MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong gần hai thập niên đầu của thế kỷ 21, bismuth ferrite – BiFeO3 (BFO) là vật liệu multiferroic thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhóm nghiên cứu ở Việt Nam và trên thế giới do nó là một trong số ít vật liệu vừa thể hiện tính sắt điện (TC ~ 1103 K), vừa thể hiện tính phản sắt từ (TN ~ 643 K) ở nhiệt độ phòng và tính sắt từ yếu xuất hiện ở vùng nhiệt độ thấp dƣới khoảng 30K [7], [8], [9]. Nhờ đặc tính đó, BFO có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực chế tạo các nguồn năng lƣợng mới, trong công nghệ cảm biến, kĩ thuật siêu cao tần, chế tạo các bộ nhớ có khả năng lƣu trữ an toàn thông tin, các thiết bị van-spin, các cơ cấu truyền động, các thiết bị truyền thông tốc độ cao, trong lĩnh vực y sinh… [7]. Gần đây, các nghiên cứu về BFO tập chung chủ yếu vào chế tạo và nghiên cứu các tính chất vật lý và hóa học của các hệ vật liệu có cấu trúc nano.
Một hƣớng nghiên cứu rất đƣợc quan tâm đó là pha tạp các nguyên tố kiềm thổ hoặc đất hiếm hoặc kim loại chuyển tiếp nhóm 3d trong các hệ mẫu nano BFO nhằm cải thiện tính chất điện, từ của mẫu. Các ion Bi3+ thƣờng đƣợc thay thế bằng các ion kim loại kiềm thổ nhƣ Sr2+, Ca2+ [10], [13] hoặc các ion đất hiếm thuộc họ Lanthan nhƣ La3+, Sm3+, Gd3+, Ho3+, Pr3+,… [3], [22]. Các ion Fe3+ thƣờng đƣợc thay thể bởi các kim loại chuyển tiếp nhƣ Cr3+, Mn3+, Sc3+, Ti4+, Nb5+,… [1] – [5], [9], [18]. Ghanshyam Arya và các cộng sự tiến hành thay thế một phần Fe3+ (rion= 0,645Å) bởi Mn2+ (rion= 0,46 Å) với tỉ lệ 2,5%, 5% và 7,5% và nhận thấy rằng sự thay thế Mn vào vị trí của Fe3+ có thể làm biến dạng cấu trúc mạng tinh thể, triệt tiêu spin xoắn, từ đó cải thiện tính chất từ của BFO và vật liệu từ trạng thái phản sắt từ ở nhiệt độ phòng sẽ chuyển thành trạng thái sắt từ.
Trong các mẫu nghiên cứu, mẫu có tỉ lệ tạp Mn 5% thể hiện tính sắt điện mạnh nhất [9]. 1 Tác giả Vũ Thị Tuyết cùng nhóm nghiên cứu tại Trƣờng Đại học Sƣ phạm, Đại học Thái Nguyên đã tiến hành chế tạo mẫu bột BiFe1-xMnxO3 với x = 0.10 bằng phƣơng pháp sol-gel với chất nền là citric acid. Kết quả nghiên cứu cho thấy các mẫu có tỉ lệ tạp Mn khác nhau có sự khác nhau về cấu trúc và tính chất từ, trong số các mẫu nghiên cứu cho thấy mẫu tỉ lệ pha tạp 6% không còn xuất hiện các pha thứ cấp và có từ độ bão hòa lớn nhất [5]. Tác giả Hoàng Thị Lệ Thuỷ đã chế tạo hệ mẫu BiFe1-xMnxO3 với x = 0.07 bằng phƣơng pháp sol-gel sử dụng chất nền là axit nitric và axit citric [4].
Kết quả khảo sát đƣờng cong từ trễ chỉ ra rằng mẫu với tỷ lệ tạp Mn 5.5% có từ độ bão hòa lớn nhất. Kết quả nghiên cứu của Tanvir Hussain và các cộng sự trên hệ mẫu bột Bi1-xSrxFeO3 (x = 0.3) chế tạo bằng phƣơng pháp sol-gel với tác nhân tạo phức là glycine chỉ ra rằng từ độ bão hòa của mẫu tăng lên khi thay thế một phần ion Bi3+ bởi ion Sr2+ và đạt giá trị lớn nhất bằng 0.867 emu/g khi tỷ lệ Sr2+/Bi3+ = 3/7 [21]. Jaiparkash cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc và đặc trƣng từ trễ của mẫu Bi1-xSrxFeO3 chế tạo bằng phƣơng pháp phản ứng pha rắn [10]. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi thay thế ion Bi3+ bởi ion Sr2+ với tỷ lệ từ 10% đến 50% thì hình thái hạt và tính chất từ của mẫu thay đổi theo hƣớng tích cực so với mẫu BiFeO3, từ độ bão hòa đạt cực đại bằng 0.9 emu/g khi tỷ lệ Sr2+/Bi3+ = 1 (x = 0.
