho bệnh nhân. Kỹ thuật này bao gồm việc cắt thành xương hốc mắt và lấy bớt tổ chức mỡ, nhằm tăng thể tích hốc mắt và giảm áp lực lên các cấu trúc bên trong. Việc sử dụng nội soi mũi giúp bác sĩ quan sát rõ ràng hơn và thực hiện các thao tác chính xác hơn, từ đó nâng cao hiệu quả phẫu thuật.

2.1. Quy trình phẫu thuật

Quy trình phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt bao gồm nhiều bước quan trọng. Đầu tiên, bệnh nhân được đánh giá tình trạng sức khỏe và chuẩn bị trước mổ. Sau đó, phẫu thuật viên sẽ thực hiện nội soi để xác định vị trí và mức độ tổn thương. Tiếp theo, các thao tác phẫu thuật sẽ được thực hiện để cắt thành xương và lấy bớt tổ chức mỡ. Cuối cùng, bệnh nhân sẽ được theo dõi và chăm sóc hậu phẫu để đảm bảo không có biến chứng xảy ra. Việc tuân thủ quy trình này là rất quan trọng để đạt được kết quả tốt nhất cho bệnh nhân.

III. Kết quả và đánh giá hiệu quả phẫu thuật

Kết quả của phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu. Nhiều bệnh nhân đã cho thấy sự cải thiện rõ rệt về độ lồi mắt và thị lực sau phẫu thuật. Các yếu tố như tuổi tác, tình trạng bệnh lý trước mổ và kỹ thuật phẫu thuật đều có ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng. Việc phân tích các yếu tố này giúp bác sĩ có thể đưa ra những chỉ định phẫu thuật hợp lý hơn cho từng bệnh nhân. Đặc biệt, phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt không chỉ giúp cải thiện tình trạng bệnh mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

3.1. Biến chứng và tai biến

Mặc dù phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn có nguy cơ xảy ra biến chứng. Các biến chứng có thể bao gồm chảy máu, nhiễm trùng và tổn thương các cấu trúc xung quanh. Việc theo dõi và xử trí kịp thời các biến chứng này là rất quan trọng để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân. Bác sĩ cần phải có kinh nghiệm và kỹ năng cao trong việc thực hiện phẫu thuật để giảm thiểu các rủi ro này.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược giải phẫu hốc mắt và các xoang cạnh mắt 1. Đặc điểm giải phẫu hốc mắt 1. Các thành xương hốc mắt Thành trên do mảnh ổ mắt của xương trán và cánh nhỏ xương bướm tạo thành.

Ở phía sau, chỗ gặp nhau giữa trần và thành trong (gốc của cánh nhỏ xương bướm) có lỗ của ống thị giác nối thông hốc mắt với hố sọ giữa là nơi chui qua của thần kinh thị giác và động mạch mắt. Thành trong có hình dạng gần giống hình chữ nhật, chủ yếu là thành ngoài của các xoang sàng là một mảnh xương mỏng (mặt ngoài của khối bên xương sàng). Thành trong kéo dài từ mào lệ trước (mỏm trán của xương hàm trên) ở phía trước đến đỉnh hốc mắt ở phía sau. Ở phía trước của thành trong, mào lệ trước và mào lệ sau tạo nên rãnh lệ (chứa túi lệ), tạo thành thành bên của hốc mũi, nằm trên chân bám cuốn giữa ở phía trong.

Phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt đi quá mốc giải phẫu này có thể gây tổn thương lệ đạo. Thân xương bướm là một xương cứng, tạo thành giới hạn sau cùng của thành trong, liên tiếp với ống thị giác. Thành trong nối với trần hốc mắt ở khớp trán sàng. Khớp trán sàng là giới hạn trên an toàn trong giảm áp thành trong.

