Chương 1 KHÁI NIỆM TỪ TRỞ, MỘT SỐ HIỆU ỨNG TỪ TRỞ VÀ NHỮNG MÔ HÌNH GIẢI THÍCH CƠ CHẾ CÁC HIỆU ỨNG TỪ TRỞ 1.1 Vài nét về quá trình phát triển của việc nghiên cứu từ trở. Hiệu ứng từ điện trở (MR) là một dạng của hiện tượng từ điện, thể hiện sự thay đổi của điện trở suất (hay độ dẫn điện) trong các vật dẫn (kim loại hay bán dẫn) dưới tác dụng của từ trường ngoài. - Năm 1851, Lord Kelvin lần đầu tiên đã quan sát thấy sự thay đổi điện trở suất của Fe và Ni khi có từ trường ngoài tác dụng, sau này được biết hiện tượng đó chính là hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR) [19]. - Năm 1856, William Thomson cũng đã quan sát thấy hiện tượng thay đổi điện trở tương tự [26].Tomlinson đã quan sát thấy hiệu ứng MR khá lớn của sợi dây Bi khi ở vùng từ trường dọc (từ trường song song với dòng điện) và năm 1890, P.Lenard lặp lại thí nghiệm này với từ trường ngang (từ trường vuông góc vói dòng điện) [16].
- Kể từ đó, sợi dây Bi đã được sử dụng để làm cảm biến đo từ trường (Đó chính là Hiệu ứng Hall đã được E.H Hall phát hiện ra vào năm 1879).Kapitza đã tiến hành nghiên cứu hiệu ứng MR tương đối có hệ thống cuả một loạt các kim loại khác nhau và của cả Si và Ge [23]. - Đầu những năm 1950, nhóm của L.Pearson đã tiến hành nghiên cứu sâu hơn về hiệu ứng MR trong các chất bán dẫn [15]. - Hiệu ứng MR trong các màng mỏng kim loai và hợp kim sắt từ được quan tâm và nghiên cứu khá nhiều từ cuối những năm 1950 cho đến đầu những năm 1970 [25], [26] và khi đó hiệu ứng MR được ứng dụng để làm cảm biến từ trường [12]. - Vào những năm 80, hiệu ứng AMR trong các màng mỏng sắt từ, tiêu biểu là trong các hợp kim pecmalôi, NiFe, và một số hợp kim khác trên cơ sở của z pecmalôi đã được đưa vào sử dụng trong các đầu từ máy tính [17].
- Để đánh giá độ lớn của hiệu ứng MR, thể hiện mức độ thay đổi điện trở suất khi có từ trường so với khi không có từ trường tác dụng, gọi là tỉ số MR, người ta thường tính theo công thức: o H MR= = (%) o o Trong đó ρo và ρ(H) là các điện trở suất khi không có và khi có từ trường ngoài (H) tác dụng. Thường tỷ số MR được tính theo tỷ lệ phần trăm. Trong thực nghiệm có thể chỉ cần đo điện trở của mẫu mà không cần đo điện trở suất để bỏ qua yếu tố hình học của mẫu vì những yếu tố này sẽ bị triệt tiêu trong tỷ số. Từ trở MR có thể âm hay dương.
Từ trở của đa số các kim loại thường nhỏ, chỉ chừng vài phần trăm. Trong những kim loại phi từ nguyên chất hay trong các hợp kim, MR thường mang trị số dương và phụ thuộc bậc hai vào từ trường (H). Ngược lại, MR có thể âm khi đặt một vật liệu từ vào trong từ trường bởi vì sự sắp xếp bất trật tự của các spin khi đó sẽ bị phá vỡ và các spin trở nên đồng nhất. Ngoài một số vật liệu MR đa lớp gồm hai kim loại lần lượt mang tính sắt từ (ferromagnetic) và đối sắt từ (antiferromagnetic) hay phi từ, như sắt và chromium.
Từ trở khổng lồ đã xuất hiện nơi các hạt sắt từ (ferromagnetic granules) phân tán trong những màng kim loại thuận từ (paramagnetic metal films), chẳng hạn như đồng và sắt. Cơ chế vật lý của hiệu ứng MR trong các kim loại không từ tính (kim loại phi từ) sau này gọi là hiệu ứng từ điện trở thường (OMR) và hiệu ứng từ trở dị thường (AMR) trong các kim loại và hợp kim sắt từ về cơ bản dựa trên cơ sở của lý thuyết lượng tử. Ứng dụng của hiệu ứng từ trở: + Ứng dụng trong các đầu đọc, ghi dữ liệu trong các ổ cứng máy tính: Kể từ năm 1992, hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (GMR) bắt đầu được ứng dụng trong các đầu đọc dữ liệu của ổ đĩa cứng máy tính thay cho các đầu đọc sử dụng hiệu ứng từ điện trở dị hướng trước đó. Các đầu đọc, ghi ứng dụng hiệu ứng GMR có tốc độ z đọc, ghi thông tin cao hơn so với các đầu đọc, ghi ứng dụng hiệu ứng AMR.
Người ta sử dụng các màng mỏng valse-spin cho các ứng dụng này do khả năng chống nhiễu và chống ồn của chúng rất cao. + Chế tạo cảm biến đo từ trường, cảm biến đo dòng điện, cảm biến đo gia tốc. + Chế tạo các linh kiện spintronics: đây là các linh kiện điện tử thế hệ mới hoạt động dựa trên việc điều khiển dòng spin của điện tử. Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ, từ điện trở chui hầm là hai hiệu ứng quan trọng trong chế tạo các linh kiện spintronics.2 Điện trở và từ điện trở trong kim loại.
