Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá

Luận án tiến sĩ nghiên cứu y học nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2023

163
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn lựa bệnh nhân

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.3. Các bước tiến hành nghiên cứu

2.2.4. Thu thập số liệu

2.2.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.2.6. Các quy trình nghiên cứu

2.3. PHƯƠNG TIỆN NGHIÊN CỨU

2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU

2.5. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

3.1.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

3.1.2. Các đặc điểm lâm sàng trước mổ

3.1.3. Các đặc điểm cận lâm sàng trước mổ

3.2. CÁC ĐẶC ĐIỂM PHẪU THUẬT

3.2.1. Đặc điểm tổn thương tim xác định trong mổ

3.2.2. Đặc điểm kỹ thuật mổ

3.2.3. Đặc điểm hồi sức tim trong mổ

3.3. ĐẶC ĐIỂM THEO DÕI VÀ ĐIỀU TRỊ GIAI ĐOẠN SAU MỔ

3.4. KẾT QUẢ THEO DÕI VÀ KIỂM TRA SAU MỔ

3.4.1. Đặc điểm suy tim theo NYHA sau mổ

3.4.2. Đặc điểm cận lâm sàng sau mổ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. CÁC ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG

4.1.1. Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

4.1.2. Các đặc điểm lâm sàng trước mổ

4.1.3. Các đặc điểm cận lâm sàng trước mổ

4.2. CÁC ĐẶC ĐIỂM TRONG PHẪU THUẬT

4.2.1. Đặc điểm một số tổn thương của tim xác định trong mổ

4.2.2. Đặc điểm kỹ thuật mổ

4.2.3. Đặc điểm hồi sức tim trong mổ

4.2.4. Kết quả sớm sau phẫu thuật thay van hai lá cơ học có bảo tồn bộ máy dưới van

4.3. THEO DÕI KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ SAU MỔ

4.3.1. Các đặc điểm lâm sàng

4.3.2. Diễn biến các đặc điểm cận lâm sàng trong thời gian sau mổ

4.3.3. Các biến chứng ở giai đoạn sau phẫu thuật ra viện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Bệnh lý van hai lá là một trong những vấn đề thường gặp trong y học, bao gồm hẹp và hở van. Nguyên nhân chủ yếu là do thấp tim, nhiễm khuẩn, và thoái hóa. Điều trị nội khoa là bước đầu tiên, nhưng khi tổn thương quá nặng, phẫu thuật thay van là cần thiết. Van cơ học có độ bền cao nhưng có nguy cơ tạo cục máu đông, trong khi van sinh học có thể thoái hóa sau một thời gian. Kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá đã được nghiên cứu và cho thấy có thể cải thiện chức năng thất trái sau phẫu thuật. Tại Việt Nam, phẫu thuật này đã được thực hiện từ năm 1971, nhưng chưa có nghiên cứu hệ thống về kỹ thuật bảo tồn lá van sau. Nghiên cứu này nhằm mục tiêu đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả phẫu thuật thay van hai lá cơ học có bảo tồn lá sau.

II. Giải Phẫu Van Hai Lá

Van hai lá, hay còn gọi là van nhĩ - thất trái, có chức năng đảm bảo dòng máu đi một chiều từ nhĩ trái xuống thất trái. Cấu trúc của van bao gồm vòng van, các lá van và bộ máy dưới van. Vòng van có khả năng đàn hồi và di động, giúp van hoạt động hiệu quả. Các lá van được treo giữa vòng van và cơ nhú, với lá trước và lá sau có kích thước và vị trí bám khác nhau. Việc hiểu rõ cấu trúc và chức năng của van hai lá là rất quan trọng trong việc áp dụng các kỹ thuật phẫu thuật bảo tồn.

2.1. Vòng Van Hai Lá

Vòng van hai lá có cấu tạo từ các sợi collagen, tạo thành một dải mô sợi liên kết không liên tục. Hình dạng của vòng van gần giống như hình bầu dục, với các điểm cao và thấp khác nhau. Sự hiểu biết về hình thái vòng van giúp các bác sĩ thực hiện phẫu thuật chính xác hơn.

