Mở đầu Tính đa dụng của mạng Internet ngày càng đƣợc khẳng định. Internet đã có mặt và tham gia trực tiếp vào hầu hết các mặt của đời sống xã hội. Trên cơ sở của Internet đã hình thành một nền thƣơng mại mới trên Internet mà ngƣời ta gọi nó là thƣơng mại điện tử. Thƣơng mại điện tử (TMĐT) tạo ra những hình thái mới trong lĩnh vực dịch vụ thƣơng mại; làm thay đổi nhiều tập quán kinh doanh cổ truyền… 1.
Khái quát về thƣơng mại điện tử 1. Thƣơng mại điện tử là gì? Lịch sử phát triển của TMĐT 1. Thƣơng mại điện tử là gì? Thƣơng mại điện tử (Electronic Commerce) là hình thái hoạt động thƣơng mại bằng các phƣơng pháp điện tử; là việc trao đổi thông tin thƣơng mại thông qua các phƣơng tiện công nghệ điện tử mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong bất cứ công đoạn nào của quá trình giao dịch. Các phƣơng tiện điện tử đƣợc sử dụng trong thƣơng mại điện tử là (1) máy điện thoại; (2) máy FAX; (3) truyền hình; (4) các hệ thống thiết bị công nghệ thanh toán điện tử (bao gồm cả mạng giá trị gia tăng); (5) các mạng nội bộ (intranet) và mạng ngoại bộ (extranet); (6) mạng toàn cầu Internet.
Công cụ Internet/Web ngày càng phổ biến, giao dịch thƣơng mại điện tử với nƣớc ngoài hầu nhƣ qua Internet, các mạng nội bộ và ngoại bộ nay cũng sử dụng công nghệ Internet. Các hình thức hoạt động chủ yếu của giao dịch thƣơng mại điện tử là: (1) thƣ điện tử (email), (2) thanh toán điện tử (electronic payment), (3) trao đổi dữ liệu điện tử (electronic data interchange: EDI), (4) giao gửi số hoá các dung liệu (digital delivery of content), tức việc mua bán, trao đổi các sản phẩm mà ngƣời ta cần có nội dung (chính nội dung là hàng hoá), mà không cần tới vật -3- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang hàng hoá (nhƣ: Phim ảnh, âm nhạc, các chƣơng trình truyền hình, phần mềm máy tính…); (5) bán lẻ hàng hoá hữu hình(retail of tangible goods). Trong các hình thức trên, trao đổi dữ liệu điện tử (dƣới dạng các dữ liệu có cấu trúc) là hình thức chủ yếu. Thƣơng mại điện tử bao gồm bốn loại giao tiếp: (1) ngƣời với ngƣời(qua điện thoại, thƣ điện tử, FAX); (2) ngƣời với máy tính điện tử (qua các mẫu biểu điện tử, qua Web); (3) máy tính điện tử với ngƣời (qua FAX, thƣ điện tử), và;(4) máy tính điện tử với máy tính điện tử (qua trao đổi dữ liệu có cấu trúc, thẻ thông minh, mã vạch).
Trong thƣơng mại điện tử, các bên tham gia, các hình thức hoạt động, các phƣơng tiện kỹ thuật điện tử, và các hình thái giao tiếp kết hợp thành một thể hữu cơ, đồng bộ, mang tính liên thông, liên tác. Lịch sử phát triển của thƣơng mại điện tử Từ khi Tim Berners Lee phát minh ra WWW vào năm 1990, các tổ chức, cá nhân đã tích cực khai thác và phát triển thêm về WWW, trong đó có các doanh nghiệp Mỹ. Các doanh nghiệp nhận thấy WWW giúp họ rất nhiều trong việc trƣng bày, cung cấp, chia sẻ thông tin, liên lạc với các đối tác …một cách nhanh chóng tiện lợi và kinh tế. Từ đó, doanh nghiệp, cá nhân trên toàn cầu đã tích cực khai thác thế mạnh của internet, WWW để phục vụ việc kinh doanh hình thành nên khái niệm thƣơng mại điện tử.
