CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sản xuất lúa gạo và ảnh hưởng của bệnh đạo ôn đến sản xuất lúa của Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa gạo của Việt Nam Lúa gạo vừa là nguồn lương thực quan trọng, vừa là mặt hàng xuất khẩu chiến lược của Việt Nam. Xuất khẩu gạo có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam.
Những năm gần đây, ngành gạo đã có những bước phát triển vượt bậc và đạt được nhiều kết quả. Hàng năm, lượng gạo của Việt Nam xuất khẩu chiếm khoảng 15% tổng lượng gạo xuất khẩu toàn thế giới. Hạt gạo Việt đã có mặt trên 150 nước và vùng lãnh thổ. Thị trường xuất khẩu chính là châu Á, trong đó, Trung Quốc và Philippines là hai thị trường chính của xuất khẩu gạo.
Từ năm 2018 đến năm 2021 sản lượng lúa tăng mặc dù diện tích trồng lúa giảm (Hình 1. Tổng diện tích gieo trồng lúa cả năm 2021 đạt 7,24 triệu ha, tuy giảm khoảng 40 nghìn ha so với năm trước nhưng sản lượng lúa đạt 43,8 triệu tấn, tăng 1,1 triệu tấn [19]. Diện tích và sản lượng lúa qua các năm tại Việt Nam [19] Sản lượng lúa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ chế biến và xuất khẩu. Sản xuất lúa gạo tiếp tục xu 6 hướng tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa chất lượng cao để nâng cao giá trị “Thương hiệu hạt gạo Việt”, xuất khẩu gạo giảm về khối lượng nhưng tăng về giá trị.
Vụ đông xuân là vụ lúa cho tỷ trọng sản lượng lớn nhất trong năm, chiếm gần 47% sản lượng lúa sản xuất cả năm. Diện tích gieo trồng lúa đông xuân 2021 cả nước đạt 3.006,8 nghìn ha, bằng 99,4% vụ đông xuân năm trước do xu hướng đô thị hóa, chuyển dịch lao động và chuyển đổi cơ cấu sản xuất cây trồng. Sản lượng đạt 20.629,5 nghìn tấn, tăng 755,1 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm trước. Trong đó các tỉnh phía Bắc, sản lượng đạt 7.004,1 nghìn tấn, tăng 128,7 nghìn tấn [19].
Năng suất lúa đã và đang được cải thiện một cách đáng kể, năm 2017 năng suất bình quân cả nước 5,5 tấn/ha, đến năm 2022 năng suất bình quân đạt 6,0 tấn/ha, điều này có được là nhờ việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất một cách rộng rãi hơn. Sản xuất thâm canh cao giúp năng suất và sản lượng tăng tuy nhiên vẫn còn rất nhiều khó khăn để tạo được sản xuất lúa gạo bền vững trước những thách thức biến đổi khí hậu và sâu bệnh hại, đặc biệt là bệnh đạo ôn lúa thường xảy ra vào vụ đông xuân. Ảnh hưởng của bệnh đạo ôn đến sản xuất lúa của Việt Nam Một vài năm trở lại đây, trước những biến đổi bất lợi của điều kiện ngoại cảnh bệnh đạo ôn có nguy cơ bùng phát triển diện rộng và có thể phát triển thành dịch nếu không được phát hiện kịp thời. Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ thực vật, trong tuần 1 tháng 5/2021, diện tích lúa Đông Xuân bị nhiễm bệnh đạo ôn lá 9.213 ha so với kỳ trước, tăng 2.048 ha so với cùng kỳ năm trước), phòng trừ 8.622 ha, phân bố chủ yếu tại các tỉnh Kiên Giang, Long An, An Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, Bình Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng… Diện tích lúa nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông 2.107 ha (tăng 7 511 ha so với kỳ trước, giảm 416 ha với cùng kỳ năm trước) mất trắng 1,6 ha tại Hải Phòng, diện tích phòng trừ trong kỳ 80.564 ha, phân bố chủ yếu tại các tỉnh Kiên Giang, Tiền Giang, Cần Thơ, Điện Biên, Bắc Ninh, Hà Nội, Quảng Bình…[5].