Kết quả nghiên cứu của Muhammad Amin và cộng sự thực hiện với mẫu Bi0.20) (BFSMO) chế tạo bằng phƣơng pháp sol-gel với tác nhân tạo phức là glycine (NH2CH2COOH) và urea (CO(NH2)2) chỉ ra rằng từ độ bão hòa của mẫu có tỷ lệ x = 0.15 là lớn nhất [14]. Một số nghiên cứu khác trên hệ mẫu BSFMO cũng cho thấy từ độ bão hòa của mẫu đồng pha tạp/thay thế Sr và Mn đƣợc cải thiện đáng kể 2 [15], [20]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này sử dụng các phƣơng pháp chế tạo mẫu khác nhau, tỷ lệ Sr/Bi đều ≤ 10%. Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Chế tạo, nghiên cứu cấu trúc và đặc trƣng từ trễ của mẫu bột Bi1-xSrxFe1-yMnyO3” làm đề tài luận văn.
Hệ mẫu trong nghiên cứu đƣợc chế tạo bằng phƣơng pháp sol-gel với tác nhân tạo phức là axit citric. Mục tiêu nghiên cứu - Chế tạo đƣợc mẫu bột Bi1-xSrxFe1-yMnyO3 (với x = 0,10 và 0,50; y = 0.055 và 0,15) bằng phƣơng pháp sol-gel sử dụng các tác nhân tạo phức là axit citric. - Khảo sát thực nghiệm và xác định đƣợc cấu trúc, đặc trƣng từ trễ của các mẫu chế tạo đƣợc bằng kỹ thuật nhiễu xạ tia X và từ kế mẫu rung. Đối tƣợng nghiên cứu Mẫu bột Bi1-xSrxFe1-yMnyO3 chế tạo bằng phƣơng pháp sol-gel sử dụng các tác nhân tạo phức là axit citric.
Phạm vi nghiên cứu Cấu trúc tinh thể, đƣờng cong từ trễ của mẫu bột Bi1-xSrxFe1-yMnyO3 (với x = 0,10 và 0,50; y = 0.055 và 0,15) ở nhiệt độ phòng. Phƣơng pháp nghiên cứu - Phƣơng pháp lí thuyết: Thu thập, phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin cần thiết từ các tài liệu tham khảo. - Phƣơng pháp thực nghiệm: + Chế tạo mẫu bột nano Bi1-xSrxFe1-yMnyO3 bằng phƣơng pháp sol-gel sử dụng axit citric và axit nitric. + Khảo sát các tính chất về cấu trúc tinh thể và tính chất từ của hệ mẫu BFO bằng nhiễu xạ tia X (XRD) và bằng từ kế mẫu rung VSM.
3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN. Giới thiệu vật liệu multiferoic Vật liệu multiferroic đƣợc xếp vào lớp “các vật liệu thông minh” vì chúng sở hữu các tính chất khác thƣờng. Trong các vật liệu multiferroic xuất hiện đồng thời các tính chất đặc trƣng của các loại vật liệu riêng biệt nhƣ từ hóa tự phát, từ giảo, phân cực điện tự phát, hiệu ứng áp điện. Bên cạnh đó, trong loại vật liệu này còn xuất hiện hiệu ứng từ - điện, nghĩa là từ trƣờng ngoài có thể làm thay đổi phân cực điện của vật liệu và sự từ hóa của vật liệu cũng bị ảnh hƣởng bởi điện trƣờng ngoài.
Các vật liệu multiferroic đƣợc chia làm hai nhóm cơ bản là vật liệu multiferroic đơn pha và vật liệu multiferroic tổ hợp. Vật liệu multiferroic đơn pha là loại vật liệu có cấu trúc đồng nhất nhƣng tồn tại đồng thời các tính chất điện và từ khác nhau. Các vật liệu multiferroic đơn pha thƣờng đƣợc chia thành 2 loại là vật liệu multiferroic loại I và vật liệu multiferroic loại II. Vật liệu multiferroic loại I là loại vật liệu trong đó các tính chất từ và tính sắt điện tồn tại độc lập, không ảnh hƣởng qua lại lẫn nhau.
