Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này đề cập đến một số vấn đề cơ bản về lý thuyết từ vựng tiếng Anh cũng như lý thuyết dịch áp dụng cho từ vựng chuyên ngành. Theo Nguyễn Thiện Giáp, từ vựng của một ngôn ngữ vô cùng quan trọng, vì đó là cơ sở, nền tảng tối cần cùng với cơ sở ngữ pháp, tức là quy luật tạo từ và đặt câu, làm thành ngôn ngữ. Là một phần của từ vựng học, từ vựng thể thao hay còn gọi là thuật ngữ thể thao rõ ràng có phạm vi sử dụng hẹp hơn, gắn liền với một nội dung khoa học nào đó. Có thể nói chúng gắn liền với các hoạt động chuyên môn, nghiên cứu khoa học và trao đổi thông tin khoa học của con người.
Thuật ngữ thể thao, cũng như mọi loại hình từ vựng chuyên ngành khác, trước tiên là thuật ngữ khoa học. Như vậy, chúng còn là một tiểu hệ thống đối lập với từ ngữ sinh hoạt hàng ngày. Từ vựng thể thao với tư cách là một tiểu hệ thống nằm trong từ vựng, nó đương nhiên tuân theo những quy tắc cấu tạo hay phân loại của từ vựng. Trong tiểu khảo về từ vựng thể thao trong trường học này, tác giả xin được bắt đầu bằng một số cơ sở lý luận làm nền cho nghiên cứu.
Từ vựng tiếng Anh Theo quan điểm của Yang (2000) “từ là đơn vị ngôn ngữ cơ bản. Với một vốn từ ít ỏi hoặc hạn chế, người ta không thể diễn đạt và giao tiếp các ý tưởng một cách hiệu quả. Vốn từ hạn chế cũng là rào cản ngăn học viên học giỏi ngoại ngữ. Nếu người học không biết cách mở rộng vốn từ của mình, dần dần họ sẽ mất hứng thú học.” Cùng quan điểm đó, Nunan (1991) thừa nhận rằng, vị trí của từ vựng trong các giáo trình giảng dạy ngoại ngữ dù có trải qua ít nhiều thăng trầm nhưng chưa bao giờ bị lãng quên suốt những năm qua.
Ông nói “Nó (từ vựng) bị sao nhãng khá nhiều trong suốt thập kỷ 50 và 60, thời kỳ mà ngôn ngữ nghe đài –đĩa có ảnh hưởng thống trị lên giáo học pháp, nhưng gần như đã được hồi sinh trở lại trong thập kỷ 70 dưới ảnh hưởng của phong cách giảng dạy theo hướng giao tiếp.” Hiện tại, sự chú ý đang hướng đến các lớp học giao tiếp - nơi nhấn mạnh nội dung, nhiệm 12 z vụ dưới dạng giải quyết vấn đề và sự tương tác lẫn nhau giữa người học-người học- giáo viên. Cả người học lẫn người dạy cần dành cho từ vựng sự chú ý mà nó đáng được hưởng, bởi từ ngữ là những một yếu tố quan trọng xây dựng nên ngôn ngữ. Thực tế là giao tiếp tối thiểu vẫn có nghĩa và diễn ra khá tự nhiên ngay cả khi người ta chỉ đơn giản là xâu chuỗi các từ với nhau, không cần áp dụng bất cứ quy tắc ngữ pháp nào cả. Các nghiên cứu gần đây của ngành ngôn ngữ học thể hiện sự quan tâm ngày càng lớn đến yếu tố sử dụng của ngôn ngữ so với nhiều thập kỷ trước đây.
Những kiến thức về ngôn ngữ được tìm hiểu sâu hơn với tư cách là một hệ thống bằng cách khám phá thông tin về sử dụng ngôn ngữ được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu điện tử. Ngôn ngữ học nói chung được lợi từ nguồn dữ liệu này và cả ngành Từ điển học cũng vậy, vì nó không thể bỏ qua các sử dụng thực tế của ngôn ngữ để từ đó xây dựng bản mô tả chuẩn mực cho các đơn vị từ vựng. Những phát triển khoa học công nghệ mới đã tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của các lý thuyết mới trên cơ sở kết hợp ngôn ngữ như một hệ thống với cái cách theo đó nó vận hành và biến đổi. Cấu tạo từ vựng tiếng Anh 1.