Các khái niệm B2B, B2C, P2P Đôi khi bạn thấy ở đâu đó từ B2B, B2C, P2P v. và có thể bạn chƣa hiểu ý nghĩa của chúng. Trong Thƣơng mại điện tử ngƣời ta phân chia các khái niệm B2B, B2C, P2P. dựa trên việc phân loại những đối tƣợng tƣơng tác mua và bán, cụ thể là: - B2B (Business – to – Business): việc kinh doanh Thƣơng mại điện tử giữa hai nhóm đối tƣợng trong đó ngƣời mua và ngƣời bán đều là doanh nghiệp.
Ví -4- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụ nhƣ website www.net là nơi mà ngƣời mua và ngƣời bán đều là doanh nghiệp. - B2C (Business – to – Customer): việc kinh doanh Thƣơng mại điện tử giữa hai nhóm đối tƣợng trong đó ngƣời bán là doanh nghiệp và ngƣời mua là cá nhân. Ví dụ nhƣ website siêu thị điện tử (bán lẻ) nhƣ www.com là nơi mà ngƣời mua là cá nhân và ngƣời bán doanh nghiệp. - P2P (Peer – to – Peer): việc kinh doanh Thƣơng mại điện tử giữa hai nhóm đối tƣợng trong đó ngƣời bán và ngƣời mua đều là cá nhân.
Ví dụ nhƣ website siêu thị điện tử (bán lẻ) nhƣ www.com là nơi mà ngƣời mua là cá nhân và ngƣời bán doanh nghiệp. Các cấp độ phát triển của thƣơng mại điện tử Thƣơng mại điện tử phân chia thành nhiều cấp độ phát triển. Xin giới thiệu 2 cách phân chia sau: * Cách phân chia thứ nhất: 6 cấp độ phát triển Thương mại điện tử Cấp độ 1 - Hiện diện trên mạng: doanh nghiệp có website trên mạng. Ở mức độ này, website rất đơn giản, chỉ là cung cấp một thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm mà không có các chức năng phức tạp khác.
Cấp độ 2 - Có website chuyên nghiệp: website của doanh nghiệp có cấu trúc phức tạp hơn, có nhiều chức năng tƣơng tác với ngƣời xem, hỗ trợ ngƣời xem, ngƣời xem có thể liên lạc với doanh nghiệp một cách thuận tiện. Cấp độ 3 - Chuẩn bị Thƣơng mại điện tử: doanh nghiệp bắt đầu triển khai bán hàng hay dịch vụ qua mạng. Tuy nhiên, doanh nghiệp chƣa có hệ thống cơ sở dữ liệu nội bộ để phục vụ các giao dịch trên mạng. Các giao dịch còn chậm và không an toàn.
Cấp độ 4 - Áp dụng Thƣơng mại điện tử: website của DN liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của DN, mọi hoạt động truyền dữ liệu đƣợc tự -5- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động hóa, hạn chế sự can thiệp của con ngƣời và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả. Cấp độ 5 - Thƣơng mại điện tử không dây: doanh nghiệp áp dụng Thƣơng mại điện tử trên các thiết bị không dây nhƣ điện thoại di động, Palm (máy tính bỏ túi) v.v… sử dụng giao thức truyền không dây WAP (Wireless Application Protocal). Cấp độ 6 - Cả thế giới trong một máy tính: chỉ với một thiết bị điện tử, ngƣời ta có thể truy cập vào một nguồn thông tin khổng lồ, mọi lúc, mọi nơi và mọi loại thông tin (hình ảnh, âm thanh, phim, v.v…) và thực hiện các loại giao dịch. * Cách phân chia thứ hai: 3 cấp độ phát triển Thương mại điện tử Cấp độ 1 - Thƣơng mại thông tin (i-commerce, i=information: thông tin): doanh nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ.
Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống. Cấp độ 2 - Thƣơng mại giao dịch (t-commerce, t=transaction: giao dịch): doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến. Cấp độ 3 - Thƣơng mại tích hợp (c-business, c=colaborating, connecting: tích hợp, kết nối): website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu đƣợc tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con ngƣời và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả. Lợi ích cho doanh nghiệp khi tham gia thƣơng mại điện tử - Nắm đƣợc thông tin phong phú về kinh tế thƣong mại.
