Luận án tiến sĩ nghiên cứu tuyển chọn giống ngô lai trung ngày năng suất cao và một số biện pháp kỹ thuật canh tác tại tỉnh quảng ngãi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tuyển chọn giống ngô lai trung ngày năng suất cao và biện pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả tại Quảng Ngãi.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TUYỂN CHỌN GIỐNG NGÔ LAI MỚI CÓ THỜI GIAN SINH TRƯỞNG TRUNG NGÀY, NĂNG SUẤT CAO, THÍCH NGHI VỚI ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT CỦA TỈNH QUẢNG NGÃI

3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO GIỐNG NGÔ LAI AIQ1268

3.3. KẾT QUẢ XÂY DỰNG MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM ÁP DỤNG MẬT ĐỘ TRỒNG VÀ LIỀU LƯỢNG PHÂN BÓN THÍCH HỢP CHO GIỐNG NGÔ AIQ1268

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu và tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu tuyển chọn giống ngô lai trung ngày có năng suất caobiện pháp canh tác tại Quảng Ngãi là một đề tài quan trọng trong bối cảnh nhu cầu ngô ngày càng tăng. Ngô lai trung ngày là nhóm giống có thời gian sinh trưởng trung bình, phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của tỉnh Quảng Ngãi. Việc nghiên cứu này nhằm đáp ứng nhu cầu tăng sản lượng ngô, giảm nhập khẩu và nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông dân. Đề tài tập trung vào việc tuyển chọn giống ngô phù hợp, kết hợp với các kỹ thuật canh tác tiên tiến để tối ưu hóa năng suất ngô.

1.1. Vai trò của ngô trong nền kinh tế

Ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa tại Việt Nam, đóng góp lớn vào an ninh lương thực và kinh tế nông nghiệp. Tại Quảng Ngãi, ngô là cây trồng chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, năng suất ngô hiện tại chưa tương xứng với tiềm năng, đòi hỏi các nghiên cứu chuyên sâu về giống ngô laibiện pháp canh tác để cải thiện.

1.2. Mục tiêu của nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm mục tiêu tuyển chọn giống ngô lai trung ngày có năng suất cao, thích nghi với điều kiện sản xuất tại Quảng Ngãi. Đồng thời, đề xuất các biện pháp canh tác hiệu quả, bao gồm mật độ trồng và liều lượng phân bón phù hợp, nhằm tối ưu hóa sản lượng và chất lượng ngô.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm đồng ruộng để đánh giá các giống ngô lai trung ngày. Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm thời gian sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, và các yếu tố cấu thành năng suất ngô. Phương pháp phân tích mẫu đất và ngô hạt được áp dụng để đánh giá chất lượng và hiệu quả của các biện pháp canh tác.

2.1. Đối tượng và điều kiện nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào các giống ngô lai trung ngày như AIQ1268, được trồng trên đất lúa chuyển đổi tại Quảng Ngãi. Các điều kiện khí hậu và đất đai của tỉnh được ghi nhận để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu.

2.2. Phương pháp đánh giá

Các chỉ tiêu đánh giá bao gồm thời gian sinh trưởng, chiều cao cây, số lá, diện tích lá, và năng suất ngô. Phương pháp thống kê được sử dụng để phân tích dữ liệu, đảm bảo tính khách quan và khoa học của nghiên cứu.

III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy giống ngô lai AIQ1268 có năng suất cao và khả năng thích nghi tốt với điều kiện sản xuất tại Quảng Ngãi. Các biện pháp canh tác như mật độ trồng 70.000 cây/ha và liều lượng phân bón N:P:K phù hợp đã giúp tối ưu hóa năng suất ngô. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến có thể cải thiện đáng kể hiệu quả sản xuất.

3.1. Đánh giá giống ngô lai

Giống AIQ1268 được đánh giá cao về khả năng sinh trưởng, chống chịu sâu bệnh và năng suất ngô. Kết quả cho thấy giống này phù hợp với điều kiện khí hậu và đất đai của Quảng Ngãi, đạt năng suất trung bình 8,5 tấn/ha.

3.2. Hiệu quả của biện pháp canh tác

Các biện pháp canh tác như mật độ trồng và liều lượng phân bón được nghiên cứu kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy mật độ trồng 70.000 cây/ha và liều lượng phân bón N:P:K 120:60:60 kg/ha là tối ưu, giúp tăng năng suất ngô và cải thiện chất lượng hạt.