2.2. Bộ Máy Dưới Van

Bộ máy dưới van bao gồm các dây chằng và cơ nhú, có chức năng giúp van mở dễ dàng trong thì tâm trương và ngăn vận động quá mức trong thì tâm thu. Các dây chằng có chiều dài và độ dày khác nhau, và được phân loại theo vị trí bám trên lá van. Việc bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật có thể giúp cải thiện kết quả sau mổ.

III. Phẫu Thuật Thay Van Hai Lá

Phẫu thuật thay van hai lá có thể được thực hiện bằng nhiều kỹ thuật khác nhau, bao gồm cả việc bảo tồn bộ máy dưới van. Kỹ thuật bảo tồn lá sau đã được áp dụng tại một số trung tâm phẫu thuật tim ở Việt Nam. Việc bảo tồn lá van có thể giúp cải thiện chức năng thất trái và giảm nguy cơ biến chứng sau mổ. Tuy nhiên, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng về tình trạng của từng bệnh nhân trước khi quyết định áp dụng kỹ thuật này.

3.1. Kỹ Thuật Thay Van Nhân Tạo

Kỹ thuật thay van nhân tạo cơ học đã được thực hiện lần đầu tiên vào năm 1960. Việc cắt bỏ cả hai lá van cùng các dây chằng dưới van đã được thực hiện, nhưng nghiên cứu sau đó cho thấy việc bảo tồn lá van có thể mang lại lợi ích lớn hơn cho bệnh nhân. Kỹ thuật này cần được áp dụng một cách linh hoạt tùy theo tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

3.2. Kết Quả Phẫu Thuật

Kết quả phẫu thuật thay van hai lá có bảo tồn bộ máy dưới van thường tốt hơn so với các kỹ thuật không bảo tồn. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có thể phục hồi nhanh chóng và giảm thiểu biến chứng. Việc theo dõi và đánh giá kết quả sau mổ là rất quan trọng để đảm bảo sự thành công của phẫu thuật.

IV. Bàn Luận

Nghiên cứu về ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá đã chỉ ra rằng kỹ thuật này có thể cải thiện chức năng tim sau phẫu thuật. Các đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân cho thấy sự cần thiết phải áp dụng kỹ thuật này một cách hệ thống. Việc bảo tồn lá van và bộ máy dưới van không chỉ giúp cải thiện kết quả phẫu thuật mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định hiệu quả của kỹ thuật này trong thực tiễn.

4.1. Đặc Điểm Lâm Sàng

Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân phẫu thuật thay van hai lá có bảo tồn lá sau cho thấy sự cải thiện rõ rệt về chức năng tim. Các chỉ số như phân suất tống máu và áp lực động mạch phổi đã được cải thiện sau phẫu thuật. Điều này cho thấy kỹ thuật bảo tồn có thể mang lại lợi ích lớn cho bệnh nhân.

4.2. Đánh Giá Kết Quả Sau Mổ

Đánh giá kết quả sau mổ cho thấy tỷ lệ biến chứng thấp và thời gian hồi phục nhanh. Các bệnh nhân được theo dõi cho thấy sự cải thiện về chất lượng cuộc sống. Kết quả này khẳng định giá trị thực tiễn của nghiên cứu và cần được áp dụng rộng rãi trong các trung tâm phẫu thuật tim.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh lý thường gặp của van hai lá là: hẹp van, hở van, hẹp kết hợp hở van. Nguyên nhân thường gặp nhất là do thấp tim, ngoài ra có thể do nhiễm khuẩn, thoái hóa, bệnh hệ thống…gây các biến đổi thực thể của các lá van và bộ máy dưới van (các dây chằng và cơ nhú tương ứng) như xơ dày, vôi hóa, co rút, phì đại…. Điều trị nội khoa là khâu điều trị đầu tiên, rất quan trọng nhằm làm giảm các triệu chứng và tiến triển bệnh. Nhưng để giải quyết triệt để các tổn thương thực thể tại van hai lá thì cần phải sử dụng các biện pháp can thiệp ngoại khoa như sửa hoặc thay van.