Đơn vị cấu tạo Từ được cấu tạo nhờ các hình vị. Nói cách khác, từ được tạo ra nhờ một hoặc một số hình vị kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định. Quan niệm thường thấy về hình vị được phát biểu như sau: Hình vị là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa và/hoặc có giá trị (chức năng) về mặt ngữ pháp. Quan niệm này xuất phát từ truyền thống ngôn ngữ học châu Âu vốn rất mạnh về hình thái học, dựa trên hàng loạt các ngôn ngữ biến hình.
Chẳng hạn, trong dạng thức played người ta thấy ngay là: play và -ed. Hình vị thứ nhất gọi tên, chỉ ra khái niệm về một hành động, còn hình vị thứ hai biểu thị thời của hành động đặt trong mối quan hệ với các từ khác trong câu mà played xuất hiện. 13 z Các hình vị được phân chia thành những loại khác nhau. Trước hết là sự phân loại thành các hình vị tự do và hình vị hạn chế (bị ràng buộc).
- Hình vị tự do là những hình vị mà tự nó có thể xuất hiện với tư cách những từ độc lập. - Hình vị hạn chế là những hình vị chỉ có thể xuất hiện trong tư thế đi kèm, phụ thuộc vào hình vị khác. Ví dụ: -ing, -ed, -s, -ity v. Trong nội bộ các hình vị hạn chế, người ta còn chia thành hai loại nữa: các hình vị biến đổi dạng thức (các biến tố) và các hình vị phái sinh.
+ Hình vị biến tố là những hình vị làm biến đổi dạng thức của từ để biểu thị quan hệ giữa từ này với từ khác trong câu. + Hình vị phái sinh là những hình vị biến đổi một từ hiện có cho một từ mới. Ví dụ như football (bóng đá) – footballer (cầu thủ bóng đá) ; compete (thi đấu) – competitive (tính thi đấu). Lĩnh vực nghiên cứu về cấu tạo từ chú ý trước hết đến các hình vị tự do và hình vị tái sinh.
Nếu căn cứ vào vị trí của hình vị trong từ, người ta có thể phân chúng thành hai loại lớn: gốc từ (cái mang ý nghĩa từ vựng chân thực, riêng cho từng từ) và phụ tố (cái mang ý nghĩa ngữ pháp, chung cho từng lớp, nhiều từ). Tuỳ theo phụ tố đứng ở trước gốc từ hay sau gốc từ, người ta gọi chúng lần lượt là tiền tố và hậu tố. Phương thức cấu tạo Từ trong các ngôn ngữ được cấu tạo bằng một số phương thức khác nhau: a) Từ hóa hình vị: Dùng một hình vị tạo thành một từ. Phương thức này thực chất là cấp cho một hình vị tư cách đầy đủ của một từ, ví dụ: hình vị “ball” – từ “ball” (bóng), hình vị “swim” – từ “swim” (bơi) v.
b) Ghép hình vị: Tổ hợp hai hay nhiều hình vị để tạo thành từ, gồm có các phương thức sau: - Phương thức phụ gia: 14 z + Thêm tiền tố vào gốc từ hoặc một từ có sẵn. (như tiền tố anti-, im-, un v.) Ví dụ: anti-sport (phi thể thao), pentathlon (5 môn phối hợp), disqualìy (tước quyền thi đấu) v. + Thêm hậu tố: (Ví dụ như hậu tố -er, -en, -warf v.) Ví dụ như: strengthen (tăng cường), player (người chơi), backward (về phía sau) v. - Ghép các yếu tố (hình vị) gốc từ.
