MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Những năm gần đây, nhờ sự phát triển nhanh chóng về khoa học công nghệ, nhiều công nghệ mới đã đƣợc phát triển và ứng dụng vào ngàng xây dựng trên thế giới. Những công nghệ mới này, ở các mức độ khác nhau, đã giúp tăng năng suất lao động, tính hiệu quả công việc, giảm lãng phí trong xây dựng. Trong số đó, mô hình thông tin công trình (Building Information Modeling, viết tắt là BIM) đƣợc ngành xây dựng của nhiều quốc gia và các học giả hàng đầu đánh giá đang và sẽ là công ghệ chủ đạo trong nhiều thập niên sắp tới. BIM là quá trình tạo lập và sử dụng mô hình thông tin trong các khâu thiết kế, xây dựng, vận hành và bảo trì của công trình.
BIM không bó hẹp theo cách hiểu đơn thuần là tạo ra bản vẽ phối cảnh ba chiều của công trình sau khi thiết kế xong. Thực tế với vai trò là một cơ sở dữ liệu bao tr m toàn vòng đời của công trình BIM chứa các mối liên hệ logic về mặt không gian, kích thƣớc, số lƣợng, vật liệu các bộ phận của công trình. Cùng với khả năng kết hợp thông tin các bộ phận công trình với thông tin về định mức, đơn giá, tiến độ thi công, chi phí vận hành bảo trì. Khả năng hợp nhất thông tin từ tất cả các công đoạn làm BIM ngày càng trở thành xu hƣớng tất yếu của ngành xây dựng để tối ƣu hoá thiết kế, thi công, vận hành bảo trì công trình.
Qua thực tiễn nhiều năm áp dụng ở nhiều quốc gia, BIM đã đƣợc xem nhƣ là một công cụ hiệu quả trong việc quản lý và chia sẻ thông tin giữa chủ đầu tƣ, kiến trúc sƣ, kỹ sƣ tƣ vấn, nhà cung ứng và nhà thầu xây lắp. Sử dụng BIM để quản lý chia sẻ thông tin công trình giúp tăng cƣờng sự cộng tác, phối hợp giữa các thành viên của dự án, giúp đƣa các phƣơng án thiết kế và biện pháp thi công tối ƣu và ph hợp với yêu cầu của chủ đầu tƣ ngay trong giai đoạn thiết kế. Tại Việt Nam, hiện nay BIM chủ yếu đƣợc triển khai ứng dụng cho các công trình kiến trúc, dân dụng và các công trình hạ tầng kỹ thuật; trong lĩnh vực thuỷ lợi chƣa đƣợc phổ biến. Dù nhiều chủ đầu tƣ nhận thức đƣợc hiệu quả của việc áp dụng BIM, đặc biệt là việc tiết kiệm chi phí trong thi công và trong vận hành nhƣng do một số rào cản 1 nhƣ chi phí đào tạo và chi phí đầu tƣ ban đầu cho BIM khá cao dẫn đến việc ứng dựng công nghệ BIM còn hạn chế.