Việc lấy bỏ xương giấy đến, quá vị trí này dẫn đến nguy cơ rò dịch não tuỷ, lộ màng cứng và vỏ não thuỳ trán. Các mạch và các thần kinh sàng trước và sau rời khỏi hốc mắt qua các lỗ sàng trước và sau nằm ở khớp trán sàng.6 Thành trong nối với sàn ổ mắt bằng khớp sàng hàm là giới hạn của phần xương góc dưới trong ổ mắt (inferomedial orbital strut). Ở phía trước, phần xương này được tạo bởi xương hàm trên dày chắc ở bờ ổ mắt và có tổ chức xơ sợi dày chắc kết nối với 4 nhãn cầu và giữ đảm bảo cho nhãn cầu ở đúng vị trí trong hốc mắt. Ở giữa, cấu trúc được tạo bởi chỗ nối giữa xương hàm trên mỏng và xương giấy.

Ở phía sau đến đỉnh ổ mắt, cấu trúc là khớp nối dày, cứng hình tam giác giữa xương sàng và xương khẩu cái. Một số nghiên cứu đã chỉ rõ mối liên quan giữa phần xương góc dưới trong ổ mắt và tình trạng song thị sau mổ giảm áp hốc mắt hoặc sau chấn thương.6,7,8 Thành dưới có hình gần giống tam giác, thoải dần về phía trước, chủ yếu tạo nên từ mặt ổ mắt xương hàm trên ngoài ra còn có 1 phần nhỏ được tạo thành từ xương gò má ở phía trước ngoài và xương khẩu cái ở tận cùng phía sau. Sàn ổ mắt là trần xoang hàm. Ở 2/3 sau sàn ổ mắt bị ngăn cách với cánh lớn xương bướm bởi khe dưới ổ mắt, một khe thông xuống dưới với hố chân bướm khẩu cái và hố thái dương dưới.

Thần kinh hàm trên lướt qua khe này chạy tới rãnh dưới ổ mắt rồi đi vào ống dưới ổ mắt và thoát ra ở lỗ dưới ổ mắt nằm ở mặt trước của thân xương hàm trên. Phần sàn ổ mắt phía bên trong dây thần kinh hàm trên thường mỏng, dễ làm thủng khi phẫu thuật. Đây cũng là phần thường được lấy bỏ trong phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt.6 Thành ngoài là thành xương dày nhất, ngăn cách hốc mắt với hố thái dương. Thành được tạo bởi chủ yếu là xương gò má và cánh lớn xương bướm.

Cùng hướng về phía trước nhưng thành ngoài bị chia cắt với trần của hốc mắt bởi khe hốc mắt trên (giữa cánh lớn và cánh nhỏ của xương bướm), khe này rộng về phía trong. Khe hốc mắt trên là nơi đi qua của thần kinh III, thần kinh IV, nhánh mắt thần kinh V và thần kinh VI. Các mô mềm trong hốc mắt có liên quan đến phẫu thuật nội soi giảm áp Màng xương hốc mắt: Liên tiếp tại bờ hốc mắt với ngoại cốt mạc ở mặt ngoài các xương sọ và mở rộng vào các mi tạo thành cân vách hốc mắt. Tại các lỗ thông hốc mắt với hộp sọ, màng xương liên tiếp với lớp màng não 5 cứng.

Ở phần sau hốc mắt màng xương dày lên ở quanh ống thị giác và phần trung tâm khe ổ mắt trên thành vòng gân chung (gân Zinn) là chỗ bám cho bốn cơ thẳng. Các cơ vận nhãn: Cơ trực trong nằm sát xương giấy. Trong TED, cơ trực trong phì đại quá mức có thể làm xương giấy bị ấn lõm thậm chí bị nứt vỡ, biến dạng. Cơ trực trong có thể bị tổn thương trong phẫu thuật xoang sàng khi sơ xuất mở vào hốc mắt.

Cơ trực dưới nằm sát sàn hốc mắt ở phía sau, ở phía trước, cơ này ngăn cách với sàn hốc mắt bằng tổ chức mỡ hốc mắt. Đặc điểm giải phẫu các xoang cạnh hốc mắt 1. Xoang sàng Thường có từ 5 - 15 tế bào sàng, nằm trong bề dày của 2 khối bên xương sàng, mỗi tế bào có lỗ dẫn lưu riêng. Mảnh nền cuốn giữa phân chia các tế bào sàng thành các tế bào sàng trước và các tế bào sàng sau.

