Nghiên Cứu Tuyển Chọn Cây Đầu Dòng và Kỹ Thuật Nhân Giống Chè Shan Vùng Núi Cao Tỉnh Bắc Kạn

Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và biện pháp kỹ thuật nhân giống chè shan tại vùng núi cao Bắc Kạn, nâng cao chất lượng sản xuất.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Trồng trọt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sỹ nông nghiệp

2011

124
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài

1.2. Cơ sở khoa học

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.4. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước

1.4.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới

1.4.2. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam

1.5. Tình hình nghiên cứu chè trên thế giới

1.6. Tình hình nghiên cứu chè trong nước

1.7. Tình hình nghiên cứu về giống chè

1.8. Tình hình nghiên cứu về nhân giống vô tính chè

1.9. Kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè

1.10. Những kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu tài liệu

1.10.1. Về nghiên cứu chọn lọc cây đầu dòng

1.10.2. Về nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây chè Shan

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Vật liệu nghiên cứu

2.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu

2.4.2. Phương pháp điều tra tuyển chọn cây chè Shan đầu dòng

2.4.3. Nghiên cứu đánh giá, khả năng nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm cành của các cây chè Shan đầu dòng

2.4.4. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan vùng núi cao tỉnh Bắc Kạn

2.4.5. Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng mới chè Shan theo phương thức trồng rừng

2.4.6. Thử nghiệm một số kết quả nghiên cứu vào thực tiễn sản xuất phát triển chè Shan ở Bắc Kạn

2.4.7. Phương pháp xử lý số liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến sản xuất chè ở Bằng Phúc

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Điều kiện địa hình, đất đai

3.1.3. Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến sản xuất chè ở Bằng Phúc

3.2. Tình hình sản xuất và chế biến chè ở Bằng Phúc

3.2.1. Tình hình diện tích và phân loại chè ở Bằng Phúc

3.2.2. Tập quán canh tác và chế biến chè ở Bằng Phúc

3.2.3. Những kết luận rút ra từ kết quả điều tra tình hình sản xuất, chế biến chè ở Bằng Phúc

3.3. Kết quả tuyển chọn cây chè Shan đầu dòng ở Bằng Phúc

3.3.1. Đặc điểm hình thái của các cây chè Shan đầu dòng

3.3.2. Đặc điểm sinh trưởng của các cây chè Shan đầu dòng

3.3.3. Khả năng cho năng suất của các cây chè Shan đầu dòng

3.3.4. Chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm của những cây chè Shan đầu dòng

3.4. Kết quả nghiên cứu khả năng nhân giống của các cây chè Shan đầu dòng

3.4.1. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp nâng cao tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn cho vườn ươm giâm cành chè Shan ở vùng núi cao

3.4.2. Kết quả nghiên cứu xác định thời vụ giâm cành thích hợp cho chè Shan ở Bằng Phúc huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

3.4.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn và chất lượng cây xuất vườn của chè giâm cành

3.4.4. Kết quả nghiên cứu liều lượng bón phân và số lần bón phân thích hợp cho chè Shan giâm cành

3.5. Kết quả nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật trồng mới chè Shan theo phương thức trồng rừng

3.5.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao cây con đến sinh trưởng nương chè trồng mới theo phương thức trồng rừng

3.5.2. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của trồng chè trên một số nền canh tác khác nhau đến sinh trưởng của cây chè Shan thời kỳ kiến thiết cơ bản

3.6. Thử nghiệm một số kết quả nghiên cứu vào sản xuất, phát triển chè Shan ở Bắc Kạn

3.6.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu và xây dựng mô hình nhân giống chè Shan bằng hình thức giâm cành

3.6.2. Kết quả thử nghiệm trồng chè trên các nền canh tác khác nhau tại xã Bằng Phúc Huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn

3.6.3. Xây dựng vườn cây đầu dòng phục vụ cho kế hoạch phát triển chè Shan ở Bắc Kạn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chè Shan Bắc Kạn Tiềm Năng Phát Triển

Chè (Camellia Sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm, có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới ẩm. Ngành chè thế giới phát triển mạnh mẽ với hơn 60 quốc gia sản xuất, tập trung ở châu Á và châu Phi. Tại Việt Nam, chè đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp, là mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Sản xuất chè mang lại thu nhập ổn định, góp phần vào công nghiệp hóa nông thôn, đặc biệt ở vùng trung du miền núi phía Bắc. Việt Nam chủ trương ổn định diện tích, thay thế giống cũ bằng giống chọn lọc, áp dụng kỹ thuật thâm canh và chế biến hiện đại để tạo ra sản phẩm chất lượng cao, an toàn. Đến năm 2010, Việt Nam có 130 nghìn ha chè, tập trung ở trung du miền núi phía Bắc và Cao nguyên Lâm Đồng. Bên cạnh diện tích trồng tập trung, các tỉnh miền núi phía Bắc như Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn... có vùng chè Shan lâu đời, phân bố rải rác theo kiểu "chè rừng".

1.1. Lịch Sử và Đặc Điểm Chè Shan Tuyết Cổ Thụ Bắc Kạn

Chè Shan núi cao hình thành từ lâu đời, phù hợp với tập quán canh tác và điều kiện sản xuất của đồng bào dân tộc vùng cao. Chè sinh trưởng tự nhiên, không đốn tỉa, cây cao lớn, thân to, tán rộng, sinh trưởng khỏe, năng suất cao. Giống như các vùng chè Shan khác ở Bắc Bộ, Bắc Kạn có chè Shan phân bố rộng rãi ở các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, với độ cao từ 800-1000 mét. Đến năm 2010, Bắc Kạn phấn đấu có 2000ha chè Shan núi cao. Điều kiện địa hình và khí hậu thuận lợi giúp chè Shan Bắc Kạn sinh trưởng tốt và năng suất cao, khẳng định tiềm năng phát triển vùng chè Shan hàng hóa nếu áp dụng các giải pháp kỹ thuật phù hợp. Sản phẩm chè Shan có hương thơm tự nhiên, vị dịu, tuyết trắng, tạo ngoại hình đẹp, an toàn. Từ nguyên liệu chè Shan núi cao có thể chế biến thành chè xanh, chè đen, chè vàng, chè Phổ Nhĩ có giá trị kinh tế cao.

1.2. Giá Trị Kinh Tế và Xã Hội Của Chè Shan Đối Với Bắc Kạn

Sản xuất chè Shan núi cao có tác dụng như rừng phòng hộ, góp phần phát triển bền vững vùng núi cao, tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc. Năm 1999, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 43/1999/QĐ-TTG ngày 13/10/1999, trong đó có nội dung tập trung phát triển 1 vạn ha chè Shan ở vùng cao phía Bắc và giành một phần vốn trong chương trình trồng 5 triệu ha rừng để phát triển chè Shan vùng núi cao. Sản phẩm chè Shan tuyết có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là chè Phổ Nhĩ, một loại sản phẩm chè độc đáo có giá trị giải khát và dược thảo.

II. Thách Thức Trong Phát Triển Giống Chè Shan Chất Lượng Cao Bắc Kạn

Hiện trạng phát triển vùng chè Shan núi cao còn nhiều hạn chế do giống chè chưa được chọn lọc, cây chè con trồng từ hạt có sức sống thấp, khó cạnh tranh ánh sáng với thảm thực vật, cỏ dại. Do trồng chè theo phương thức trồng rừng, không áp dụng kỹ thuật khai hoang, đào rạch, cần có cây chè con kích thước lớn để cạnh tranh với cỏ dại và thảm thực bì, có tỷ lệ sống cao, sớm tạo ra nương chè Shan. Vùng chè Shan tuyết ở Bắc Kạn được hình thành tự phát nhờ sự tán hạt tự nhiên, hoặc do đồng bào trồng từ hạt của những cây chè Shan mọc tự nhiên (không được tuyển chọn). Khi quan sát vùng chè Shan núi cao, không có sự đồng đều về hình thái và chất lượng búp, trong đó có cây là chè Shan, có cây là các dạng thuộc thứ chè khác. Sự không đồng đều về hình thái ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng chè thành phẩm.