IV. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu đã thành công trong việc tuyển chọn giống ngô lai trung ngày có năng suất cao và đề xuất các biện pháp canh tác hiệu quả tại Quảng Ngãi. Giống AIQ1268 được khuyến nghị áp dụng rộng rãi trong sản xuất. Các kỹ thuật canh tác được đề xuất có thể giúp nông dân tối ưu hóa sản lượng và chất lượng ngô, góp phần phát triển bền vững ngành nông nghiệp của tỉnh.

4.1. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong sản xuất ngô tại Quảng Ngãi, giúp nâng cao năng suất ngô và hiệu quả kinh tế cho nông dân. Các biện pháp canh tác được đề xuất cũng có thể áp dụng cho các vùng có điều kiện tương tự.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện hơn nữa giống ngô laibiện pháp canh tác, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu về khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện khí hậu khắc nghiệt cũng cần được ưu tiên.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ưu thế lai và ứng dụng trong chọn tạo giống ngô Ưu thế lai (heterosis) là hiện tượng vượt trội của con lai so với các dạng bố mẹ về sức sống, khả năng thích ứng, năng suất và chất lượng. Khi nói về thành công của việc ứng dụng hiện tượng ưu thế lai trong sản xuất nông nghiệp, đầu tiên phải nói tới ngô lai.

Ngô lai - một thành tựu khoa học nông nghiệp nổi bật của thế kỷ XX - đã mang lại thành quả to lớn cho sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam (Ngô Hữu Tình, 2009) [74]. Charles Darwin là người đầu tiên đưa ra lý thuyết về hiện tượng ưu thế lai vào năm 1876. Tiếp theo là William James Beal năm 1877 đã thực hiện lai có kiểm soát giữa các giống ngô, ông đã thấy sự khác biệt về năng suất giống lai với các giống bố mẹ và thường năng suất của con lai vượt so với bố mẹ chúng trung bình 15%. Chính kết quả này đã chứng minh sự tồn tại và tầm quan trọng của hiện tượng ưu thế lai (Wallace and Brown, 1988) [153].

Nhà khoa học tiên phong trong lĩnh vực chọn tạo giống ngô lai quy ước là George Herrison Shull. Năm 1904, Shull tiến hành tự phối cưỡng bức ở ngô để thu được các dòng thuần. Sau đó ông lai giữa các dòng thuần để tạo ra các giống lai đơn. Trong khi nghiên cứu di truyền số lượng về tính trạng số hàng hạt, ông thấy rằng ở thế hệ con lai vượt trội hơn thế hệ tự phối.

Vào các năm 1908, 1909 ông đã công bố những công trình nghiên cứu về ngô lai, đánh dấu một mốc bắt đầu thực sự của chương trình tạo giống ngô lai. Thuật ngữ “Heterosis” chỉ ưu thế lai được Shull sử dụng lần đầu tiên vào năm 1913 (Wallace and Brown, 1988) [153]. Tuy nhiên, phải đến năm 1917 khi Jones đưa ra giải pháp sản xuất hạt lai kép để khắc phục nhược điểm của các dòng tự phối thường rất yếu trong sản xuất hạt giống để hạ giá thành hạt giống và giống ngô lai kép đầu tiên thử nghiệm năm 1920 đã nhanh chóng được chấp nhận. Trong việc nâng cao năng suất cây ngô, giống có vai trò rất qua trọng.

Ngày nay trong công tác tạo giống ngô lai người ta chủ yếu dựa vào hiện tượng di truyền ưu thế lai do Charles Darwin phát hiện năm 1876. Năm 1909 Shull đã đề nghị đưa việc sử dụng lai đơn giữa các dòng ngô thuần vào sản xuất. Hiện nay, ở các nước có nền nông nghiệp tiên tiến, hầu như toàn bộ diện tích trồng ngô đã sử dụng giống lai và các giống lai đơn dần dần thay thế các giống lai ba và lai kép vì nó cho ưu thế lai cao nhất (Ngô Hữu Tình và cs, 2012) [75]. 6 Ngô lai ngày càng được phát triển mạnh mẽ và ưu thế lai được thể hiện ở hầu hết các tính trạng nhưng ưu thế lai về năng suất có vai trò quan trọng nhất, thể hiện qua sự tăng của các yếu tố cấu thành năng suất như chiều dài bắp, số hàng hạt, số hạt/hàng, tỷ lệ hạt/bắp,.

