Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm Hàn ma sát là một trong những dạng hàn áp lực, trong đó nhiệt năng cung cấp cho quá trình hàn nhận được từ hiệu ứng ma sát khi các bề mặt chuyển động tương đối với nhau của hai chi tiết dưới áp lực ép hai chi tiết với nhau làm cho vật liệu khuếch tán vào nhau và tạo ra liên kết. Quá trình hình thành liên kết diễn ra ở trạng thái rắn (thường ở trạng thái chảy dẻo). Lịch sử phát triển Lịch sử phát triển của hàn ma sát bắt đầu từ hàn ma sát xoay, bằng cách cho 2 vật liệu quay ở tốc độ cao tiếp xúc với nhau và lợi dụng nhiệt ma sát sinh ra trên bề mặt và áp lực để liên kết chúng lại với nhau.
Công nghệ hàn ma sát xoay được phát hiện bởi một người thợ tiện của Nga tên là AI Chudikov vào năm 1954. Sau nhiều lần thực nghiệm, ông đã tạo thành công các mối nối từ vật liệu kim loại. Từ năm 1956, kỹ thuật này đã được đưa vào nghiên cứu tại Sở nghiên cứu kỹ thuật hàn Soviet (VNIESO) và được coi là kỹ thuật bí mật của Nga. Năm 1960, thông tin về kỹ thuật này lọt vào tay của Nhật bản khi họ đến khảo sát kỹ thuật tại Nga.
Được biết vào thời gian này, chính phủ Nhật hỗ trợ thành lập các đoàn khảo sát kỹ thuật, cử các kỹ sư giỏi đi tham quan các xí nghiệp ngoại quốc để học tập, thực ra là một dạng điệp viên kinh tế, lập tức các thông tin kỹ thuật được chuyển về Tokyo và Hiệp hội nghiên cứu kỹ thuật hàn của Anh Quốc (BWRA). Ngay từ năm 1961 người Nhật đã có những công bố kỹ thuật về hàn ma sát xoay và bắt đầu ứng dụng rộng rãi trong kỹ thuật chế tạo phụ tùng xe hơi. Năm 1962, hãng chế tạo máy dệt Toyota bắt đầu đưa vào chế tạo máy hàn ma sát xoay hàng loạt dạng phanh. Năm 1964, Nhật thiết lập Hội nghiên cứu hàn ma sát, bắt đầu nghiên cứu hàn ma sát trên nhiều loại vật liệu khác nhau, tạo cơ sở lý thuyết cho ra đời các quy chuẩn về hàn ma sát sau này, ví dụ JIS 3607 Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 13 Trong các năm thập kỷ 70, với yêu cầu cao hơn về hàn các biên dạng tấm phẳng, có kích thước lớn, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phát triển công nghệ hàn ma sát.
Ma sát tịnh tiến ra đời để đáp ứng nhu cầu trên. Năm 1991 TWI đã phát minh thêm một phương pháp hàn ma sát mới, là hàn ma sát ngoáy. Với các nghiên cứu ban đầu là hàn các vật mềm dẻo như nhôm, polyme. Năm 1998 hãng Izumi được ủy thác chế tạo toàn bộ từ kỹ thuật bàn giao của Toyota đã chế tạo thành công máy hàn ma sát bán tự động.
Máy hàn ma sát có khả năng hàn 2 loại vật liệu khác nhau với đường kính nhỏ nhất là 1,6 mm. Hiện tại, các hãng chế tạo máy hàn ma sát xoay nổi tiếng là IZUMI Industry, SAKAE Industry, TOYO , NITTO, SEIMITSU, TANAKA Seiki Sangyou. Các trường Đại học có phòng nghiên cứu về Hàn ma sát xoay nổi tiếng ở Nhật là: Đại học OSAKA, Đại học KEIO, Đại học Công nghiệp HIMEJI, Trung tâm nghiên cứu kỹ thuật HYOGO, Sở Nghiên cứu kỹ thuật Tổng hợp trực thuộc Bộ Giáo Dục Nhật Cho đến nay các phương pháp hàn ma sát vẫn được nghiên cứu và phát triển với các yêu cầu kỹ thuật cao hơn về thiết bị hàn cũng như mở rộng phạm vi ứng dụng phương pháp hàn ma sát cho nhiều dạng vật liệu khó hàn. Phân loại Hàn ma sát được phân loại với ba dạng cơ bản: hàn ma sát quay, hàn ma sát tịnh tiến và hàn ma sát ngoáy như sau [2]: 1.