2.1. Sự Không Đồng Đều Giống Chè Shan và Ảnh Hưởng Đến Năng Suất

Sự không đồng đều về hình thái và chất lượng búp chè Shan ảnh hưởng lớn đến năng suất và chất lượng chè thành phẩm. Cần có giải pháp để cải thiện chất lượng giống chè, đảm bảo sự đồng đều về hình thái và chất lượng búp, từ đó nâng cao năng suất và giá trị kinh tế của chè Shan Bắc Kạn.

2.2. Khó Khăn Trong Nhân Giống và Trồng Mới Chè Shan Theo Phương Pháp Truyền Thống

Việc nhân giống chè Shan bằng hạt gặp nhiều khó khăn do tỷ lệ nảy mầm thấp, cây con yếu, khó cạnh tranh với cỏ dại. Phương pháp trồng mới theo phương thức trồng rừng đòi hỏi cây con phải có kích thước lớn để đảm bảo tỷ lệ sống và phát triển tốt. Cần có giải pháp nhân giống và trồng mới hiệu quả hơn để phát triển vùng chè Shan Bắc Kạn.

III. Tuyển Chọn Cây Đầu Dòng Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chè Shan

Để phát triển vùng chè Shan núi cao (theo phương thức trồng rừng) có hiệu quả, cần thiết phải giải quyết hai nội dung rất quan trọng: Thứ nhất, chọn lọc những cây chè Shan đầu dòng có năng suất, chất lượng tốt làm cây mẹ để sản xuất hom giống đáp ứng yêu cầu nhân giống mở rộng diện tích. Thứ hai, nghiên cứu kỹ thuật giâm cành (hom chè được lấy từ các cây chè Shan đầu dòng đã chọn lọc) để tạo các cây chè con có kích thước lớn, kỹ thuật trồng thích hợp để sớm tạo thành các nương chè (rừng chè Shan).

3.1. Tiêu Chí Chọn Lọc Cây Chè Shan Đầu Dòng Năng Suất Cao Chất Lượng Tốt

Việc tuyển chọn cây đầu dòng chè cần dựa trên các tiêu chí về năng suất, chất lượng, khả năng sinh trưởng, khả năng kháng bệnh. Cây đầu dòng phải có năng suất cao, chất lượng tốt, ổn định qua các năm. Cần đánh giá các đặc điểm hình thái, sinh lý, hóa sinh của cây để chọn ra những cây ưu tú nhất.

3.2. Quy Trình Đánh Giá và Chọn Lọc Cây Chè Shan Đầu Dòng Tại Bắc Kạn

Quy trình tuyển chọn cây đầu dòng chè bao gồm các bước: điều tra, khảo sát, đánh giá, chọn lọc. Cần điều tra, khảo sát các vùng chè Shan để xác định các cây có tiềm năng. Sau đó, tiến hành đánh giá các đặc điểm của cây, so sánh với các tiêu chí đã đặt ra để chọn ra những cây ưu tú nhất. Cuối cùng, tiến hành theo dõi, đánh giá năng suất, chất lượng của cây qua các năm để khẳng định giá trị của cây đầu dòng.