Các vật liệu multiferroic loại I gồm các nhóm sau đây: Khoáng chất Boracite: Các hợp chất có công thức hóa học M3B7O13X, trong đó M là một kim loại hóa trị hai (thƣờng là Cr, Mn, Fe, Co, Cu, Ni) và X là một trong các nguyên tố Cl, Br, I. Nhóm vật liệu này thƣờng tồn tại đồng thời tính sắt điện và tính phản sắt từ hoặc tính sắt từ yếu. Các vật liệu multiferroic có cấu trúc perovskite ABO3: những vật liệu nhóm này có công thức hợp phần dạng ABO3, trong đó A là các cation kim loại kiềm thổ hoặc nguyên tố đất hiếm nhƣ Ba, Ca, Bi, Y,…, B là các cation kim loại chuyển tiếp nhóm d nhƣ Fe, Co, Cr, Ti,…, O là oxy nhƣng cũng có thể là các nguyên tố khác nhƣ F, Cl. Điển hình trong nhóm vật liệu này có thể kể đến là BaTiO3, EuTiO3, BiFeO3, DyScO3.
Trong nhóm vật 4 liệu này, BiFeO3 đƣợc quan tâm nghiên cứu nhiều trong thời gian gần đây vì chúng sở hữu đồng thời tính sắt điện và tính phản sắt từ hoặc sắt từ yếu ngay ở nhiệt độ phòng. Các manganite có cấu trúc lục giác RMnO3: Công thức hoá học chung của nhóm này có dạng RMnO3, trong đó R là một trong các nguyên tố Ho, Er, Tm, Yb, Lu, Y và Sc. Nhóm vật liệu này mặc dù có sự đồng nhất về công thức hoá học nhƣ nhóm vật liệu perovskite ABO3 nhƣng những vật liệu này lại có cấu trúc hoàn toàn khác. Vật liệu này cũng tồn tại đồng thời cả tính sắt điện và phản sắt từ.
Đƣợc chú ý hơn cả trong nhóm vật liệu này là YmnO3. Nhóm BaMF4: Đây là một nhóm hợp chất có cấu trúc trực thoi, trong đó M là Mn, Fe, Co hoặc Ni. Mạng tinh thể bao gồm các lớp khối bát diện MF6 có chung đỉnh, đƣợc ngăn bởi các lớp nguyên tử Ba. Trong nhóm vật liệu này, nhiệt độ chuyển pha sắt điện rất cao, cao hơn nhiệt độ nóng chảy của các hợp chất, trong khi chuyển pha phản sắt từ - thuận từ xảy ra ở nhiệt độ thấp - dƣới 70 K.
Vật liệu multiferroic loại II là loại vật liệu trong đó tính chất sắt điện đƣợc gây ra bởi cả cấu trúc từ và cấu trúc điện tích của vật liệu. Các nguyên nhân gây ra tính sắt điện của vật liệu này cụ thể nhƣ sau: Tính sắt điện gây ra bởi trật tự từ: Tính sắt điện xuất hiện nhƣ một kết quả của trật tự từ của các ion. Sự thay đổi tính sắt điện đƣợc cho là để phản ứng lại với từ trƣờng ngoài đặt vào, có thể qua yếu tố trung gian là sự thay đổi cấu trúc từ hoặc của các đô men từ. Một vài vật liệu nhóm này có thể kể đến nhƣ TbMnO3, TbMn2O5, Ni3V2O8, CuFe2O4, CoCr2O4,… Tính sắt điện gây bởi trật tự điện tích: Trong các vật liệu multiferroic nhóm này, tính chất sắt điện xuất hiện nhƣ kết quả của sự sắp xếp điện tích trong bên vật liệu.
Trật tự điện tích trong vật liệu điều khiển tính sắt điện – sắt từ là một đặc tính thú vị, hiện tƣợng này phần lớn sảy ra trong một số manganite đất hiếm và ferit. Một số thí dụ về nhóm vật liệu này là 5 LuFe2O4, Pr1-xCaxMnO3, RFe2O3 (R là một trong các đất hiếm từ Dy đến Lu, hoặc Y). Vật liệu multiferroic tổ hợp (multiferroic composite) là vật liệu đƣợc tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu ban đầu khác nhau để tạo thành một vật liệu mới ƣu việt hơn nhiều về một số tính chất so với từng vật liệu thành phần riêng rẽ.