Hàn ma sát quay Hình 1. Hàn ma sát quay Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 14 Đây là phương pháp hàn được sử dụng phổ biến nhất. Nó dựa trên cơ sở tỏa nhiệt khi ma sát giữa hai bề mặt đầu có trục quay đồng tâm. Phương pháp này được dùng để hàn các chi tiết dạng thanh hoặc ống từ vật liệu đồng chất hoặc khác nhau.
Nguyên công hàn có thể được phân ra làm các bước sau: Các phần tử hàn được kẹp trong mâm cặp trên trục chính quay và ngàm kẹp. Nếu các chi tiết hàn không có đường tâm đối xứng thì làm đồ gá đặc biệt cho chúng. Trục chính quay với số vòng cần thiết, để hai phần tử tiến lại gần nhau rồi tác động lực chiều trục, bắt đầu quá trình hàn. Lúc này do ma sát, nhiệt độ tăng, độ bền vật liệu giảm đi tạo nên biến dạng.
Lực tiếp tục ép làm kim loại dịch chuyển. Điều kiện này được giữ trong một thời gian xác định cho đến khi đạt được nhiệt độ cần thiết ứng với bộ đôi vật liệu hàn. Ngừng quay trục chính (tức thời) và tăng lực tác dụng dọc trục cho đến khi kết thúc quá trình hàn. Các bước hàn ma sát quay * Ưu điểm: - Hàn các chi tiết dạng thanh, ống tròn xoay hoặc không tròn xoay; - Chất lượng hàn cao, biến dạng nhiệt nhỏ; - Năng suất cao; - Hàn các kim loại khác nhau với nhau.
* Nhược điểm: - Lượng chùm của kim loại mối hàn lớn; - Phải gia công cơ khí sau hàn; - Thiết bị đắt tiền. Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 15 1. Hàn ma sát tịnh tiến Hình 1. Hàn ma sát tịnh tiến Hình 1.
Hàn ma sát tịnh tiến may ơ với cánh a) Gá đặt chuẩn bị; b) Hàn xong. Quá trình hàn ma sát tịnh tiến có nguyên lý gần giống với hàn ma sát quay chỉ khác ở chuyển động quay được thay thế bằng các chuyển động tịnh tiến để bề mặt tiếp xúc với nhau tạo nhiệt từ hiệu ứng ma sát (hình 1.3) Một số ứng dụng hàn ma sát tịnh tiến được trong thực tế mà vật, chi tiết khó có thể tạo chuyển động quay tròn như hình 1. * Ưu điểm [2]: - Hàn các chi tiết dạng thanh, ống không tròn xoay; - Chất lượng hàn cao, biến dạng nhiệt nhỏ; - Ứng dụng rất nhiều trong hàn chất dẻo; - Hàn các kim loại khác nhau với nhau. * Nhược điểm [2]: - Lượng chùm của kim loại mối hàn lớn; - Phải gia công cơ khí sau hàn; - Không thích hợp lắmđối với vật liệu có hệ số dẫn nhiệt cao; Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 16 - Thiết bị đắt tiền.
Hàn ma sát ngoáy Hình 1. Hàn ma sát ngoáy. *Ưu điểm: - Hàn ma sát ngoáy có ưu điểm cơ bản: Độ bền mối hàn cao; Không cần vật liệu bổ sung; Năng lượng tiêu hao nhỏ; Không có rỗ; Không bị cong vênh và biến dạng nhiệt; Giảm chu trình làm việc đi 50 – 75% so với hàn thông thường; Không cần chuẩn bị mép phôi trước khi hàn và gia công sau hàn; - Hàn giáp mối các chi tiết dạng tấm (phẳng hoặc định hình profil) đến 25mm; - Chất lượng hàn cao, biến dạng nhiệt nhỏ; - Dễ cơ khí hóa, tự động hóa (dùng Robot); - Hàn được các hợp kim đặc biệt trong hàng không, vũ trụ. * Nhược điểm: - Có hố lõm cuối đường hàn; - Thiết bị đắt tiền; - Cần phải đỡ ở mặt đối diện.
Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 17 Hàn điểm ma sát ngoáy Một trong những biến thể của hàn ma sát ngoáy là hàn điểm bằng ma sát (hình 1. Đặc biệt nó được sử dụng để hàn nhôm thay cho hàn hồ quang và hàn điện tiếp xúc, khi có khó khăn về công nghệ do độ dẫn điện và nhiệt của nhôm cao. Khác với hàn điểm tiếp xúc, hàn ma sát không cần dùng dung dịch làm nguội hoặc khí nén, nên giảm đáng kể năng lượng tiêu thụ. Vốn đầu tư cho thiết bị hàn ma sát thấp hơn so với hàn điện tiếp xúc khoảng 40%.
Khi hàn ma sát không phải làm sạch sơ bộ các bề mặt làm việc, không bị bắn tóe kim loại nóng chảy. Hàn điểm ma sát ngoáy và cấu trúc mối hàn. Công nghệ hàn ma sát ngoáy Hàn ma sát ngoáy là một trong những công nghệ hàn mà vật liệu cơ bản không nóng chảy, tạo ra nhữ ộ bền cao, FSW có thể hàn được rất nhiều các loại vật liệu như: hợp kim nhôm, thép không rỉ, hợp kim đồng, niken, magie và hợp kim titan,. và các kim loại khác nhau.
FSW không cần kim loại bổ xung ền đầy, tạo ra mối hàn chịu lực cao, tăng giới hạn bền mỏi, giả dạng, không bị ật,. FSW là bướ ọng nhất về lĩnh vực hàn trong thập niên qua và là một công nghệ xanh do hiệu quả năng lượng và bảo vệ môi trường. So sánh với những công nghệ hàn trướ ụ lượng mộ ụ khí hàn, không có quá trình nóng chả ộc khi hàn, không phát sinh tia hồ quang và năng lượng bức xạ, … Mối hàn chịu lực cao, tăng giới hạn bền mỏi, bền kéo, ạng, giảm ứng suất dư, không bị ật,. Các kim loại vật liệu khác nhau hoàn toàn có thể liên kết hàn với nhau bằng FSW với một chế độ hàn hợp lý và đầu hàn chuyên dụng [3].
Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 18 1. Nguyên lý hàn ma sát ngoáy Hình 1. Nguyên lý hình thành mối hàn FSW Nguyên lý hình thành mối hàn FSW (hình 1.7): Dùng một dụng cụ xoay (đầu hàn) được thiết kế đặc biệt gồm: đầu ngoáy và vai tỳ. Trước tiên, đầu hàn vừa quay vừa đi xuống, phần đầu ngoáy xuyên vào phôi hàn (tương ứng với chiều sâu ngấu cần thiết), vai tỳ đầu hàn tỳ sát vào bề mặt phôi, sau đó di chuyển dọc theo hướng hàn để hình thành mối hàn.
Với nhiệt ma sát sinh ra làm vật liệu phôi hàn phía dưới vai tỳ chuyển sang trạng thái chảy dẻo, vùng vật liệu này được đầu ngoáy ngoáy trộn vào nhau. Sau khi nguội vị trí vật liệu chảy dẻo chuyển sang trạng thái rắn và hình thành đường hàn FSW. Do vật liệu không ở trạng thái nóng chảy rồi đông lại nên tính chất mối hàn sẽ tốt, cơ tính đảm bảo, loại trừ khuyết tật, rỗ [3]. Nhiệt ma sát được sinh giữa vai tỳ và đầu ngoáy của đầu hàn với các phôi hàn có tính chịu mài mòn cao.
Nhiệt này, giống như nhiệt từ quá trình hòa trộn cơ học và là đoạn nhiệt trong vật liệu, gây bởi vật liệu bị xoắn chuyển từ rắn sang mềm mà chưa đạt đến điểm chảy (quá trình trạng thái rắn). Quá trình hàn của vật liệu được dễ dàng nhờ biến dạng dẻo khốc liệt ở trạng thái rắn có xảy ra quá trình tái kết tinh động của vật liệu hàn. Học viên: Đỗ Thanh Tùng - CNH15B 19 1.