IV. Kỹ Thuật Nhân Giống Chè Shan Bằng Phương Pháp Giâm Cành Hiệu Quả

Theo định hướng của tỉnh Bắc Kạn đến năm 2015 sẽ phát triển vùng chè Shan với quy mô 3500ha, để vùng chè Shan Bắc Kạn trở thành vùng sản xuất hàng hóa có hiệu quả kinh tế xã hội, cần thiết phải nghiên cứu tuyển chọn các cây chè Shan đầu dòng, nghiên cứu kỹ thuật giâm cành và trồng mới thích hợp áp dụng trong sản xuất. Giâm cành có ưu điểm hơn so với các hình thức nhân giống vô tính khác (nuôi cấy mô, chiết, ghép...) là không yêu cầu kỹ thuật quá cao, có hệ số nhân giống lớn, mà vẫn giữ được tất cả các đặc tính ưu việt của cây mẹ.

4.1. Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Tỷ Lệ Sống Của Hom Chè Shan Giâm Cành

Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có 3 yếu tố quan trọng: yếu tố hom giống, thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm. Cần lựa chọn hom giống từ cây mẹ chè khỏe mạnh, không sâu bệnh. Thời vụ giâm cành thích hợp là vào mùa xuân hoặc mùa thu. Cần đảm bảo điều kiện môi trường (độ ẩm, ánh sáng, nhiệt độ) phù hợp cho sự phát triển của hom chè.

4.2. Quy Trình Giâm Cành Chè Shan Chi Tiết Từ Chuẩn Bị Đến Chăm Sóc

Quy trình giâm cành chè Shan bao gồm các bước: chuẩn bị hom giống, xử lý hom giống, cắm hom, chăm sóc hom. Cần chuẩn bị hom giống từ cây mẹ chè khỏe mạnh, không sâu bệnh. Xử lý hom giống bằng thuốc kích thích ra rễ. Cắm hom vào giá thể phù hợp (cát, xơ dừa, tro trấu). Chăm sóc hom bằng cách tưới nước, bón phân, phòng trừ sâu bệnh.

V. Kỹ Thuật Trồng Mới Chè Shan Theo Phương Thức Trồng Rừng Bền Vững

Trồng chè Shan theo phương thức trồng rừng là kỹ thuật rất phù hợp với điều kiện đất đai, lao động và tập quán canh tác của đồng bào các dân tộc vùng cao. Kỹ thuật đó được hình thành và phát triển lâu dài, hiện nay để vùng chè Shan núi cao trở thành vùng sản xuất hàng hoá, ngoài giống tốt và kỹ thuật nhân giống thích hợp cần có kỹ thuật trồng để tạo nương chè Shan cần quan tâm hai giai đoạn: Cây non cần có sự chú ý đến đất trồng và sự cạnh tranh với cỏ và thảm thực bì để cây sống và lớn vượt...

5.1. Lựa Chọn Địa Điểm và Chuẩn Bị Đất Trồng Chè Shan Hiệu Quả

Địa điểm trồng chè Shan cần có độ cao phù hợp (800-1000 mét), đất đai tơi xốp, thoát nước tốt, giàu dinh dưỡng. Cần chuẩn bị đất trồng bằng cách làm sạch cỏ dại, cày xới, bón phân lót. Có thể trồng xen chè Shan với các loại cây khác (cây họ đậu, cây che bóng) để cải tạo đất và tăng hiệu quả kinh tế.

5.2. Kỹ Thuật Trồng và Chăm Sóc Chè Shan Trong Giai Đoạn Kiến Thiết Cơ Bản

Kỹ thuật trồng chè Shan bao gồm các bước: đào hố, bón phân lót, trồng cây, lấp đất, tưới nước. Cần trồng cây với mật độ phù hợp (2000-2500 cây/ha). Chăm sóc chè Shan trong giai đoạn kiến thiết cơ bản bằng cách tưới nước, bón phân, làm cỏ, phòng trừ sâu bệnh. Cần tạo hình, cắt tỉa cây để tạo bộ khung tán khỏe mạnh.