Năm 2021, theo báo cáo của sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố Hà Nội, diện tích gieo cấy vụ Đông Xuân (85,1 nghìn ha) lớn nhất của vùng Đồng bằng sông Hồng, nhóm lúa thuần năng suất cao chiếm 32% diện tích gieo cấy là các giống BC15, Thiên Ưu 8, Khang Dân…. Theo báo cáo sơ kết công tác bảo vệ thực vật của chị cục trồng trọt và bảo vệ thực vật Hà Nội, diện tích lúa bị nhiễm đạo ôn lá 641,62 ha (nhiễm nặng 5 ha), đạo ôn cổ bông nhiễm 181,286 ha (nhiễm nặng 11,2 ha), các giống lúa nhiễm nặng BC15, TBR225, J02, Nếp 9603, phân bố ở các huyện Ứng Hòa, Thạch Thất, Chương Mỹ….[3] Năm 2021, Nghệ An có diện tích gieo cấy vụ Đông Xuân (91,7 nghìn ha) lớn thứ hai của vùng Bắc Trung bộ. Theo báo cáo sơ kết công tác bảo vệ thực vật vụ Xuân 2021 của chi cục trồng trọt và bảo vệ thực vật tỉnh Nghệ An, bệnh đạo ôn lá đã phát sinh gây hại trên diện rộng. Toàn tỉnh có trên 1.777,63 ha lúa nhiễm bệnh, trong đó có 134,4 ha nhiễm nặng và 11,03 ha mất trắng.
So với năm 2020 diện tích nhiễm giảm 567,4 ha, diện tích nhiễm nặng giảm 129,6 ha và mất trắng giảm 13,57 ha. Bệnh đạo ôn cổ bông đã phát sinh gây hại cục bộ song một số diện tích có mức độ gây hại khá cao. Toàn tỉnh đã có trên 494,1 ha lúa nhiễm bệnh, trong đó có 45,9 ha nhiễm nặng. So với năm 2020 diện tích nhiễm tăng 223,9 ha, nhiễm nặng tăng 2,15 ha.
Các địa phương có diện tích nhiễm lớn gồm: Yên Thành, TP.Vinh, Hưng Nguyên, Tân Kỳ, Nghi Lộc, Đô Lương,.Các giống nhiễm nặng BC15, TBR225, AC5…[4] 8 Hàng năm, diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông tăng lên nhanh chóng và mức độ tăng dần. Giống lúa BC15 bị nhiễm nhiều ở vụ Đông Xuân. Nhiều giải pháp đã được áp dụng có hiệu quả trong hạn chế sự gây hại của bệnh đạo ôn tuy nhiên việc sử dụng giống kháng bệnh đạo ôn bền vững vẫn là giải pháp hiệu quả nhất. Do vậy việc nghiên cứu ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống kháng bệnh đạo ôn trên nền giống lúa BC15 là rất cần thiết.
Chỉ thị di truyền và ứng dụng chỉ thị di truyền trong chọn tạo giống cây trồng 1. Chỉ thị di truyền Chỉ thị di truyền là những đặc tính sinh học được xác định bằng dạng hình alen hoặc locut gen và có thể được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, do đó chúng có thể được sử dụng như thiết bị dò hoặc gắn theo để theo dõi cá thể, mô, tế bào, nhân, nhiễm sắc thể hoặc gen [55] ,[75]. Chỉ thị ADN được phát triển thành nhiều hệ thống dựa trên phương pháp và các kỹ thuật phát hiện đa hình khác nhau như chỉ thị RFLP, AFLP, RAPD, SSR, SNP. Mục tiêu của các chương trình nghiên cứu và chọn giống là tìm kiếm mối tương quan của chỉ thị với tính trạng mong muốn, hay có thể hiểu là mức độ liên kết của chỉ thị và các gen/QTL kiểm soát tính trạng cụ thể.