Sửa van là kỹ thuật được lựa chọn đầu tiên nhưng khi các tổn thương thực thể tại van quá nặng, không thể sửa được thì phải chỉ định thay VHL bằng van nhân tạo cơ học hoặc sinh học [2]. Van cơ học có độ bền cao nhưng luôn có nguy cơ tạo cục máu đông nên phải dùng thuốc chống đông máu suốt đời sau mổ; còn van sinh học ít gây cục máu đông nhưng luôn có nguy cơ tổ chức van bị thoái hóa dần nên sau mổ một thời gian (8 - 15 năm) bệnh nhân phải mổ lại để thay van mới. Do đó van cơ học là lựa chọn hàng đầu cho các bệnh nhân trẻ (dưới 60 - 65 tuổi) và không có chống chỉ định dùng thuốc chống đông [3], [4]. Ca phẫu thuật thay VHL nhân tạo cơ học thành công đầu tiên trên thế giới đã được thực hiện bởi Nina S.

ngày 11 tháng 3 năm 1960 với kỹ thuật kinh điển là cắt bỏ cả 2 lá van cùng các dây chằng dưới van [5]. Tuy nhiên các nghiên cứu sau đó đã cho thấy: việc bảo tồn lá van cùng bộ máy dưới van sẽ giúp cải thiện tốt hơn chức năng thất trái sau phẫu thuật [6], [7], [8], [9]… Tùy theo tổn thương cụ thể và kinh nghiệm mà phẫu thuật viên có thể ứng dụng kỹ thuật bảo tồn cả hai lá van hoặc kỹ thuật bảo tồn lá sau. Trong kỹ thuật bảo tồn cả hai lá van việc bảo tồn lá trước có thể ảnh hưởng đến hoạt động của cánh van cơ học và cản trở đường ra thất trái sau mổ. Kỹ thuật bảo tồn lá sau hạn chế 2 được các bất lợi đó, nhất là ở các trường hợp lá trước và bộ máy dưới van của nó bị các tổn thương xơ dày, vôi hóa, co rút, phì đại… nặng.

Tại Việt Nam, phẫu thuật thay VHL đã được thực hiện từ năm 1971, trong đó kỹ thuật thay VHL có bảo tồn bộ máy dưới van cũng đã được áp dụng ở một số trung tâm phẫu thuật tim, nhưng còn phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của từng phẫu thuật viên [10]. Tại Bệnh viện Trung ương Huế, nhiều năm qua đã sử dụng phẫu thuật thay VHL cơ học có bảo tồn bộ máy dưới van với kỹ thuật bảo tồn lá sau [11]. Việc sử dụng kỹ thuật này dựa trên nhận định: Đa số bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật thay VHL đều do bệnh lý VHL hậu thấp với thời gian bệnh đã kéo dài, thương tổn tại van thường là xơ dày, co rút, vôi hóa, phì đại… Vì vậy thường gây hẹp VHL, kèm theo là kích thước thất trái nhỏ. Nếu dùng kỹ thuật bảo tồn toàn bộ cả hai lá van và dây chằng thì sau mổ phần bảo tồn của lá trước có nguy cơ ảnh hưởng đến hoạt động của van cơ học và nhất là gây hội chứng hẹp đường ra thất trái, có thể dẫn đến biến chứng “đờ thất trái”, thậm trí vỡ thất trái do quá tải thất trái ngay sau mổ.

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về việc ứng dụng kỹ thuật bảo tồn lá van sau và dây chằng trong phẫu thuật thay VHL cơ học tại Bệnh viện Trung ương Huế. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá” nhằm các mục tiêu: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân phẫu thuật thay van hai lá cơ học có bảo tồn lá sau tại Bệnh viện Trung ương Huế. Đánh giá kết quả phẫu thuật thay van hai lá cơ học có bảo tồn lá sau tại Bệnh viện Trung ương Huế.