VI. Ứng Dụng và Triển Vọng Phát Triển Chè Shan Bền Vững Tại Bắc Kạn

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và một số biện pháp kỹ thuật nhân giống, trồng mới chè Shan vùng núi cao tỉnh Bắc Kạn". Mục tiêu nghiên cứu là tuyển chọn được cây chè Shan đầu dòng để cung cấp hom giống chè mở rộng diện tích, nghiên cứu được biện pháp kỹ thuật giâm cành chè Shan, tạo được cây chè giống có kích thước phù hợp để phục vụ sản xuất và nghiên cứu kỹ thuật trồng mới chè Shan theo phương thức trồng rừng, nhằm phát triển vùng chè Shan núi cao một cách bền vững.

6.1. Mô Hình Nhân Giống và Trồng Chè Shan Hiệu Quả Tại Huyện Chợ Đồn Chợ Mới

Xây dựng mô hình nhân giống chè Shan bằng hình thức giâm cành tại các huyện Chợ Đồn, Chợ Mới, Ba Bể tỉnh Bắc Kạn. Chuyển giao thành công kỹ thuật nhân giống, trồng mới chè Shan cho địa phương, làm thay đổi tập quán canh tác trồng chè của người dân vùng cao Bắc Kạn.

6.2. Định Hướng Phát Triển Vùng Chè Shan Bền Vững Nâng Cao Giá Trị Sản Phẩm

Phát triển vùng chè Shan theo hướng bền vững, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ. Nâng cao chất lượng sản phẩm chè Shan, xây dựng thương hiệu chè đặc sản Bắc Kạn. Phát triển du lịch chè để quảng bá sản phẩm và văn hóa chè Shan. Góp phần bảo tồn giống chè Shan quý của vùng núi cao Bắc Kạn.

05/06/2025
Luận văn nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và một số biện pháp kỹ thuật nhân giống trồng mới chè shan vùng núi cao tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Cơ sở khoa học Cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermac) lớp hai lá mầm (Dicotyledonae) bộ chè (Theales), họ chè (Thease), chi chè (Camellia), loài (Sinensis), tên khoa học là Camillia Sinensis (L) O. Kuntze, được phân làm 4 thứ chè khác nhau (Colen Stuart - 1919).

Đó là thứ chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis var bohea), thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis var macrophylla); thứ chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var. Assamica) và chè Shan (Camellia Sinensis var. Mỗi thứ chè có đặc điểm hình thái: Thân, cành, lá, búp khác nhau, có khả năng cho năng suất, chất lượng khác nhau, có yêu cầu sinh thái khác nhau và phạm vi phân bố khác nhau. Trong đó chè Shan thường được phân bố ở vùng núi cao so với mực nước biển.

Chè là cây lâu năm, nở hoa hàng năm. Cây chè sau trồng từ 2 - 3 năm đã có khả năng ra hoa. Cây chè có từ 2000 - 4000 nụ hoa/năm, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp, thường chỉ đạt từ 2 - 4%. Hoa chè là hoa lưỡng tính, mỗi hoa khi kết quả có từ 1 - 4 hạt [7].

Mặc dù là hoa lưỡng tính nhưng khả năng tự thụ của hoa chè rất thấp, hầu hết các quả chè là kết quả của sự thụ phấn khác hoa, đây là nguyên nhân quan trọng làm cho cây chè mọc từ hạt có sự phân li lớn về hình thái, về khả năng cho năng suất, chất lượng. Nói chung những cây chè con mọc từ hạt có sự phân li lớn so với cây mẹ. Chè Shan núi cao được trồng từ hạt cũng tuân theo quy luật trên, giữa các cá thể có sự phân li lớn, có rất nhiều cá thể không còn giữ được những đặc tính quý là khả năng cho năng suất và chất lượng cao của giống chè Shan. Đây là cơ sở khoa học để nghiên cứu chọn cây đầu dòng phục vụ cho công tác nhân giống vô tính, phát triển diện tích chè Shan.