Các lợi ích điển hình của công nghệ BIM có thể kể đến nhƣ: Nhanh chóng đƣa ra nhiều phƣơng án thiết kế để phân tích lựa chọn phƣơng án tối ƣu. Phát hiện ra các sai sót thiết kế và các bất cập của biện pháp thi công để có giải pháp trƣớc khi tiến hành thi công ngoài công trƣờng. Khả năng cung cấp dữ liệu nhanh chóng để kiểm tra khối lƣợng dự toán, giúp tự động hoá các công việc đo bóc khối lƣợng dự toán; Xây dựng kế hoạch bảo trì công trình và tính toán chi phí vòng đời công trình phục vụ đánh giá hiệu quả đầu tƣ của dự án; Giúp xây dựng mô hình và bản vẽ hoàn công một cách chính xác; Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài này nh m đáp ứng nhu cầu thực tế, giúp tìm hƣớng giải quyết đƣợc các vấn đề lãng phí, năng suất thấp và thiếu hiệu quả đang tồn tại phổ biến trong lĩnh vực thiết kế, xây dựng và quản lý công trình.Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu ứng dụng BIM trong lập quy hoạch và thiết kế xây dựng các công trình chuyển nƣớc khu vực Bắc Trung Bộ.Cách tiếp cận và phƣơng pháp nghiên cứu 3.Cách tiếp cận Tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết: Tiếp cận các kết quả đã nghiên cứu, các số liệu điều tra, khảo sát công tác áp dụng BIM đối với các dự án xây dựng và cụ thể là các dự án lập quy hoạch, cụ thể là quy hoạch các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là các dự án quy hoạch chuyển nƣớc ở khu vực Bắc Trung Bộ; Tiếp cận các văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn về công tác quản lý chất lƣợng, quản lý tiến độ, quản lý chi phí,.; 2 Tiếp cận các nghiên cứu về công tác QLDA xây dựng nói chung và công trình hạ tầng kỹ thuật nói riêng cũng nhƣ thực trạng về công tác quản lý dự án tại Viện Quy hoạch thủy lợi. Phương pháp nghiên cứu Phƣơng pháp điều tra, thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu về thực trạng tổ chức thực hiện công tác lập quy hoạch các công trình chuyển nƣớc thuộc khu vực Bắc Trung Bộ; Phƣơng pháp kế thừa nghiên cứu và tài liệu đã công bố: Kế thừa các kết quả nghiên cứu, báo cáo về quy hoạch công trình hạ tầng kỹ thuật, thủy lợi đã đƣợc nghiên cứu và công bố; Phƣơng pháp so sánh đối chiếu ƣu nhƣợc điểm của công tác lập quy hoạch công trình chuyển nƣớc truyền thống và công tác lập quy hoạch công trình hạ tầng kỹ thuật áp dụng BIM dựa trên các hƣớng dẫn đã công bố; Phƣơng pháp tham khảo ý kiến chuyên gia: Trao đổi với thầy giáo hƣớng dẫn và các chuyên gia có kinh nghiệm trong ngành, các cấp lãnh đạo, cán bộ tham gia lập quy hoạch công trình chuyển nƣớc và ứng dụng BIM vào dự án quy hoạch công trình chuyển nƣớc hoặc hạ tầng kỹ thuật nh m đánh giá và đƣa ra giải pháp phù hợp nhất.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.Đối tượng nghiên cứu Mô hình thông tin công trình (BIM) trong xây dựng; Công tác lập quy hoạch và thiết kế các công trình thủy lợi.Phạm vi nghiêncứu Tập trung nghiên cứu việc áp dụng BIM trong lập quy hoạch thuỷ lợi; Sử dụng các công cụ Infraworks, Civil 3D, 3DS Max để lập quy hoạch và thiết kế các công trình chuyển nƣớc lƣu vực khu vực Bắc Trung bộ.Kết quả dự kiến đạt đƣợc - Đánh giá thực trạng công tác lập thiết kế quy hoạch công trình thủy lợi hiện nay; - Cơ sở khoa học về ứng dụng BIM trong lập quy hoạch và thiết kế công trình thủy lợi; - Mô hình 3D trình diễn tuyến đƣờng ống chuyển nƣớc b ng phần mềm Infraworks; - Hồ sơ thiết kế chi tiết tuyến đƣờng ống chuyển nƣớc khu vực Bắc Trung Bộ.
4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH THÔNG TIN (BIM) TRONG LẬP THIẾT KẾ QUY HOẠCH XÂY DỰNG 1.Giới thiệu về mô hình thông tin công trình (BIM) 1.Khái niệm BIM Những năm đầu của thập kỷ 70, một công nghệ mới với thuật ngữ là Building Information Modeling (Mô hình thông tin công trình - BIM) đã xuất hiện trong ngành công nghiệp xây dựng, đó là công nghệ sử dụng mô hình công trình ba chiều (3D) để mô tả, phân tích và truyền đạt thông tin của công trình xây dựng. Hiện nay có nhiều định nghĩa về BIM khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên một cách chung nhất có thể hiểu BIM là tiến trình tạo dựng và sử dụng mô hình kỹ thuật số cho công việc thiết kế, thi công và cả quá trình quản lý vận hành, bảo trì công trình [1]. Nhƣ vậy, BIM không đơn thuần là phần mềm, mà BIM là quá trình chứa các mối liên hệ logic về mặt không gian, kích thƣớc, số lƣợng, vật liệu và các bộ phận công trình.