GIẢI PHẪU VAN HAI LÁ Van hai lá còn được gọi là van mũ ni hay van nhĩ - thất trái vì nó nằm phân cách giữa NT và TT. Hoạt động chức năng chủ yếu của nó là đảm bảo cho dòng máu đi theo một chiều từ NT xuống TT trong thì tâm trương và không cho dòng máu đi ngược lại từ TT lên NT trong thì tâm thu (Hình 1. VHL là một chỉnh thể giải phẫu gồm: vòng van, các lá van và bộ máy dưới van hay hệ thống treo van (gồm các dây chằng và các cơ nhú) được liên kết chặt chẽ với nhau cả về hình thái giải phẫu lẫn chức năng, giúp VHL hoạt động chức năng một cách tối ưu, góp phần đảm bảo hoạt động bình thường của tim [12]. Hình ảnh VHL (nhìn từ phía tâm nhĩ) ở thì tâm thu và tâm trương *Nguồn: theo Frank H.

Vòng van hai lá Vòng VHL là một tổ chức có khả năng đàn hồi và di động tốt, là một phần của khung sợi tim bao quanh lỗ nhĩ thất trái, sát với vòng van động mạch chủ (ĐMC) - vùng nối giữa cơ NT và cơ TT, có các lá VHL bám vào [12]. Cấu tạo vòng van Vòng VHL có bản chất là các sợi collagen gồm tam giác xơ phải, tam giác xơ trái và các mô xơ nối giữa chúng (từ tam giác xơ phải sang tam giác xơ trái theo chiều kim đồng hồ). 4 Thực chất vòng VHL là một dải mô sợi liên kết không liên tục: Mô sợi liên kết chỉ có ở vùng bám của lá sau VHL và không thấy ở chỗ bám của lá trước VHL, nơi lá trước có mô van là sự liên tục của màn VHL – van ĐMC, trải dài từ vòng van ĐMC đến nền của lá trước VHL. Tại mỗi điểm tương ứng với hai mép van, vùng nối van – nhĩ dày lên để hình thành hai tam giác xơ: Tam giác xơ trái hay tam giác xơ trước ngoài và tam giác xơ phải hay tam giác xơ sau trong (Hình 1.

Hình ảnh vòng xơ VHL *Nguồn: theo Alain C. Hình thái vòng van hai lá Trên hình ảnh hai chiều thì vòng VHL có dạng gần như hình bầu dục, còn trên hình ảnh ba chiều thì có dạng như hình yên ngựa với 2 điểm thấp nhất là ở vùng 2 tam giác xơ trước và sau, còn 2 điểm cao nhất là hai điểm giữa của phần vòng van trước và vòng van sau (Hình 1. Vòng VHL không nhìn thấy được từ phía NT, nó nằm sâu hơn và cách đường lề bám có thể nhìn thấy được của các lá van khoảng 2 mm về phía ngoài [14]. Sơ đồ dạng hình yên ngựa của vòng VHL *Nguồn: theo Alain C.

Lá van hai lá Van hai lá có lá trước và lá sau, tách biệt nhau bởi 2 mép van. Các lá van bám vào toàn bộ chu vi vòng van. Hai lá van có kích thước và vị trí bám khác nhau: lá trước có chiều rộng từ chân van đến bờ tự do của nó lớn hơn nhưng chỗ chân bám vào vùng nối van – nhĩ lại ngắn hơn so với lá sau (chỉ chiếm 1/3 chu vi vòng van). Lá sau có chỗ chân bám chiếm tới 2/3 chu vi vòng van nhưng chiều rộng từ chân van đến bờ tự do của nó lại nhỏ hơn lá trước (Hình 1.