7 Mặt khác chè là cây thân gỗ, ngoài khả nhân giống bằng hạt thì người ta có thể nhân giống chè bằng phương pháp nhân giống vô tính như phương pháp nuôi cấy mô tế bào, ghép cành, giâm cành. Ưu điểm của phương pháp nhân giống vô tính là hệ số nhân giống cao, cây con giữ được những đặc tính tốt của cây mẹ, vườn chè có độ đồng đều cao, có khả năng cho năng suất cao hơn so với trồng hạt, nguyên liệu có độ đồng đều cao, dễ canh tác, thu hái và chế biến. Dựa trên cơ sở khoa học này, ngày nay ở hầu hết các cơ sở sản xuất chè trên thế giới cũng như Việt Nam, các giống chè thường được nhân giống bằng phương pháp giâm cành. Giâm cành có ưu điểm hơn so với các hình thức nhân giống vô tính khác (nuôi cấy mô, chiết, ghép.) là không yêu cầu kỹ thuật quá cao, có hệ số nhân giống lớn, mà vẫn giữ được tất cả các đặc tính ưu việt của cây mẹ.

Từ một đoạn cành chè (hom chè) dài từ 3 - 4cm có một lá nguyên và một mầm nách trong điều kiện môi trường (đất, khí hậu) phù hợp có thể hình thành một cây chè con mới mang đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ. Sau 20 - 30 ngày cắm hom, từ vết cắt phía dưới của hom chè hình thành lớp mô sẹo và từ đó hình thành các mầm rễ sau phát triển thành bộ rễ của cây chè con. Từ mầm nách sẽ mọc hình thành nên thân, cành chè của cây chè con. Khả năng giâm cành của chè phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trong đó có 3 yếu tố quan trọng đó là yếu tố hom giống, Thời vụ giâm cành (điều kiện môi trường ngoại cảnh) và các biện pháp kỹ thuật chăm sóc trong vườn ươm.

Trồng chè shan theo phương thức trồng rừng là kỹ thuật rất phù hợp với điều kiện đất đai, lao động và tập quán canh tác của đồng bào các dân tộc vùng cao, kỹ thuật đó được hình thành và phát triển lâu dài, hiện nay để vùng chè Shan núi cao trở thành vùng sản xuất hàng hoá, ngoài giống tốt và kỹ thuật nhân giống thích hợp cần có kỹ thuật trồng để tạo nương chè Shan cần 8 quan tâm hai giai đoạn giai đoạn: Cây non cần có sự chú ý đến đất trồng và sự cạnh tranh với cỏ và thảm thực bì để cây sống và lớn vượt lên cao trên tán các cây bụi (trên 80cm) chú ý đến đất trồng và dinh dưỡng, giai đoạn cây chè Shan sinh trưởng và phân cành, tạo tán khi đó cây chè có độ cao trên 1,2m, cần chú ý đến biện pháp chăm sóc. Trong giới hạn đề tài này chúng tôi quan tâm nhiều đến trồng chè Shan trên đất trồng các loại cây ngô, sắn, cây rừng… Đây là cơ sở khoa học quan trọng để nghiên cứu phát triển chè Shan núi cao, đặc biệt là vùng chè Shan núi cao tỉnh Bắc Kạn. Cơ sở thực tiễn Vùng chè Shan Bằng Phúc tỉnh Bắc Kạn cũng như những vùng chè Shan núi cao khác trong cả nước, được hình thành qua quá trình phát triển tự nhiên, hầu hết cây chè được mọc từ hạt của những cây chè khác do vậy có độ phân li rất lớn về hình thái. Ngay cả những vườn chè được trồng gần nhà cũng được trồng từ cây con mọc từ hạt hoặc bằng hạt lấy ở trong rừng, do vậy cũng có các đặc điểm là có độ phân li lớn.

