ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là một trong những vấn đề thách thức của nền y học thế giới [65]. Đây là bệnh mạn tính âm thầm gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Bệnh không những gây chết ngƣời mà còn để lại những di chứng nặng nề, làm giảm chất lƣợng cuộc sống và tăng gánh nặng cho gia đình và xã hội [19]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ ngƣời bệnh tăng huyết áp ngày càng tăng.
Năm 2018, số ngƣời bị tăng huyết áp trên thế giới là 1 tỷ ngƣời và dự kiến sẽ tăng lên 1,56 tỷ (chiếm tỷ lệ 29,2% dân số thế giới) vào năm 2025 [14], [47]. Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm của hơn 10 triệu ngƣời mắc bệnh vào năm 2015 [14]. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp theo điều tra dân số về các bệnh không lây truyền trên đối tƣợng năm 2015 là 18,9%. Nếu không có các biện pháp dự phòng, số lƣợng ngƣời bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam sẽ là 25 triệu vào năm 2025 [36].
Nguyên tắc điều trị tăng huyết áp là liên tục, suốt đời và quan trọng nhất là phải tuân thủ đúng theo hƣớng dẫn của bác sĩ [22]. Sự tuân thủ là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công trong điều trị. Tuân thủ điều trị bao gồm phải thực hiện việc uống thuốc đều đặn theo y lệnh của bác sĩ và đồng thời thực hiện tích cực các biện pháp thay đổi lối sống [1]. Nếu bệnh nhân không tuân thủ điều trị sẽ dẫn đến những biến chứng nguy hiểm ảnh hƣởng đến các cơ quan khác và có thể dẫn đến tử vong [28].
Ngƣợc lại, nếu điều trị đúng sẽ giảm đƣợc nhiều biến chứng nguy hiểm, bao gồm 40% nguy cơ tai biến mạch máu não và 15% nguy cơ nhồi máu cơ tim. Từ đó, góp phần nâng cao chất lƣợng sống của bệnh nhân [62]. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trong và ngoài nƣớc cho thấy kết quả của việc tuân thủ điều trị còn khá thấp. Theo báo cáo của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) năm 2013, tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp trên thế giới đạt tỷ lệ thấp chỉ từ 20%-30% [30].
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Trần Công Trƣởng trên bệnh nhân đang điều trị ngoại trú tại khoa nội tim mạch bệnh viện quận 2 thành phố Hồ Chí Minh năm 2018 cho kết quả tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân là 41,2% [25]. Một nghiên cứu khác của Ngô Vƣơng Hoàng Giang và 1 cộng sự trên bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang năm 2020 cho kết quả việc tuân thủ điều trị bệnh tăng huyết áp của bệnh nhân đang điều trị ngoại trú trong việc tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ thay đổi lối sống lần lƣợt là 49,5% và 40,5% [16]. Để góp phần đánh giá đúng thực trạng tuân thủ điều trị và những yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản năm 2021”. Nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp quản lý mới và các chƣơng trình giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao việc tuân thủ điều trị của ngƣời bệnh tăng huyết áp.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản năm 2021. Phân tích một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện Trƣờng Đại học Võ Trƣờng Toản năm 2021. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 1. Định nghĩa huyết áp Huyết áp là số đo áp lực của dòng máu đƣợc đẩy ra bởi lực co bóp của cơ tim lên thành động mạch. Khi áp lực lên thành mạch càng cao thì lực co bóp của cơ tim càng mạnh. Đơn vị đo của huyết áp là mili mét thủy ngân (mmHg) [3].
Huyết áp đƣợc chia ra thành huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu. Huyết áp tối đa (còn gọi là huyết áp tâm thu) là mức huyết áp cao nhất do lực co bóp của tim tạo nên. Ngƣợc lại, huyết áp tối thiểu (còn gọi là huyết áp tâm trƣơng) là trị số huyết áp giữa những nhịp đập khi tim nghỉ ngơi. Huyết áp bị ảnh hƣởng bởi sức co bóp của tim, độ quánh của máu, thể tích máu lƣu thông và sức đàn hồi của thành mạch [44].
Định nghĩa tăng huyết áp Tăng huyết áp là khi trị số huyết áp của một ngƣời trƣởng thành (>18 tuổi) luôn cao hơn trị số huyết áp bình thƣờng (huyết áp tâm thu và/hoặc huyết áp tâm trƣơng). Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) và hƣớng dẫn điều trị tăng huyết áp của Bộ Y tế ban hành năm 2015, tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu >140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trƣơng >90mmHg (trị số huyết áp này phải đƣợc đo theo đúng quy trình tại bệnh viện hoặc phòng khám và huyết áp phải đƣợc đo trong lúc ngồi ít nhất 2 lần mỗi lần khám và ít nhất 2 lần khám khác nhau – phụ lục 3) [12], [22]. Trong y học, tăng huyết áp chủ yếu đƣợc phân chia theo căn nguyên của bệnh bao gồm các loại tăng huyết áp nhƣ sau: Tăng huyết áp tâm thu đơn độc: là huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và huyết áp tâm trƣơng <90 mmHg, thƣờng gặp chủ yếu ở ngƣời cao tuổi [64]. Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trƣơng gia tăng theo tuyến tính cho đến khoảng 60 tuổi.
