CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIỚI THIỆU VỀ CÂY ÓC CHÓ 1. Nguồn gốc và phạm vi phân bố của cây Óc chó Cây óc chó có tên khoa học là Juglans regia, tên tiếng anh là Walnut, tên Latinh là Gallica. Đây là một loài cây có giá trị cao về chất lượng gỗ và hạt.
Bộ : Fagales (Bộ Cử ) Họ : Juglandaceae (Họ Óc chó, Họ Hồ Đào ) Chi : Juglans ( Óc chó hay Hồ đào, Hạch đào) Loài : J.regia Cây óc chó thuộc chi Juglans, là loài phân bố lớn nhất và rộng rãi nhất trong tám chi thuộc họ Juglandaceae. Chi Juglans bao gồm khoảng 21 loài phân bố ở châu Á, Nam Âu, Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Tây Nam Mỹ và Tây Ấn (Manning, 1978[2]; Stanford và cộng sự, 2000 [3]). Loài Juglans có dạng lưỡng bội, với dạng karyotype 2n = 2x = 32 (Woodworth,1930[4]; Komanich, I. Óc chó là một trong những loài sản xuất hạt được trồng lâu đời nhất trong lịch sử loài người và được trồng ở hầu hết các phần ôn đới của bán cầu bắc.
Có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về nguồn gốc của cây Óc chó, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng óc chó có nguồn gốc từ Hy Lạp và bán đảo Balkan (Polunin, 1977 [6]). Vào thế kỷ thứ IV trước công nguyên, Óc chó có nguồn gốc từ Iran và vùng Trung Á đã được gây trồng tại Nam Tư và Hy Lạp. Những giống đầu tiên này đã được lai tạo thành các giống tốt hơn và kể từ đó nó được gây trồng rộng rãi trên khắp châu Âu và Bắc Phi. Sau đó vào thời kỳ Trung cổ những giống này lại được mang về trồng tại Thổ Nhĩ Kỳ.
Một số nguồn gen óc chó được cho là du nhập và gây trồng tại Trung Quốc cách đây 2000 năm và hiện nay tại một số vùng nó được xem như là phân bố tự nhiên tại đây. Bên cạnh đó Óc chó được cho là du nhập và gây trồng tại châu Mỹ vào thế kỷ 17. Những nước gây trồng phổ biến Óc chó hiện nay bao gồm Pháp, 7 Serbia, Hy lạp, Rumani, Hungari, Trung Quốc, Mỹ, Chi Lê, New Zealand và miền Đông Nam châu Úc. Như vậy, hiện nay Óc chó đã được gây trồng từ 30° - 50° vùng Bắc bán cầu và 30° - 40° vùng Nam bán cầu bao gồm rất nhiều giống khác nhau cho hạt to và vỏ hạt mỏng, chịu được các điều kiện khắc nghiệt, thích nghi với điều kiện tự nhiên, đất đai thổ nhưỡng tại các khu vực gây trồng.
Cây Óc chó có hai loài phổ biến nhất chi đó là óc chó Ba Tư (Juglans regia) và óc chó Đen (Juglans nigra). Óc chó Ba Tư hay còn gọi là óc chó Anh Quốc là loài nổi tiếng và được biết đến nhiều. Loài này có nguồn gốc từ vùng Balkan ở Đông Nam Châu Âu, Tây Nam và Trung Á đến dãy Himalaya và Tây Nam Trung Quốc và được mở rộng sang Hoa Kỳ bởi những người định cư Anh. Ngoài ra, Óc chó Anh Quốc cũng được tìm thấy rải rác ở khắp Châu Âu và Châu Á, chúng được trồng rộng rãi để sản xuất các loại hạt có chất lượng tốt.
Óc chó Đen là một loài phổ biến ở miền đông Bắc Mỹ và cũng được trồng rộng rãi ở một số nơi khác. Cả hai đều là cây rụng lá (lá rụng khi ngủ đông) và sống hơn một thế kỷ và được trồng trên toàn thế giới để lấy hạt và gỗ chất lượng cao, được sử dụng rộng rãi trong nội thất, nội thất xe hơi, cửa ra vào và ngành công nghiệp súng. Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng quả óc chó Anh được trồng nhiều hơn cho các loại hạt và cho gỗ ít hơn. Mặc dù hạt óc chó Đen có thể ăn được, nhưng hạt nhân nhỏ và vỏ cứng vì thế chúng không được trồng để sản xuất hạt.