Nó giúp tích hợp thông tin vật lý về các bộ phận công trình với các thông tin khác (vật liệu, tiến độ thi công, giá thành, .) nh m tối ƣu hóa thiết kế, thi công, quản lý vận hành và bảo trì công trình. BIM cũng không bó hẹp theo cách hiểu đơn thuần là chỉ nh m tạo ra bản phối cảnh 3D của công trình mà BIM còn là nguồn lƣu trữ và cung cấp thông tin để làm cơ sở vững chắc cho việc ra quyết định trong suốt vòng đời của công trình xây dựng đó, từ giai đoạn thiết kế, thi công đến quản lý vận hành do khả năng kết hợp thông tin các bộ phận công trình với các thông tin về định mức, đơn giá, tiến độ thi công, chi phí vận hành, bảo trì [1]. Tiến trình áp dụng BIM cho dự án đầu tƣ xây dựng đƣợc thể hiện nhƣ trong Hình 1. Thông tin (Information) gồm 2 loại: Thông tin hình học: các kích thƣớc dài, rộng, cao, vị trí của cấu kiện trong công trình nhƣ cột dầm sàn ống nƣớc, bồn tắm, bóng đèn, bàn ghế tủ,….
Thông tin phi hình học (data): thông tin phụ về các cấu kiện nhƣ hãng sảng xuất, thời gian bảo trì bảo dƣỡng, giá thành, nhà cung cấp,…. 5 Do đó, BIM là một mô hình 3D duy nhất chứa thông tin công trình, d ng để khai thác chung giữa các bộ phận, các bên liên quan từ giai đoạn thiết kế ý tƣởng đến giai đoạn thi công và vận hành công trình. Nhƣ vậy, BIM không chỉ là nguồn lƣu trữ và cung cấp thông tin công trình từ giai đoạn thiết kế, thi công đến quản lý vận hành mà còn là quá trình tạo ra và sử dụng nguồn thông tin để tạo nên một mô hình thực tại ảo của công trình, nh m mục đích tối ƣu hóa thiết kế, thi công, vận hành quản lý công trình. Trong các giai đoạn từ thiết kế, thi công cho đến vận hành và bao trì công trình, thông tin luôn đƣợc trao đổi giữa các bên liên quan và đƣợc cập nhật vào một cơ sở chung duy nhất đƣợc sử dụng xuyên suốt.
Điều tiến bộ của BIM so với các công nghệ cũ là thay vì sử dụng mô hình 2D, BIM sử dụng công nghệ 3D (chiều dài, rộng, cao). Từ phối cảnh 3D công trình và các yếu tố khác tích hợp thêm tạo ra các phiên bản BIM 4D, BIM 5D, BIM 6D và BIM 7D, trong đó: BIM 4D là Mô hình 3D của công trình đƣợc tích hợp thêm các yếu tố về thời gian - tiến độ. BIM 4D cho phép ngƣời sử dụng lập tiến độ, kế hoạch thi công và kế hoạch cung ứng các nguồn lực cho việc thi công công trình; BIM 5D là mô hình BIM 4D tích hợp thêm các yếu tố về hao phí chi phí. BIM 4D đƣợc sử dụng để lập dự toán, kiểm soát chi phí và xây dựng kế hoạch vốn cho công trình; BIM 6D là bƣớc phát triển tiếp theo của BIM 5D có tích hợp thêm các thông số về năng lƣợng trao đổi trong và ngoài công trình.