Sau đó, huyết áp tâm trƣơng sẽ giảm dần trong khi huyết áp tâm thu tiếp tục tăng theo thời gian [33]. Tăng huyết áp áo choàng trắng: là huyết áp bệnh nhân thƣờng xuyên tăng khi đi khám tại bệnh viện hoặc phòng khám gặp bác sĩ hoặc cán bộ y tế có mặc áo 4 blouse, trong khi huyết áp đo hàng ngày trong 24 giờ lại bình thƣờng. Bệnh nhân bị tăng huyết áp áo choàng trắng là khi huyết áp phòng khám ≥140/90 mmHg sau khi đi khám nhiều lần và huyết áp trung bình 24 giờ <135/85 mmHg [19], [51]. Tăng huyết áp ẩn giấu: là trƣờng hợp huyết áp bệnh nhân bình thƣờng tại bệnh viện hoặc phòng khám khi có sự hiện diện của nhân viên y tế nhƣng lại tăng huyết áp ở những nơi khác.
Trƣờng hợp này hiếm gặp hơn tăng huyết áp áo choàng trắng. Tuy nhiên, tăng huyết áp ẩn giấu rất nguy hiểm do có tổn thƣơng cơ quan đích và nguy cơ tử vong cao hơn những trƣờng hợp tăng huyết áp khác [19], [61]. Chẩn đoán tăng huyết áp Dựa vào số đo huyết áp tại phòng khám và huyết áp ngoài phòng khám (huyết áp tại nhà, huyết áp liên tục), tiền sử cá nhân và gia đình, khám thực thể và các xét nghiệm cận lâm sàng để xác định nguyên nhân tăng huyết áp, đánh giá các yếu tố nguy cơ, tổn thƣơng cơ quan đích và các bệnh đi kèm [14]. Các ngƣỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo [22], [24] Huyết áp Huyết áp Cách đo huyết áp tâm thu tâm trƣơng 1.
Cán bộ y tế đo theo đúng quy trình ≥140 mmHg ≥ 90mmHg 2. Đo bằng máy đo huyết áp tự động 24 ≥130 mmHg ≥80 mmHg giờ (Holter huyết áp) 3. Tự đo tại nhà (đo ít nhất 3 lần, lấy ≥135 mmHg ≥85 mmHg kết quả trung bình 2 lần cuối) 1. Các yếu tố nguy cơ đối với bệnh tăng huyết áp 1.
Các yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được Tuổi Huyết áp càng tăng khi tuổi càng cao, đặc biệt với nam giới >55 tuổi và nữ giới >65 tuổi. Tỷ lệ ngƣời bệnh tăng huyết áp ở nhóm đối tƣợng trên 60 tuổi là 60%. Nguyên nhân chủ yếu là do lối sổng tỉnh tại ít vận động, trọng lƣợng cơ thể 5 tăng và các thành mạch bị lão hóa xơ cứng làm giảm tính đàn hồi dẫn đến tăng huyết áp [47], [64]. Tiền sử bệnh tăng huyết áp của gia đình bệnh nhân Bệnh nhân có ngƣời thân cùng huyết thống trong gia đình bị tăng huyết áp có nguy cơ cao bị mắc bệnh tăng huyết áp.
Tính di truyền đƣợc nghiên cứu qua nhiều quần thể. Nghiên cứu của Priyanga vào năm 2015 trên 5000 ngƣời trƣởng thành ở Sri Lanka cho thấy tiền sử gia đình có ngƣời bị tăng huyết áp (ông/bà, cha/mẹ hoặc anh/chị/em) có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tần suất mắc bệnh tăng huyết áp [54]. Hiện nay, khoa học đã chứng minh có 10 gen gây tăng huyết áp thông qua cơ chế giữ muối và nƣớc ở thận [42]. Chủng tộc Chủng tộc cũng là một trong những nguy cơ dẫn đến bệnh tăng huyết áp.
Trong khảo sát của Viện sức khỏe và dinh dƣỡng của New York Mỹ (New York City Health and Nutrition Examination Survey), tỷ lệ ngƣời bị bệnh tăng huyết áp cao hơn ở nhóm ngƣời châu Á (38,0%) và Mỹ Latin (33,0%) so với ngƣời Mỹ da trắng (27,5%) [56]. Các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được Ăn mặn Sự liên quan giữa lƣợng muối và tần suất bệnh tăng huyết áp đƣợc khảo sát trong một nghiên cứu lớn thực hiện trên 10079 ngƣời (bao gồm cả nam và nữ) ở 52 quốc gia khác nhau trên thế giới. Kết quả cho thấy sự tƣơng quan giữa lƣợng natri bài tiết trong ngày và chỉ số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trƣơng. Lƣợng muối ăn vào mỗi ngày có thể làm gia tăng thể tích tuần hoàn, làm tăng cung lƣợng tim dẫn đến tăng huyết áp.
Bên cạnh chế độ ăn với hàm lƣợng muối cao còn tác động gây tăng huyết áp theo những cơ chế khác nhƣ làm tăng Canxi nội bào, đề kháng Insulin và điều hòa lên thụ thể Angiotensin trên động vật thí nghiệm. Lƣợng muối ăn vào nhiều sẽ dẫn tới sự tăng oxy hóa và tổn thƣơng thận. Đây cũng là nguyên nhân gây tăng huyết áp [9]. 6 Thuốc lá Khói thuốc lá vào cơ thể sẽ tác động nhanh chóng tới tim và mạch máu.
Nhịp tim có thể tăng tới 30% trong 10 phút đầu hút thuốc. Sự kích thích này làm mạch máu co bóp lại dẫn đến tim phải hoạt động nhiều hơn để luân chuyển oxy. Nhịp tim sẽ giảm từ từ nếu tiếp tục hút thuốc, nhƣng không bao giờ trở lại bình thƣờng nếu nhƣ vẫn tiếp tục. Các chất hóa học trong thuốc lá cũng làm giảm tác dụng của các thuốc hạ áp.