Vì vậy, trồng cây Óc chó đen để lấy gỗ rất phổ biến ở Mỹ và các nước khác và được coi là một lựa chọn đầu tư sẽ mang lại lợi nhuận lớn trong dài hạn (hai hoặc ba thập kỷ sau khi trồng cây). Óc chó Đen cho gỗ tốt màu tối và cứng nên loài này được đánh giá cao về khả năng đem lại giá trị kinh tế. Óc chó Anh và óc chó Đen đều đem lại giá trị thương mại; óc chó Anh cho gỗ và các loại hạt, óc chó Đen cho gỗ. Óc chó đen có thể đạt chiều cao 100-120 feet (30-37 mét), trong khi Óc chó Anh trung bình đạt chiều cao 80 feet (25 mét) khi trưởng thành.
Cây Óc chó đen và Óc chó Anh đều sản sinh các hóa chất độc hại cho nhiều loại cây (cà chua, khoai tây, cỏ linh lăng, quả việt quất, táo và nhiều loại khác). 8 Mặc dù cây Óc chó (Carya tongkinensis) không có nguồn gốc từ Việt Nam nhưng theo ông Vũ Văn Dũng, một chuyên gia trong thụ mọc học, chúng có thể được tái sinh tự nhiên tại các khu vực miền núi phía Bắc của Việt Nam như Cao Bằng, Sa Pa (Lào Cai) và Hà Giang. Điều này được cho thấy quả óc chó tại Việt Nam là thuộc giống tương tự như óc chó Anh phát triển trong khu vực Himalaya và Tây Nam của Trung Quốc. Đặc điểm thực vật học và thành phần hóa học trong hạt của cây óc chó Cây Óc chó thuộc dạng cây lớn, cây trưởng thành có thể đạt độ cao 25–35m, bán kính thân cây có thể lên đến 2m, thân cây mập, ngắn nhưng tán cây thì rất rộng để giành được lợi thế cạnh tranh về ánh sáng trong các khu rừng.
Cây trưởng thành đặc trưng có thân dài, thường không có nhánh thấp. Vỏ cây óc chó có màu nâu xanh và mịn khi cây còn non, trở nên xám và xuất hiện vết nứt khi cây già đi. Cây óc chó có rễ to và sâu tạo ra chất gọi là juglones ngăn chặn sự phát triển của các cây khác ở gần. Tùy thuộc vào vĩ độ, hoa óc chó thường bắt đầu xuất hiện vào khoảng giữa tháng 4 cho đến đầu tháng 6.
Sự ra hoa và ra lá xảy ra gần như cùng lúc và luôn đủ sớm để tránh thiệt hại bởi sương giá cuối mùa xuân. Lá óc chó to hình lông chim dài tới 40cm, kép lông sẻ, thường có từ 7 đến 9 lá chét, không cuống, hình trứng thuôn hoặc tròn dẹt một phía, khi vò ra có mùi hăng đặc biệt. Hoa đơn tính, màu lục nhạt, hoa đực xếp thành đuôi sóc thõng xuống, hoa cái xếp 2 đến 5 cái ở cuối các nhánh. Hoa đực phát triển từ các chồi không lá từ năm trước, chúng có chiều dài khoảng 10 cm (3,9 inch) và có nhiều hoa nhỏ.
Hoa cái xuất hiện trong một cụm ở đỉnh của các chồi lá vào năm sau. Quả chín ăn được vào tháng 9 hoặc tháng 10 cùng năm và giảm ngay sau khi lá rụng. Quả của cây óc chó có hình tròn, khi chín sẽ tự động khô lại và nứt ra để lộ hạt bên trong, mỗi quả óc chó chỉ cho 1 hạt duy nhất. Quả hạch to có vỏ ngoài màu lục và nạc, dễ hoá đen khi chà xát, vỏ quả bên trong hay vỏ của hạch rất cứng, có 2 van bao lấy hạt với 2 lá mầm to, chia thuỳ và nhăn nheo như nếp của óc động vật.