Trong rừng chè, vườn chè chỉ có từ 30- 35% cá thể chè Shan, phần còn lại là các dạng trung gian khác. Nguyên liệu được thu hái từ những cây chè Shan khi chế biến cho chất lượng cao hơn so với nguyên liệu thu hái từ các dạng chè trung gian khác. Mặt khác, hầu hết các nương chè Shan được đồng bào trồng đều ở xa so với nơi sinh sống và phân tán, nằm ở nơi có độ dốc lớn, đi lại vận chuyển chủ yếu bằng thủ công, khó khăn, cây chè Shan được trồng theo phương pháp trồng rừng: Phát băng, đào hố, có sự cạnh tranh lớn giữa cây chè và cây tự nhiên. Do vậy cây chè con cần có kích thước lớn hơn để có khả năng chống chịu tốt hơn, bầu chè (cây chè con) có khối lượng nhẹ hơn để thuận lợi cho quá trình vận chuyển đi trồng ở những nơi có địa hình dốc, phức tạp, giao thông khó khăn.

9 Những vấn đề trên là cơ sở thực tiễn quan trọng của đề tài. Nghiên cứu chọn lọc cây đầu dòng phục vụ công tác nhân giống cho vùng, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, tạo cây con thích hợp, phục vụ cho kỹ thuật trồng chè Shan vùng núi cao của Bằng Phúc - Bắc Kạn và những vùng tương tự. Tình hình sản xuất chè trên thế giới và trong nước 1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới Theo PGS Đỗ Ngọc Quỹ [60], Quốc gia đầu tiên trên thế giới phát triển sản xuất chè là Trung Quốc, sau đó được truyền bá sang Nhật Bản vào những năm 805 sau Công nguyên, vào Indonexia năm 1654, vào Ấn Độ năm 1780, vào Nga năm 1833, Malaixia năm 1914, vào những năm 1920 vào Châu Phi: Kenia, Malavi, Ghine.

đến nay chè đã được trồng ở 58 quốc gia với quy mô khác nhau, phân bố ở khắp 5 Châu như sau: - Châu Á: Châu Á có 20 nước trồng chè bao gồm: Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Indonexia, Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Bănglađet, Iran, Myanma, Việt Nam, Thái Lan, Lào, Mailaixia, Campuchia, Nêpan, Philipin, Triều Tiên, Apganistan, Pakistan. - Châu Phi có 21 nước gồm: Kênia, Malavi, Uganda, Tanzania, Mozambich, Ruanda, Mali, Ghinê, Môrixơ, Nam Phi, Ai Cập, Công Gô, Camơrun, Đảo Rêugniông, Tchat, Rôdêzia, Abitxini, Buraudi, Marốc, Angiêri và Zimbabue. - Châu Mĩ có 12 nước bao gồm: Argentina, Braxin, Peru, Colombia, Ecuađor, Guatemala, Paraguay, Jamaica, Mexico, Bolivia, Guyana và Mĩ. - Châu Đại Dương có 3 nước sản xuất chè đó là các nước: Papua Tanghinê, Fiji và Australia.

- Châu Âu chỉ có ở Liên Xô cũ (Grudia) và Bồ Đào Nha.1: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng chè thế giới 50 năm qua (FAO 2010) Diện tích Năng suất Sản lượng Tốc độ tăng Tốc độ tăng Tốc độ tăng Năm Vạn Tạ Vạn so với 10 năm so với 10 năm so với 10 năm ha khô/ha tấn trước (%) trước (%) trước (%) 1959 83,20 - 8,97 - 74,63 - 1969 101,60 22,1 10,00 1,1 101,60 36,1 1979 189,71 86,7 7,73 -22,7 146,61 44,3 1989 240,32 26,7 9,13 18,1 219,41 49,7 1999 243,00 1,0 10,23 12,1 248,70 13,4 2009 246,10 1,0 12,99 27,0 319,69 28,5 Số liệu thống kê diện tích, sản lượng, năng suất chè thế giới 50 năm qua cho thấy: - Diện tích chè thế giới 50 năm qua tăng mạnh trong 30 năm từ 1954 - 1984. Sau mười năm diện tích chè thế giới tăng từ 22,1% đến 86,7% tăng mạnh nhất là 10 năm từ 1969-1979, và ổn định trong 20 năm gần đây, chỉ tăng khoảng 1,0% sau 10 năm. - Năng suất chè thế giới năm 1979 giảm 22,7% so với 10 năm trước đó, các thập kỷ sau tăng từ 12,1% đến 27,0% năng suất cao nhất vào năm 2009, đạt 12,99 tạ/ha. - Sản lượng chè thế giới tăng mạnh trong 5 thập kỷ qua và đạt 319,69 vạn tấn/năm.

