Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Hấp thu các bon 1. Hấp thu các bon và vai trò của các khu dự trữ sinh quyển Trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu ngày nặng nề, các giải pháp nhằm giảm khí nhà kính trên quy mô toàn cầu là cấp bách hơn bao giờ hết. Khi các biện pháp giảm thiểu khí nhà kính như bơm CO2 xuống đại dương, các tầng địa chất, các mỏ than cũ hay các giếng dầu chưa có hiệu quả cao, tăng cường tích trữ các bon vào các hệ sinh thái đang là giải pháp chính nhằm giảm hiệu ứng nóng lên toàn cầu.
Theo đánh giá mới nhất của FAO, trên toàn thế giới có 4.06 tỉ ha rừng, chiếm 31% tổng diện bề mặt trái đất (FAO, 2020). Saatchi và cs. (2011) ước tính rằng trữ lượng các bon trong sinh khối rừng ở khu vực Đông Nam Á là 64. Rừng nhiệt đới là trung tâm lưu trữ các bon trên mặt đất.
Tuy nhiên, các hệ sinh thái bờ biển thậm chí còn có tiềm năng lưu trữ các bon gấp 5 lần rừng nhiệt đới. Điều này là do chúng có tốc độ hấp thụ các bon cao hơn tới 50 lần trên cùng đơn vị diện tích. Tuy có vai trò rất quan trọng trong lưu trữ các bon trên thế giới nhưng các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước này đều đang bị phá huỷ nghiêm trọng, đe doạ đến tiềm năng hấp thụ các bon của chúng. Bởi vậy, song song với chương trình giảm thiểu phát thải khí nhà kính từ phá rừng và suy thoái rừng (REDD+), gần đây các chương trình các bon xanh (Blue carbon) nhằm tạo cơ chế tài chính bền vững để bảo tồn các hệ sinh thái vùng bờ biển cũng rất được quan tâm.
Tính đến đầu năm 2020, trên thế giới có 701 Khu DTSQ thuộc 124 quốc gia (UNESCO, 2020). 701 Khu DTSQ này bao phủ trên diện tích 6.8 triệu km2 và là nơi cư trú của 257 triệu người (UNESCO, 2020). Các Khu DTSQ này là nơi lưu giữ những giá trị đa dạng sinh học vô giá cho nhân loại. Không chỉ có giá trị về đa dạng sinh học, các hệ sinh thái ở các KDTSQ cũng có tiềm năng hấp thụ các bon rất lớn.
5 Đánh giá lượng các bon lưu trữ ở 106 khu dự trữ sinh quyển trên thế giới, Pandey (2012) cho thấy các diện tích rừng ở đây lưu trữ khoảng 56-625 tấn các bon/ha (trung bình 191 tấn/ha), cao hơn 18% so với lượng các bon tích luỹ được tính toán bởi FAO). Các Khu DTSQ luôn được cấu thành bởi 3 phần: vùng lõi, vùng đệm và vùng chuyển tiếp, trong đó vùng lõi thường là các hệ sinh thái được bảo vệ nghiêm ngặt. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Chương trình sinh quyển và con người (MAB) đã xác định hỗ trợ các Khu DTSQ trong việc giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu là một trong 4 mục tiêu chiến lược của MAB giai đoạn 2015-2020. Để đạt được mục tiêu này, hiểu biết về khả năng lưu trữ các bon gắn liền với chức năng bảo tồn đa dạng sinh học của các Khu DTSQ là rất cần thiết.
Với với quy mô rộng lớn của các Khu DSTQ, bản đồ các bon kết hợp với hiện trạng về đa dạng sinh học là một công cụ không thể thiếu để giúp các nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong bảo tồn. Bể chứa các bon trong hệ sinh thái Năng lực tích luỹ các bon của hệ sinh thái thường được đánh giá bằng 2 thước đo: (1) mật độ các bon (carbon density): là lượng các bon tích trữ trong 1 đơn vị diện tích, thường là hectare và (2) tổng lượng các bon tích trữ (carbon stock): là tổng lượng các bon tích trữ trên toàn diện tích. Trong hệ sinh thái, do các bon được tích trữ phần lớn trong sinh khối của vật chất sống ở trên và dưới mặt đất nên khi nghiên cứu về tích luỹ các bon, thông tin về sinh khối cũng thường được báo cáo kèm theo. “Bể chứa các bon” là một thuật ngữ mang tính chất linh hoạt.