Ưu thế lai về năng suất ở ngô với các giống lai đơn có thể đạt từ 193% đến 263% so với trung bình của bố mẹ (Trần Hồng Uy, 1972) [88]. Ưu thế lai còn được biểu hiện ở con lai về hình thái cây và tính chín sớm hơn so với bố mẹ (Hallauer, 1991) [121], khả năng thích ứng các môi trường bất thuận như hạn (Blum A.,1988) [103], thích nghi với môi trường úng ngập (Loaiza and Ramirex, 1993) [130], môi trường lạnh (Moreno - Gonzalez J.,1988) [132] và chống chịu với các loại sâu bệnh (Odiemal M. Ưu thế lai là hiện tượng tăng sức sống qua lai và được ước tính theo công thức: H = dy2 (Falconer, 1960) [120]. Trong đó: d là những ảnh hưởng do tính trội, y2 là bình phương của tần suất gen khác nhau giữa các bố mẹ tạo thành con lai.

Ưu thế lai (H) phụ thuộc vào sự biểu hiện tác động trội trong tần suất gen khác nhau. Sẽ không có ưu thế lai nếu d hoặc y2 = 0. Ưu thế lai là đặc trưng riêng biệt cho mỗi con lai, các con lai khác nhau sẽ có giá trị dy2 khác nhau. Cơ sở di truyền của ưu thế lai trong cây ngô đã được nhiều nhà khoa học giải thích thông qua các giả thuyết.

Thuyết tính trội: Thuyết tính trội do Bruce đề xướng năm 1910, Jones 1917 và Collins bổ sung năm 1921 (CIMMYT, 1990) [109]. Thuyết tính trội giải thích sự tích lũy và hoạt động của các gen trội có lợi lấn át ảnh hưởng các gen lặn gây hại trên cùng locus, hoặc tương tác bổ trợ để hình thành tính trạng biểu hiện ưu thế lai. Thuyết tính trội còn giải thích hiện tượng tương tác gen khác locus và tương tác giữa nhân và tế bào chất (Trần Tú Ngà, 1990) [52]. Vì vậy con lai F1 thường cho năng suất vượt trội so với bố mẹ nhưng không duy trì sang thế hệ sau.

Thuyết siêu trội: Thuyết siêu trội do East đưa ra năm 1912; Hull, (1945) [123] giải thích hiện tượng ưu thế lai là do sự tích lũy các gen ở trạng thái dị hợp và cũng giải thích sự giảm sức sống, năng suất ở thế hệ sau F1 là do sự tăng dần của trạng thái đồng hợp tử. Nhưng thuyết siêu trội không giải thích được năng suất thấp và độ đồng đều kém của các lai ba, lai kép so với các giống lai đơn, mặc dù trong nó luôn biểu hiện các kiểu gen dị hợp. Ưu thế lai còn được định nghĩa là hiện tượng kế thừa của con lai F1 ở hai bố, mẹ khác nhau về mặt di truyền đã thể hiện sức sống tăng lên ít nhất lớn hơn giá trị trung bình của các bố mẹ (Venkateswarlu and Visperas, 1987) [152]. Vậy ưu thế lai là hiện tượng tăng hoặc giảm của con lai F1 so với giá trị trung bình bố mẹ và con lai không những mang giá trị dương mà còn mang cả giá trị âm ở tính trạng nào đó, ví dụ như tính chín sớm.

7 Ưu thế lai về tính chín sớm: là sự biểu hiện của tổ hợp lai chín sớm hơn so với trung bình bố mẹ và có thể cho năng suất cao hơn. Nguyên nhân là do có sự tăng cường hoạt động của các quá trình sinh lý, sinh hóa, trao đổi chất trong cơ thể con lai mạnh hơn bố mẹ. Ưu thế lai về tính chín sớm và năng suất là hai dạng ưu thế lai đặc biệt quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nên được rất nhiều nhà nghiên cứu tạo giống quan tâm. Ưu thế lai chín sớm và năng suất là sự biểu hiện của con lai chín sớm hơn so với bố mẹ và có thể cho năng suất cao hơn.

Điều này càng quan trọng hơn cho sản xuất trong điều kiện biến đổi khí hậu như hiện nay, cần có những giống chín sớm, năng suất cao để rút ngắn được thời gian trên đồng ruộng, giảm thiểu rũi ro, tiết kiệm nước tưới. Các kết quả nghiên cứu về ưu thế lai tính chín sớm đã được Trần Hồng Uy (1972) [88] thực hiện tại Trường Đại học Nông nghiệp Bucaret - Rumani. Trong kết quả nghiên cứu của mình tại Rumani, tác giả thấy thời gian sinh trưởng từ gieo đến chín của các tổ hợp lai đã biểu hiện ưu thế lai chín sớm hơn so với bố mẹ chúng từ 4- 10 ngày và cho năng suất cao hơn. Qua nhiều nghiên cứu tại Việt Nam và Bungari tác giả cũng thấy rằng, ở các môi trường sinh thái khác nhau các tổ hợp lai đã thể hiện ưu thế lai về tính chín sớm và năng suất là không giống nhau.