Với nhịp độ tăng sau mỗi thập kỷ từ 13,4% đến 49,7%, tăng mạnh nhất vào giai đoạn 1969 - 1989.2: Diễn biến diện tích, năng suất, sản lượng một số nước trồng chè chính trên thế giới năm 2009 Diện tích Năng suất Sản lượng STT Nước (vạn/ha) (Tạ/ha) (vạn/tấn) 1 Trung Quốc 94,31 8,70 82,10 2 Ấn Độ 44,50 18,98 84,50 3 Srilanca 21,07 14,38 30,30 4 Kênia 14,00 20,71 29,00 5 Nhật Bản 4,70 20,21 9,50 6 Việt Nam 10,20 9,51 9,70 Toàn thế giới 246,10 12,99 319,69 (Nguồn: Theo FAO Strt Citation 2010) Mặc dù có tới trên 60 quốc gia trồng chè trên thế giới, tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Srilanca, Kênia, Nhật Bản. Số liệu thống kê tình hình diện tích, năng suất, sản lượng một số nước trồng chè trên thế giới năm 2009 ở bảng 1.2 cho thấy: - Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích đạt 94,31 vạn ha, chiếm 37,96% diện tích chè thế giới, tuy nhiên năng suất chè của Trung Quốc không cao, chỉ đạt 8,70 tạ khô/ha, cho nên sản lượng của Trung Quốc chỉ đứng thứ 2 trên thế giới (sau Ấn Độ) đạt 82,10 vạn tấn, chiếm 25,68% sản lượng chè thế giới. - Ấn Độ mặc dù chỉ đứng thứ 2 (sau Trung Quốc) về diện tích nhưng do có năng suất chè khá cao, đạt 18,98 tạ khô/ha cho nên có sản lượng chè đạt cao nhất thế giới, đạt 84,5 vạn tấn, chiếm 26,43% sản lượng chè toàn thế giới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Tuyển Chọn Cây Đầu Dòng và Kỹ Thuật Nhân Giống Chè Shan Tỉnh Bắc Kạn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình chọn lọc và nhân giống cây chè Shan, một loại cây có giá trị kinh tế cao tại Bắc Kạn. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao chất lượng giống chè mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững ngành nông nghiệp địa phương. Các điểm chính của tài liệu bao gồm phương pháp chọn giống, kỹ thuật nhân giống tiên tiến, và lợi ích kinh tế từ việc cải thiện giống chè. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích để áp dụng vào thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của nông nghiệp và phát triển bền vững, hãy khám phá thêm tài liệu Luận văn sự tham gia của người dân và các tổ chức xã hội trong xây dựng mô hình nông thôn mới ở xã Hải Đường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, nơi bàn về sự tham gia của cộng đồng trong phát triển nông thôn. Bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ nông nghiệp điều tra nghiên cứu biện pháp kỹ thuật tổng hợp trong canh tác hồ tiêu, giúp bạn nắm bắt thêm các kỹ thuật canh tác bền vững. Cuối cùng, tài liệu Giải pháp huy động các nguồn lực phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về việc huy động nguồn lực trong phát triển nông thôn. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả hơn.