Các tế bào sàng trước được chia thành 3 nhóm nhỏ lần lượt từ trước ra sau là nhóm tế bào mỏm móc, nhóm tế bào ngách và nhóm tế bào bóng.10 Các tế bào sàng sau nằm ở phía sau mảnh nền cuốn giữa, thường có từ 3 đến 5 tế bào dẫn lưu vào ngách mũi trên. Mảnh nền cuốn trên đi từ chỗ bám của mảnh nền cuốn giữa ra sau và xuống dưới đến mặt trước xoang bướm, chia các tế bào sàng sau ra thành 2 tầng: tầng dưới là tế bào sàng sau trung tâm, tầng trên thường có 2 tế bào là tế bào sàng sau trước và tế bào sàng sau cùng. Trần sàng tương đối dày ở phía ngoài (0,5 mm) và mỏng dần về phía trong, chỗ mỏng nhất là 0,2 mm.11 Màng não ở đây dính tương đối chắc vào xương do vậy nguy cơ chảy dịch não tủy là rất cao khi có tổn thương trần sàng.12,13 Trần sàng có thể bị khuyết tự nhiên, màng não, não có thể thoát vị qua ổ khuyết vào các tế bào sàng.14 Để tránh biến chứng này trong phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt, phẫu thuật viên tránh làm tổn thương trần sàng và khi lấy bỏ xương giấy về 6 phía trên, không nên lấy bỏ triệt để xương giấy mà cần để lại một dải xương nhỏ.15 Các động mạch sàng: Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau, là nhánh của động mạch mắt đi qua 2 ống động mạch sàng trước và ống động mạch sàng sau, cùng với dây thần kinh tương ứng vào hố sọ trước ở bờ ngoài của mảnh sàng. Động mạch sàng trước to hơn và ổn định hơn động mạch sàng sau.

Động mạch sàng trước nằm giữa cơ chéo trên và cơ trực trong trước khi chui qua ống động mạch sàng, nằm ở phía sau bóng sàng cách 2 - 3 mm, thường ra ở nền sọ nhưng cũng có thể thấp hơn, nằm trong tế bào sàng trước. Động mạch có nhiều nguy cơ bị tổn thương khi có xoang trên hốc mắt to, động mạch nằm thấp so với nền sọ và nằm trong xoang sàng. Động mạch sàng sau đi trong vách xương giữa tế bào sàng sau trước và tế bào sàng sau cùng (Onodi), ít bị tổn thương trong phẫu thuật. Xoang bướm Xoang bướm nằm trong xương bướm, thường có một vách ngăn lớn phân chia thành 2 xoang bướm.

Hai xoang bướm thường có kích thước không đều nhau. Thành trước xoang bướm còn gọi là thành mũi có lỗ thông xoang bướm, thường là mỗi xoang một lỗ thông đổ vào nghách bướm sàng. Chiều dày thành này khoảng 0,1 - 0,5 mm. Thành này có liên quan đến các xoang sàng sau, đặc biệt trong một số trường hợp có tế bào sàng sau cùng Onodi.

Thành sau dày, liên quan đến nền sọ sau, xoang tĩnh mạch nền, và cầu não. Trần xoang bướm có liên quan đến tuyến yên, trước tuyến yên có giao thoa thị giác và ống thị giác. Thành dưới là trần của vòm họng. Thành bên liên quan đến xoang tĩnh mạch hang, động mạch cảnh trong, dây thần kinh hàm trên.

Xoang hàm Là xoang lớn nhất trong các xoang cạnh mũi. Xoang có thể có 1 hoặc nhiều lỗ thông xoang đổ vào khe bán nguyệt. Trần xoang hàm là sàn ổ mắt. Trong phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt, mở rộng lỗ thông xoang hàm tối đa về phía trên ngoài mục đích tránh bít tắc lỗ thông xoang sau mổ còn có tác dụng tạo đường vào tiếp cận sàn ổ mắt.