Tuỳ thuộc vào đối tượng được đề cập mà thuật ngữ “bể chứa các bon” mang hàm ý khác nhau. Ở quy mô toàn cầu hoặc khu vực hoặc quốc gia, “bể chứa các bon” có thể được sử dụng để chỉ các loại rừng khác nhau như rừng nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới v. Ở quy mô hệ sinh thái, “bể chứa các bon” được hiểu là những nơi chứa các bon trong hệ sinh thái. Bể chứa các bon trong hệ sinh thái có thể được chia thành: bể chứa trên 6 mặt đất, dưới mặt đất.
Tầng cây gỗ trên mặt đất, tầng cây bụi thảm tươi, vật rơi rụng và thảm mục cũng được gọi là các bể chứa các bon. Lượng các bon tích trữ trong thực vật và trong đất ở các quần xã sinh vật và các khu vực địa lý khác nhau là khác nhau đáng kể (Hui và cs. Ở vùng nhiệt đới, mật độ các bon trong thực vật và đất gần tương đương nhau nhưng với vùng ôn đới và vùng rừng phương bắc (boreal forest) mật độ các bon trong đất có thể cao gấp 2-6 lần trong thực vật. Mặc dầu với diện tích không lớn so với các Châu khác, nhưng rừng nhiệt đới ở Châu Á luôn dẫn đầu về mật độ các bon ở cả thực vật và trong đất.
Điều này cho thấy vai trò quan trọng của việc bảo vệ các hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Châu Á, nơi đang đối mặt với rất nhiều tác động làm suy giảm trữ lượng các bon. Các phương pháp xác định sinh khối/các bon rừng trên thế giới Xác định trữ lượng sinh khối và các bon rừng là chủ đề được rất nhiều nghiên cứu quan tâm trong 4-5 thập kỷ qua. Quá trình nghiên cứu này đã tạo nên một khối lượng kết quả nghiên cứu vô cùng đồ sộ. Theo mục đích, các nghiên cứu có thể được chia thành 3 nhóm: (i) Xây dựng các phương trình sinh trắc (allometric equation) dựa trên số liệu chặt hạ cây rừng; (ii) Ứng dụng các công nghệ viễn thám như ảnh quang học, Lidar hoặc Radar vào xác định sinh khối/các bon; (iii) Phân tích mối quan hệ giữa trữ lượng các bon với các đặc điểm khác của rừng.
Tùy theo quy mô của đối tượng, các nghiên cứu có thể được chia thành nghiên cứu ở cấp cây cá lẻ, cấp lâm phần và cấp cảnh quan. Theo phương pháp nghiên cứu, chúng có thể được chia thành: (i) phương pháp lấy mẫu phá hủy – còn gọi là phương pháp lấy mẫu chặt hạ (destructive sampling); (ii) phương pháp lấy mẫu không phá hủy – còn gọi là phương pháp lấy mẫu bán chặt hạ (non-destructive sampling) (Kumar and Mutanga, 2017; Vashum, 2012). Phương pháp lấy mẫu chặt hạ (Destructive sampling) Phương pháp lấy mẫu chặt hạ là chặt toàn bộ đối tượng lấy mẫu. Đây là phương pháp được phát triển sớm nhất để xác định trữ lượng các bon và cũng là 7 phương pháp xác định sinh khối/các bon trực tiếp và có độ chính xác cao nhất (Roxburgh và cs.