Tại Bungari, môi trường sinh thái ôn đới, các tổ hợp lai trong thí nghiệm đã thể hiện ưu thế lai chín sớm so với trung bình bố mẹ từ 4- 6 ngày và cho năng suất cao hơn hẳn bố mẹ chúng. Còn tại Việt Nam, môi trường nhiệt đới, hầu hết các tổ hợp lai trong thí nghiệm đã biểu hiện ưu thế lai cao về năng suất, nhưng ưu thế lai tính chín sớm so với bố mẹ chỉ 2- 4 ngày (Trần Hồng Uy và Nikola Tomov (1986) [89]. Từ kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Tài (1998) [67] cho thấy, có 5/21 tổ hợp lai luân giao giữa các dòng đời S3 đã thể hiện ưu thế lai chín sớm so với bố mẹ chúng từ 3- 4 ngày. Trong đó tổ hợp lai 1 x 5; 5 x 7 đã thể hiện ưu thế lai chín sớm hơn trung bình bố mẹ 4 ngày và ưu thế lai về năng suất vượt so với bố mẹ là 38,5% đến 48%.

Kết quả nghiên cứu ưu thế lai tính chín sớm từ các dòng có nguồn gốc địa lý khác nhau của Mai Xuân Triệu (1998) [81] cho thấy, ưu thế lai về tính trạng chín sớm thể hiện ở các tổ hợp lai đơn là mạnh nhất, sớm hơn so với bố mẹ từ 2- 4 ngày và có ưu thế lai về năng suất hạt cao. Kết quả nghiên cứu ưu thế lai về tính chín sớm từ các dòng ngô thuần được tạo ra từ nguồn nguyên liệu trong và ngoài nước của Lương Văn Vàng và cs (2012) [92], cho thấy, các tổ hợp lai có thời gian sinh trưởng ngắn ngày hơn so với bố mẹ chúng từ 1- 6, 8 ngày và ưu thế lai về năng suất của tất cả các tổ hợp lai đều cao hơn trung bình bố mẹ từ 128,7- 296,5%. Việc sử dụng rộng rãi giống lai F1 vào sản xuất đã góp phần làm tăng năng suất nhiều loại cây trồng, đặc biệt là các cây lương thực, cây thực phẩm làm tăng thu nhập 8 cho người nông dân, tăng hiệu quả của sản xuất nông nghiệp, một ngành vốn có hiệu quả kinh tế thấp (Ngô Thế Dân, 2002) [25]. Đối với cây ngô, nhờ sử dụng giống ngô lai vào sản xuất mà năng suất, sản lượng và chất lượng trong thời qua đã liên tục tăng, góp phần đáng kể vào phát triển kinh tế, xã hội và đảm bảo an ninh lương thực thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nghiên cứu về phân nhóm thời gian sinh trưởng và tính thích ứng của cây ngô 1. Phân nhóm thời gian sinh trưởng của cây ngô Cây ngô có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới, nhưng qua quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa đến ngày nay cây ngô có thể trồng ở nhiều vùng khí hậu khác nhau. Các nhà khoa học đã tổng kết thời gian sinh trưởng (TGST) của cây ngô kéo dài khác nhau tùy theo từng giống, vĩ độ trồng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu tuyển chọn giống ngô lai trung ngày năng suất cao và biện pháp canh tác tại Quảng Ngãi" tập trung vào việc lựa chọn và phát triển các giống ngô lai có thời gian sinh trưởng trung bình, mang lại năng suất cao, phù hợp với điều kiện canh tác tại tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp các giải pháp kỹ thuật canh tác hiệu quả mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân, đồng thời thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến cải thiện năng suất cây trồng và áp dụng các biện pháp canh tác tiên tiến.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp và quản lý đất đai, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã thẩm dương huyện văn bàn tỉnh lào cai, Luận án tiến sĩ nghiên cứu tiêu chí phân vùng thích nghi đất đai ứng dụng công nghệ cao cho sản xuất lúa và rau màu nghiên cứu cụ thể trong điều kiện tỉnh an giang, và Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý kinh tế nghiên cứu đề xuất giải pháp cải thiện chính sách hỗ trợ tiền sử dụng sản phẩm dịch vụ công ích thuỷ lợi trên địa bàn tỉnh thái nguyên. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các giải pháp nông nghiệp và quản lý tài nguyên hiệu quả.