Xoang trán Có 2 xoang trán, ngăn cách với nhau bởi một vách xương. Xoang trán liên quan chặt chẽ với trần ổ mắt và và nền sọ trước. Phẫu thuật giảm áp trần ổ mắt đã bị loại bỏ từ lâu do các biến chứng nặng như tổn thương màng não, não. Một số cấu trúc giải phẫu liên quan trong phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt Phẫu thuật nội soi giảm áp có các bước đầu tiên tương tự phẫu thuật nội soi mũi xoang.

Anand đưa ra 9 điểm mốc giải phẫu xoang sàng: mỏm móc, bóng sàng, lỗ thông xoang hàm, độ sâu của hố khứu giác so với trần sàng, xương giấy, lỗ thông xoang trán ngay đỉnh của khe bán nguyệt, mảnh nền cuốn mũi giữa ngăng cách giữa tế bào sàng trước và tế bào sàng sau, lỗ thông xoang bướm và thành sau xoang bướm. Rouvier đưa ra 10 điểm mốc mốc xoang sàng khi phẫu thuật nội soi: mỏm móc, bóng sàng, lỗ thông xoang hàm, xương giấy, lỗ ống lệ mũi ở khi mũi dưới, gờ ống lệ mũi ngang vị trí đầu cuốn mũi giữa nơi động mạch sàng trước chạy vào hố sọ trước, động mạch sàng sau, lỗ thông xoang bướm, bờ trên của cung cửa mũi sau.11 Cuốn mũi giữa Cuốn giữa dài khoảng 4 cm, bám vào xương sàng bằng chân bám cuốn giữa. Chân bám cuốn giữa được chia thành 3 đoạn. Đoạn giữa và đoạn sau 8 được gọi là mảnh nền, là vách phân chia các xoang sàng trước và xoang sàng sau.

Đây là mốc quan trọng trong phẫu thuật nội soi mũi xoang. Bình thường cuốn mũi giữa cong lồi vào trong. Trong trường hợp cuốn giữa đảo chiều, chiều cong này lại quay ra ngoài. Trong cuốn giữa có thể có một tế bào khí lớn gọi là xoang hơi cuốn giữa.

Cuốn giữa đảo chiều và xoang hơi cuốn giữa có thể chèn ép đường dẫn lưu của phức hợp lỗ ngách và làm hẹp trường mổ trong phẫu thuật nội soi giảm áp hốc mắt.11 Mỏm móc Lấy bỏ mỏm móc và mở rộng lỗ thông xoang hàm là một bước trong phẫu thuật nội soi giảm áp. Mỏm móc là một xương nhỏ, hình móc câu, đính với xương sàng bằng mảnh nền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật giảm áp hốc mắt bằng nội soi đường mũi trong điều trị bệnh hốc mắt liên quan tuyến giáp" trình bày một phương pháp phẫu thuật tiên tiến nhằm giảm áp lực trong hốc mắt, đặc biệt cho những bệnh nhân mắc bệnh hốc mắt do tuyến giáp. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình phẫu thuật nội soi mà còn nhấn mạnh những lợi ích của phương pháp này, như giảm thiểu xâm lấn và thời gian hồi phục nhanh hơn cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi cắt gần hoàn toàn tuyến giáp điều trị bệnh basedow, nơi cung cấp thông tin về phẫu thuật tuyến giáp, hoặc tìm hiểu thêm về Luận án tiến sĩ nghiên cứu kết quả nội soi lồng ngực chẩn đoán nguyên nhân và điều trị tràn dịch màng phổi, một nghiên cứu liên quan đến nội soi trong điều trị bệnh lý. Cuối cùng, bạn cũng có thể xem xét Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng keo dán fibrin tự thân trong phẫu thuật cắt mộng ghép kết mạc, để hiểu thêm về các ứng dụng khác của công nghệ phẫu thuật hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp điều trị hiện nay.