9 Tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau như vị trí địa lý, nhiệt độ, thời gian và các yếu tố khác, mỗi cây Óc chó có thành phần hóa học khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Ngày nay, các bộ phận khác nhau của cây Óc chó như lá, vỏ cây và trái cây đều được sử dụng trên thế giới. Các nhà nghiên cứu cho rằng các hợp chất hóa học được tìm thấy trong quả óc chó là khác nhau ở các vùng khí hậu khác nhau. Các hợp chất hóa học của các phần khác nhau của quả óc chó được thể hiện trong Bảng 1.1: Các hợp chất của cây Óc chó Anh (Juglans regia) Bộ phận Hợp chất Lá Phenolic acids, tannins, esential faty acids, ascorbic acid, flavonoids, caffeic acid, paracomaric acid, juglone.
Vỏ xanh của quả Emulsion, glucose, organic materials such as citric acid, malic acid, phosphate và calcium oxalate. Quả Óc chó Fatty acids, tocopherols, phytosterols, total phenolic (tannin). Zahoo báo cáo rằng 17 hợp chất đã được xác định trong lá óc chó; 9 trong số đó là epicatechin, syringetin-o-hexoside, myricetin-3-o-glucoside, myricetin-3-o-pantocid, aesculetin, taxifolin-pantocid, quercetin glucuronide, kaempferol loại cây này có chứa axit phenolic, tannin, axit béo thiết yếu (axit linoleic là axit béo chính), axit ascobic, flavonoid, axit caffeic và axit paracomaric. Các flavonoid quan trọng nhất trong lá óc chó bao gồm các dẫn xuất quercetin galactoside và quercetin pantocid, quercetin arabinoside, quercetin xyloside và quercetin rhamnoside.
Ngoài ra, Shah và các cộng sự cũng sàng lọc phytochemical của chiết xuất lá thô có sự hiện diện của carbohydrate, glycoside tim, phenolics, flavonoid, alkaloids, protein, steroid và tannin. Amaral và cộng sự đã nghiên cứu có các hợp chất phenolic bao gồm axit 3- và 5-caffeoylquinic, axit 3- và 5-p- 10 coumaroylquinic, quercetin 3-galactoside, dẫn xuất quercetin 3-pantocide, quercetin 3-arabinoside, quercetin-quercetin và quercetin 3-rhamonocide trong lá óc chó. Quercetin 3-galactoside là thành phần chính trong số các hợp chất được đề cập. Ngoài ra, đã có nghiên cứu cho rằng lá của cây Óc chó có chứa dẫn xuất naphthalene, đặc biệt là 5- hydroxy-1-4- naphthoquinone.
Juglone (5-hydroxy-1, 4-naphthoquinone) là một hợp chất naphthoquinone được tìm thấy trong lá tươi và vỏ xanh của quả óc chó. Juglone là thành phần rõ ràng nhất trong các cơ quan khác nhau của cây Óc chó, với trọng lượng phân tử là 174,16 và công thức C10 H5 O2 -(OH), tiền chất là một glycoside được tìm thấy như một hợp chất trong các bộ phận trên không của cây, đặc biệt là lá, sau đó được chuyển thành juglone thông qua quá trình thủy phân. Juglone là một chất kiềm được hòa tan nhẹ trong nước nóng và vừa phải trong rượu; do đó, nó có thể là một trong những hợp chất hiệu quả trong lá óc chó vì các chất khác trong lá của quả óc chó thường tan trong nước hoặc tan trong chất béo. Vỏ xanh của quả óc chó có nhũ tương, glucose và các vật liệu hữu cơ như axit citric, axit malic, phốt phát và canxi oxalate.
Hợp chất Juglone và phenolic là những hợp chất quan trọng nhất được tìm thấy trong lá và vỏ xanh của quả óc chó. Juglone, là một hợp chất độc hại, chỉ được tìm thấy trong quả óc chó tươi và xanh. Vỏ xanh quả óc chó có sản phẩm phụ với ít công dụng. Quả óc chó có chứa các thành phần hóa học đa dạng, bao gồm diarylheptanoids, quinones, polyphenol, flavon và terpenes.
Các diarylheptanoids và quinones có hoạt tính chống ung thư đáng chú ý, cung cấp các hợp chất chì mới để điều chế các thuốc chống ung thư.