Phương thức này cũng gọi là phương thức hợp thành. Ví dụ: hand + ball => handball (bóng ném), basket + ball => basketball (bóng rổ) v. Trên đây là một số phương thức cơ bản để cấu tạp từ trong TA. Sự thật thì các phương thức ấy có những biểu hiện còn đa dạng hơn và đôi khi chúng đan xen vào nhau.
Phân loại từ vựng tiếng Anh Đối với phân loại từ vựng tiếng Anh, đề tài đề cập đến các vấn đề sau: 1. Từ đơn Từ đơn là từ được cấu tạo bởi hình vị (morpheme), là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa xác định và có giá trị ngữ pháp. Xét bảng cấu tạo từ đơn, ta có thể thấy: AFFIX ------------------ROOT------------------------ AFFIX Phụ tố ------------------- căn tố ----------------------- Phụ tố (Tiền tố) (prefix) Hậu tố (suffix) Từ đơn có thể có các cấu tạo sau: - Root only (chỉ có căn tố) như: play (chơi), match (trận đấu), run (chạy), attack (tấn công) v.v… và đa tiết như “competitor” (đấu thủ), “competition” (cuộc thi đấu), 15 z v.v… Hình vị trong từ đơn bao gồm chính tố (root) hoặc chính tố và phụ tố, trong đó theo vị trí, phụ tố được chia thành tiền tố (prefix) và hậu tố (suffix). Từ đơn trong TA còn được phân chia thành: - Từ đơn có hình vị trùng với căn tố (đây là loại từ gốc (stem) mang nghĩa xác định và có thể kết hợp với các hình vị là phụ tố (affix) hay biến tố (inflexion) để chuyển từ loại, chuyển nghĩa hay thêm nghĩa.v…; - Từ đơn phái sinh (derivative) bao gồm một căn tố kết hợp với ít nhất một hình vị phụ thuộc để tạo ra từ mới hay chuyển loại từ.
Ví dụ như từ “trainer” (huấn luyện viên) được cấu tạo từ căn tố “train” (huấn luyện) và hậu tố “-er”, hay căn tố “cook” (nấu ăn) và hậu tố “-er” => cooker (cái bếp) v. - Từ đơn biến hình (inflectional) bao gồm một căn tố với một hay hơn một hình vị biến tố (inflectional morpheme). Ví dụ như foot (chân) và feet (chân – số nhiều) v. Ví dụ về biến đổi của 3 loại từ đơn kể trên được chỉ ra trong bảng cấu tạo từ dưới đây: Bảng 1.
Bảng cấu tạo từ “play” Từ đơn Đặc điểm Play Là từ đơn nguyên gốc, một hình vị, động từ Play-er Là từ đơn phái sinh, hai hình vị, danh từ Play-ful-ness Là từ đơn phái sinh, ba hình vị, danh từ Play-er-s Là từ đơn biến hình, ba hình vị, số nhiều Play-ed Là từ đơn biến hình, hai hình vị, động từ thời quá khứ hoặc phân từ. Trong TA, các phụ tố không độc lập và chỉ có thể nhận diện và mang nghĩa khi đứng trong từ. Các biến tố thể hiện chức năng ngữ pháp nhằm biến đổi từ cho phù hợp với các quy ước ngữ pháp. Các biến tố khi kết hợp với căn tố thường 16 z không thay đổi nghĩa của từ mà thể hiện số (như biến tố -s, -es), thì (như biến tố -ed, -ing) hay trạng thái, tính chất (như biến tố -ly) v.
Ví dụ: Biến tố “-s hoặc -es” có thể kết hợp với danh từ số ít để biểu thị số nhiều như ball (quả bóng) => balls (những quả bóng), player (người chơi) => players (những người chơi), coach (huấn luyện viên) => coaches (những huấn luyện viên) v. Biến tố “-ed” được thêm phía sau một động từ để biểu hiện thì quá khứ, như play (chơi) => played (đã chơi), kick (đá) => kicked (đã đá) v. Hay biến tố “-ly” kết hợp với tính từ để tạo thành trạng từ, ví dụ như competitive – tính từ => competitively - trạng từ (có tính cạnh tranh, tính thi đấu).