Lá van trước đóng vai trò chính trong việc đóng kín lỗ van. Hình thái van hai lá Về hình thái, một số tác giả mô tả lá van có hình tam giác, có tác giả lại mô tả như hình bán nguyệt, hình tứ giác hoặc hình thang, tuy nhiên tất cả đều thống nhất nhận định là có sự khác biệt rõ ràng về hình thái của hai lá van. Các lá van được treo giữa vòng van phía trên và cơ nhú phía dưới. Mỗi lá van có hai mặt, mặt trên hướng về phía tâm nhĩ nên còn được gọi là mặt nhĩ, mặt dưới hướng về phía tâm thất nên còn gọi là mặt thất.

Cách gọi này chỉ mang tính tương đối vì khi van hai lá mở, lá van nằm chếch trong khoang tâm thất trái nên có tác giả phân biệt hai mặt VHL là mặt trong và mặt ngoài. Mỗi van có một bờ buông tự do trong buồng tâm thất trái, có nhiều khe lõm, độ sâu của các khe lõm khác nhau tuỳ theo từng vị trí và ở đây có các dây chằng van tới bám vào. Bờ lá van ở phía ngoài bám vào vòng van. Lá van trước Lá van trước (còn gọi là lá van phải, lá van lớn, lá van trong hoặc lá động mạch chủ) có dạng hình thang hay hình tam giác, đáy dính với màn VHL – van ĐMC, bám vào vách liên thất và van ĐMC, ở phần trước - trong của vòng van khi tim giãn [15] chia thành 2 vùng (Hình 1.4): + Vùng thô: còn gọi là phần diện áp, dài khoảng 7 – 9 mm.

Vùng này áp vào phần tương ứng với nó trên lá van sau, đảm bảo van được đóng kín trong quá trình hoạt động chức năng. Đây là vùng có các dây chằng đến bám vào. + Vùng nhẵn: là vùng nằm giữa vùng thô và vòng van. Vùng này còn gọi 6 là phần nhĩ, mỏng đều và trong suốt, không có dây chằng bám vào.

Trong mổ có thể qua đó nhìn thấy các sợi dây chằng chạy dài từ chỗ bám của chúng trên vùng thô tới vùng chân van. Phần thô và phần nhẵn của các lá van *Nguồn: theo Alain C. và cs (2010) [14] Trong thì tâm trương, lá trước van 2 lá chia thất trái thành 2 vùng, vùng buồng nhận máu và buồng tống máu (Hình 1. Sự phân buồng TT trong thì tâm trương *Nguồn: theo Alain C.

Lá van sau Lá van sau còn được gọi là lá van trái, lá van nhỏ hoặc lá thành vì nó nằm sát với thành của tâm TT. Lá van sau bám vào phần sau ngoài của vòng VHL, tương ứng với thành sau tâm TT [15]. Bề mặt của lá van sau cũng thường chia làm hai vùng: Vùng nhẵn (tổ chức van nhẵn, mỏng và trong suốt) nằm giữa vòng van và vùng thô; Vùng thô (tổ chức van thô, dày hơn do có các dây chằng đến bám vào) nằm giữa vùng nhẵn và mép tự do của lá van.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật bảo tồn bộ máy dưới van trong phẫu thuật thay van hai lá" tập trung vào việc áp dụng các kỹ thuật tiên tiến nhằm bảo tồn cấu trúc dưới van trong quá trình phẫu thuật thay van hai lá. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện hiệu quả phẫu thuật mà còn giảm thiểu nguy cơ biến chứng, đảm bảo chức năng tim được duy trì tối ưu sau phẫu thuật. Đây là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực phẫu thuật tim mạch, mang lại lợi ích lớn cho bệnh nhân và các bác sĩ chuyên khoa.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu y học và kỹ thuật phẫu thuật, bạn có thể tham khảo thêm 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, cung cấp cái nhìn tổng quan về các công trình nghiên cứu chuyên sâu. Ngoài ra, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng cũng là tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về cách tối ưu hóa các phương pháp nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc từ thực tiễn tỉnh lào cai mang đến góc nhìn đa chiều về việc áp dụng các biện pháp y tế trong bối cảnh xã hội.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về các chủ đề liên quan!