Nhờ vậy, nhà chọn giống có thể chọn lọc tính trạng quan tâm nhờ vào việc chọn lọc gián tiếp sử dụng chỉ thị. Khi chỉ thị được xác định liên kết với tính trạng, chỉ thị đó cho biết sự có mặt hay vắng mặt của gen hoặc QTL quan tâm và không ảnh hưởng đến kiểu hình tính trạng. Do vậy ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn giống có thể hiểu đơn giản là sử dụng các kỹ thuật ở các cấp độ phân tử ADN, kết hợp với bản đồ liên kết và hệ gen nhằm mục đích thay đổi hoặc cải tiến các tính trạng mong muốn ở cây trồng. Một số phương pháp ứng dụng chỉ thị di truyền trong chọn tạo giống cây trồng 1.
Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử (MAS) Trước khi triển khai chương trình chọn giống nhờ chỉ thị phân tử cần đáp ứng một số yêu cầu sau: (a) Bản đồ di truyền với một số lượng hợp lý các chỉ thị đa hình tại các vùng tương đồng để định vị chính xác các gen hoặc QTL quan tâm; (b) Mối liên kết chặt giữa chỉ thị và gen/QTL nghiên cứu; (c) Sự tái tổ hợp phù hợp giữa các chỉ thị và phần còn lại của bộ gen; (d) Khả năng đánh giá một số lượng lớn cá thể trong một không gian, thời gian và mức chi phí hợp lý [37]. Hai dạng chỉ thị mang lại những ứng dụng hiệu quả cho MAS gồm có: (1) loại chỉ thị được định vị ngay trên phạm vi gen/QTL quan tâm tại vị trí 0 cM, đây là trường hợp lý tưởng nhất cho MAS, nhưng rất khó tìm kiếm loại chỉ thị này; (2) nhóm chỉ thị có khuynh hướng di truyền cùng với gen/QTL quan tâm. Mối liên kết chỉ thị - gen được nhận biết khi gen và chỉ thị có khoảng cách vật lý gần nhau. Chọn lọc dựa trên loại chỉ thị này gọi là dựa trên liên kết không cân bằng (LD).
Một số khía cạnh các nhà chọn giống cần quan tâm trước khi thực hiện chương trình chọn giống là: Giảm thiểu liên kết kéo theo bằng việc sử dụng các chỉ thị cận biên (flanking marker) liên kết chặt với gen mục tiêu; giảm thiểu kích thước quần thể, có nghĩa cần ít nhất một cá thể tái tổ hợp giữa gen mục tiêu và chỉ thị cận biên trong khoảng cách < 5cM; số lượng gen chuyển, khoảng cách chỉ thị QTL và chỉ thị cận biên sử dụng; tần số các kiểu gen mong muốn; đánh giá kiểu gen và hiệu quả chọn lọc tính trạng quan tâm [45]. Như vậy, phương pháp MAS bước đầu tiên là xác định chỉ thị phân tử liên kết gen/locus gen quy định tính trạng mong muốn (lập bản đồ QTLs/gen). Bước 2 là sử dụng chỉ thị phân tử liên kết QTLs/gen sàng lọc 10 các cá thể mang gen/locus gen đích trong các quần thể phân ly trong chọn tạo giống (Hình 1. Phương pháp MAS mang lại nhiều thuận lợi như: đơn giản hơn nhiều so với phương pháp chọn giống truyền thống, đặc biệt đối với tính trạng khó, có thể tiết kiệm thời gian và kinh phí.
Chọn lọc cá thể mang gen tại giai đoạn cây con và các kiểu gen cây trồng không mong muốn có thể nhanh chóng bị loại bỏ [59], có độ chính xác cao, không ảnh hưởng bởi tác nhân môi trường, có thể phân biệt được cá thể đồng hợp tử, dị hợp tử và chọn lọc chính xác cá thể. Phương pháp chọn tạo giống bằng chỉ thị phân tử 1. Chọn giống nhờ chỉ thị phân tử kết hợp lai trở lại (MABC) Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học, các nhà khoa học đã ứng dụng nhiều phương pháp mới để hỗ trợ cho chọn tạo giống truyền thống (đột biến phân tử, chỉ thị phân tử, công nghệ chuyển gen.