Điện trở của kim loại sinh ra do sự tán xạ của các điện tử dẫn với các nguyên tử tạp chất hay dao động mạng tinh thể (phonon). Trong trường hợp chung, có thể biễu diễn điện trở suất của kim loại dưới dạng định luật Matthiesen [19]: ρ = ρf + ρ i ρf: sinh ra do tán xạ phonon ρi: sinh ra do tán xạ bởi các loại sai hỏng tĩnh (gồm các tạp chất và các sai hỏng cấu trúc) Trong trường hợp kim loại ở dạng màng mỏng, ngoài các thành phần điện trở suất trên đây còn có thêm thành phần ρs do tán xạ với các bề mặt ngoài của màng mỏng. Khi đó điện trở suất tổng cộng của màng mỏng có thể được viết là [18] : ρ = ρ f + ρi + ρs ρs : tán xạ với các bề mặt ngoài của màng mỏng ρf + ρi: hai thành phần có thể gộp làm một (≡ ρi) Trong kim loại từ tính (ví dụ đối với kim loại sắt từ (FM)): ρ = ρ f + ρi + ρm ρm: tán xạ do từ tính (ví dụ mạng spin của các spin định xứ ở nút mạng tương tác trao đổi với các điện tử dẫn). Ở 0 Kelvin: tất cả các spin ở nút mạng đều song song với nhau tạo ra trường thế tuần hoàn nên không gây tán xạ điện tử (ρm = 0) z Ở nhiệt độ cao: Mạng spin dao động gây tán xạ bất thường trong các kim loại sắt từ dẫn đến thành phần ρm ≠ 0.
Vì thế điện trở suất trong các kim loại sắt từ thường cao hơn so với các kim loại thường. Ở vùng nhiệt độ cao ρm bằng [1]: 3 m I 0 2 s( s 1) M 2 ρm = 1 2ne F M 02 Với e, n, m* tương ứng trong phương trình trên là điện tích, nồng độ và khối lượng hiệu dụng của điện tử. Io: đặc trưng tương tác trao đổi giữa mạng spin và e dẫn. s: Spin ở mỗi nút mạng.
F: năng lượng Fermi. Mo, M: độ từ hóa vật liệu ở nhiệt độ 0K và T (K). Như vậy: Nếu T > Tc thì M = 0 và ρm = const Nếu T < Tc thì M ‡ 0 và ρm ~ T2 Giải thích: Điện trở của kim loại sắt từ được giải thích dựa trên mô hình 2 dòng của Mott. Đây là khái niệm được đề xuất năm 1935 bởi Mott để giải thích các tính chất bất thường của điện trở trong các kim loại sắt từ.
Mott cho rằng ở nhiệt độ đủ thấp sao cho tán xạ trên magnon đủ nhỏ thì các dòng chuyển dời điện tử chiếm đa số (có spin song song với từ độ) và thiểu số (có spin đối song song với từ độ) sẽ không bị pha trộn trong quá trình tán xạ. Sự dẫn điện có thể coi là tổng hợp của hai dòng độc lập và không cân bằng của hai loại spin có chiều khác nhau. Các lớp phản sắt từ (ví dụ Cr) hay phi từ (ví dụ Cu) đóng vai trò ngăn cách giữa các lớp sắt từ, khiến cho mômen từ của các lớp sắt từ phải có sự định hướng khác nhau sao cho có sự cân bằng về từ độ. Sự tác động của từ trường ngoài dẫn đến việc thay đổi sự định hướng của mômen từ ở mỗi lớp, dẫn đến sự thay đổi về dòng dẫn của các spin phân cực, và dẫn đến sự thay đổi về điện trở suất.
Trong kim loại sắt từ cấu trúc điện tử có lớp vỏ 3d nằm phía trong vỏ 4s và không lấp đầy. Thêm vào đó các dải con 3d chính và phụ bị tách nhau do tương tác z trao đổi mạnh dẫn đến tồn tại mômen từ nguyên tử.1 mô tả một vài đặc điểm cấu trúc vùng và mật độ trạng thái (DOS) của các kim loại sắt từ. 4s 4s EF 3d 3d DOS DOS Hình 1.1- Sơ đồ một số đặc điểm trong cấu trúc vùng và mật độ trạng Theo sơ đồ này: thái (DOS) của các kim loại sắt từ.1 ta có thể nhận thấy rằng: + Dải 4s có mật độ phân bố điện tử rộng, độ linh động cao, m* thấp nên đây là các điện tử dẫn đóng góp chính cho dòng điện (các điện tử 4s là các điện tử dẫn) + Trong khi đó dải 3d phân bố hẹp nên mật độ trạng thái điện tử (DOS) rất cao, m* lớn, độ linh động thấp. Chúng được coi là các điện tử từ định xứ ở nút mạng tinh thể vì vậy spin của chúng cũng định xứ ở nút mạng tinh thể.
+ Theo mô hình 2 dải của Mott đã nêu ở trên thì s và d là những dải quan trọng nhất đóng góp vào tính chất điện và từ của kim loại FM, các điện tử 4s có thể thực hiện các chuyển dời s - s hoặc s - d. Trong quá trình chuyển dời, spin điện tử giả thiết được bảo toàn và bỏ qua sự trao đổi spin giữa các điện tử s. Nên đóng góp chính vào ρ chính là sự chuyển dời s - d do đó xác suất chuyển dời càng lớn thì ρ càng lớn vì các điện tử có spin ↑ và ↓ đóng góp độc lập vào độ dẫn. Vậy theo mô hình 2 dòng của Mott: Độ dẫn tổng cộng = tổng độ dẫn của điện tử spin ↑ + điện tử spin ↓ z = σs (s= , ) S Với σs =nse2τs/m*s (ns, m* và τs lần lượt là nồng độ, khối lượng hiệu dụng và thời gian hồi phục của điện tử có spin s tương ứng).