Phương pháp này thường được dùng để xác định các bon của cây cá thể nhưng nó được sử dụng chủ yếu để xây dựng phương trình sinh trắc ước tính trữ lượng các bon của lâm phần. Theo nghĩa rộng phương pháp lấy mẫu chặt hạ không chỉ được hiểu là lấy mẫu sinh khối mà còn là việc lấy mẫu ở các bể chứa khác nhằm xác định tổng trữ lượng cacbon toàn bộ lâm phần (Hộp 1). Đã có rất nhiều bài báo nêu tổng quan về cách lấy mẫu, ưu nhược điểm và gợi ý áp dụng của phương pháp chặt hạ, ví dụ Gibbs và cs. (2007), Vashum và cs.
* Phương pháp lấy mẫu Hai phương pháp lấy mẫu điển hình thường được áp dụng trong nghiên cứu sinh khối là lấy mẫu hệ thống và lấy mẫu ngẫu nhiên (Gibbs và cs. Trong lấy mẫu hệ thống, các ô mẫu được bố trí đều trên không gian lấy mẫu theo hệ thống ô lưới, trái lại trong lấy mẫu ngẫu nhiên, các ô mẫu được bố trí một cách ngẫu nhiên (Gibbs và cs. Dù là lấy mẫu hệ thống hay ngẫu nhiên, phân tầng đối tượng trước là cách rất tốt để giảm bớt sai số lấy mẫu do phân bố cây rừng trong tự nhiên vốn đã không ngẫu nhiên (Gibbs và cs. Cách phân tầng phổ biến là lấy mẫu theo từng loại rừng, trạng thái hoặc tuổi (Latifi và cs.
Một số nghiên cứu lấy mẫu phân tầng theo chiều cao cây rừng (Laurin và cs., 2017) hoặc thậm chí theo chỉ số diện tích lá LAI (Safari và cs. * Cách thức lấy mẫu xác định các bon trong các bể chứa Rất nhiều nghiên cứu đã trình bày cách thức lấy mẫu xác định các bon trong các bể chứa. Nguyên tắc chung của việc lấy mẫu là xác định được toàn bộ khối lượng tươi sau đó lấy mẫu để sấy khô nhằm xác định khối lượng khô và để phân tích hàm lượng các bon. Hộp 1 tổng hợp cách thức lấy mẫu xác định các bon ở các bể chứa được tổng hợp từ một số nghiên cứu như Lu và cs.
(2012), Saner và cs. (2012), Manuri và cs. (2016), Zhao và cs. Lấy mẫu xác định các bon trong cây gỗ: Sau khi xác định số lượng cây sẽ chặt hạ trên một diện tích, các cây này sẽ được đo đếm và ghi chép thông tin về 8 loài, đường kính, chiều cao trước khi chặt hạ.
Cây tiêu chuẩn được chặt sát mặt đất. Các bộ phận được để riêng rẽ gồm: thân (có thể phân tách riêng phần vỏ), cành lớn (đường kính đầu nhỏ > 2 cm), và cành nhỏ (đường kính đầu nhỏ < 2 cm), và lá. Thân được cắt ở vị trí 1.3 và ở mỗi 2 m cho tới ngọn. Cành được cắt thành mỗi đoạn 1-2.
Tất cả các bộ phận này được cân ngay tại hiện trường. 03 mẫu gỗ của mặt cắt ngang thân cây có độ dày 5 cm được lấy ở các vị trí 1. Tương tự 3 mẫu gỗ mặt cắt ngang cành có chiều dài 5-10 cm và ở các đường kính 5, 2, 1 cm được thu thập từ cành mẫu. Mẫu lá được thu thập ở các phần khác nhau của cành và cân tươi.
Thể tích gỗ được đo bằng phương pháp chiếm chỗ nước sau đó khối lượng thể tích gỗ được tính là tỉ lệ của khối lượng sau khi sấy khô và thể tích tươi (được đo bằng phương pháp chiếm chỗ nước). Một số nghiên cứu xác định khối lượng thể tích bằng lấy mẫu khoan tăng trưởng ở vị trí 1.3 m, sau đó mẫu gỗ từ khoan được tính thể tích bằng phương pháp chiếm chỗ nước (Saner, 2012). Tất cả các mẫu sau đó được sấy khô ở 65 độ đến khối lượng không đổi.