- Giảm chi phí sản xuất: trƣớc hết là chi phí văn phòng, các văn phòng không giấy tờ chiếm diện tích nhỏ hơn rất nhiều, chi phí tìm kiếm chuyển giao tài liệu giảm nhiều lần(trong đó khâu in ân gần nhƣ bỏ hẳn), theo số liệu của -6- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hãng General Electricity của Mỹ, tiết kiệm trên hƣớng này đạt tới 30%. Điều quan trọng hơn là các nhân viên có năng lực đƣợc giải phóng khỏi nhiều công đoạn sự vụ có thể tập trung vào nghiên cứu phát triển, sẽ đƣa đến những lợi ích to lớn lâu dài, nếu nhìn nhận vấn đề từ góc độ chiến lƣợc. - Giảm chi phí bán hàng và tiếp thị: Bằng phƣơng tiện Internet/Web, một nhân viên bán hàng có thể giao dịch đƣợc với nhiều khách hàng, ca ta lô điện tử trên Web phong phú hơn nhiều và thƣơng xuyên cập nhật so với ca ta lô in ấn chỉ có khuân khổ giới hạn và luôn luôn lỗi thời. - Giảm chi phí giao dịch: Thƣơng mại điện tử qua Internet/ Web giúp ngƣời tiêu thụ và doanh nghiệp giảm đáng kể thời gianvà chi phí giao dịch.
- Thiết lập và củng cố quan hệ đối tác. - Tạo điều kiện sớm tiếp cận “Kinh tế số hoá”. Thanh toán điện tử trực tuyến 1. Mô hình thanh toán qua mạng trên thế giới Thanh toán trực tuyến trên Internet đã có từ những năm đầu của thập kỷ 90, bắt đầu với việc bán pizza qua mạng Internet.
(Hobbes' Internet Timeline v1.html) Đại đa số các thanh toán quốc tế đƣợc thực hiện thông qua thẻ tín dụng (credit card). Ngoài ra, còn có nhiều phƣơng thức thanh toán khác nhƣ Paypal, TradEnable, eCharge Phone, Mondex, Internet Cash , eGold, SMS, bank transfer, thẻ trả trƣớc, coupons … Thẻ tín dụng là loại thẻ Visa, MasterCard… có tính quốc tế, chủ thể có thể dùng đƣợc trên toàn cầu. Tên gọi là tín dụng vì chủ thẻ dùng trƣớc tiền của ngân hàng để chi trả, đến cuối tháng chủ thẻ mới thanh toán lại cho ngân hàng. Trên thẻ có các thông số sau: Hình chủ sở hữu thẻ, họ và tên chủ sở hữu thẻ, số thẻ (Visa Electron và MasterCard đều có 16 chữ số), thời hạn của -7- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thẻ, mặt sau thẻ có dòng số an toàn (security code) tối thiểu là ba chữ số, và một số thông số khác cùng với các chip điện tử hoặc vạch từ (Magnetic stripe).
Chủ thẻ cũng đƣợc cung cấp PIN code (Personal Information Number – mã số cá nhân) để khi rút tiền từ máy, chủ thẻ phải nhập đúng PIN code này thì máy mới xử lý yêu cầu rút tiền. Trong thanh toán trực tuyến, chủ sở hữu thẻ không cần quét thẻ cũng nhƣ không cần cung cấp thông tin về PIN code. Vậy làm sao để đảm bảo an toàn cho chủ thẻ không bị ngƣời khác sử dụng trái phép thẻ của mình? Một thông số khác có thể đƣợc sử dụng bổ sung: thông tin về địa chỉ nhận hoá đơn thanh toán việc sử dụng thẻ do ngân hàng gửi cho chủ thẻ. Những thông tin về thẻ tín dụng ngƣời mua phải khai báo khi thực hiện việc mua qua mạng bao gồm: - Số thẻ (16 chữ số đƣợc in trên mặt trƣớc của thẻ).
- Họ tên chủ sở hữu in trên thẻ.