Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê ngành môi trường, hơn 80% lượng nước thải dệt nhuộm công nghiệp chứa các hợp chất màu hữu cơ tổng hợp khó phân hủy sinh học, điển hình như xanh metylen (Methylene Blue). Khi xả thải trực tiếp, các chất này ngăn cản quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh và đe dọa nghiêm trọng đến hệ sinh thái nguồn nước. Trong số các chất bán dẫn quang xúc tác, titan đioxit (TiO2) được đánh giá là vật liệu tiềm năng nhất nhờ độ bền hóa học cao, không độc hại và chi phí thấp. Tuy nhiên, TiO2 nguyên bản tồn tại hai nhược điểm lớn: năng lượng vùng cấm rộng (khoảng 3,15 - 3,25 eV) khiến vật liệu chỉ hấp thụ bức xạ tử ngoại chiếm dưới 5% quang phổ ánh sáng mặt trời, và tốc độ tái tổ hợp của cặp điện tử - lỗ trống quang sinh diễn ra quá nhanh trong khoảng vài nano giây.

Nhằm khắc phục triệt để rào cản này, đề tài nghiên cứu tập trung vào mục tiêu tổng hợp thành công vật liệu nano composite TiO2 biến tính đồng thời bằng hai oxit bán dẫn NiO và CuO với các tỷ lệ khối lượng 0,5%, 1,0%, 1,5%, 3,0% và 5,0%. Nghiên cứu khảo sát toàn diện đặc trưng cấu trúc mạng tinh thể, hình thái học bề mặt, sự chuyển dịch năng lượng vùng cấm và đánh giá hoạt tính quang xúc tác phân hủy phẩm màu xanh metylen dưới nguồn bức xạ khả kiến từ đèn halogen 500W.

Công trình được thực hiện tại Khoa Hóa học thuộc Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, hoàn thành và nghiệm thu vào tháng 08 năm 2020. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu là thiết lập một quy trình công nghệ đơn giản để chế tạo chất quang xúc tác có khả năng khai thác tối đa dải ánh sáng khả kiến (chiếm khoảng 45% năng lượng mặt trời), nâng cao hiệu suất phân hủy chất màu hữu cơ từ mức khởi điểm 4,1% lên 17,8% sau 90 phút chiếu sáng, mở ra giải pháp xanh cho xử lý nước thải công nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai nền tảng lý thuyết cốt lõi của hóa học vật liệu bán dẫn:

Thứ nhất là lý thuyết quang xúc tác bán dẫn dị thể. Khi chất bán dẫn TiO2 hấp thụ một photon có năng lượng lớn hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm, electron sẽ nhảy từ vùng hóa trị (VB) lên vùng dẫn (CB), sinh ra cặp electron dẫn và lỗ trống mang điện dương. Lỗ trống trên bề mặt TiO2 sở hữu thế oxy hóa rất cao (+2,53 V so với điện cực hydro chuẩn ở pH = 7), dễ dàng phản ứng với nước và ion hydroxyl để tạo gốc tự do hydroxyl (HO•) có hoạt tính oxy hóa cực mạnh. Đồng thời, electron trên vùng dẫn với thế khử -0,52 V sẽ khử phân tử oxy hòa tan thành anion superoxit (O2•-), hình thành chuỗi phản ứng phân hủy triệt để các phân tử hữu cơ thành CO2 và H2O.

Thứ hai là mô hình tiếp xúc dị thể dị loại p-n giữa TiO2 (bán dẫn loại n) và các oxit NiO, CuO (bán dẫn loại p). Khi tiếp xúc, sự chênh lệch mức năng lượng tạo nên một điện trường nội tại ở mặt tiếp giáp, thúc đẩy electron di chuyển sang CuO và giữ lỗ trống ở lại TiO2. Cơ chế này kéo dài thời gian sống của các hạt tải điện, hạn chế quá trình tái tổ hợp electron - lỗ trống và tạo ra các mức năng lượng tạp chất làm dịch chuyển bờ hấp thụ quang về vùng bước sóng dài.

Các khái niệm chính được vận dụng bao gồm: năng lượng vùng cấm quang học (Eg), cấu trúc tinh thể tứ diện pha anatase, diện tích bề mặt riêng và hiệu ứng dịch chuyển đỏ (red-shift).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn nguyên liệu chuẩn gồm bột TiO2 thương mại tinh khiết và dung dịch muối nitrat Cu(NO3)2 0,1M, Ni(NO3)2 0,1M. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 5 mẫu composite biến tính x% (NiO, CuO)/TiO2 với x lần lượt là 0,5%; 1,0%; 1,5%; 3,0%; 5,0% khối lượng và 1 mẫu đối chứng TiO2 nguyên chất. Phương pháp chọn mẫu thực nghiệm dựa trên nguyên tắc tẩm ướt dung dịch đồng lượng thể tích chính xác từ 0,625 ml đến 6,67 ml dung dịch muối trên 1 gam TiO2 nền.

Quy trình chế tạo gồm các bước: khuấy từ gia nhiệt hỗn hợp ở nhiệt độ 80°C trong 3 giờ, sấy khô mẫu tại 80°C trong 12 giờ và nung thiêu kết ở nhiệt độ 500°C trong 5 giờ với tốc độ nâng nhiệt ổn định 5°C/phút.

Lý do lựa chọn hệ thống phân tích hiện đại:

  • Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) trên máy D8 Advance - Bruker (góc quét 2θ từ 20° đến 70°) nhằm định danh chính xác thành phần pha tinh thể.
  • Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) trên thiết bị JEM1010 JEOL với độ phóng đại cao để quan sát trực tiếp hình thái và kích thước hạt nano dưới 50 nm.
  • Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) trên máy JEOL JSM-2300V để định tính và định lượng sự có mặt của các nguyên tố Ti, O, Ni, Cu.
  • Phổ phản xạ khuếch tán UV-Vis (DRS) trên máy Hitachi U-4100 nhằm xác định chính xác bờ hấp thụ và độ rộng vùng cấm Eg.
  • Phổ hấp thụ phân tử UV-Vis trên máy Shimadzu UV-1700 để đo mật độ quang tại bước sóng cực đại 663 nm của xanh metylen trong quá trình phân hủy.

Toàn bộ quy trình thực nghiệm và phân tích dữ liệu được triển khai chặt chẽ trong mốc thời gian từ cuối năm 2019 đến tháng 08 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã mang lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá:

Thứ nhất, vật liệu bảo toàn trọn vẹn cấu trúc pha anatase có hoạt tính quang hóa cao nhất. Giản đồ XRD của toàn bộ 5 mẫu x% (NiO, CuO)/TiO2 đều xuất hiện các đỉnh nhiễu xạ sắc nét tại các góc 2θ = 25,28°; 37,79°; 48,05°; 53,89°; 55,09°; 62,68° và 68,76° tương ứng với các mặt tinh thể (101), (111), (200), (105), (211), (204) và (116) chuẩn của anatase (JCPDS). Việc đưa NiO và CuO vào mạng nền không làm thay đổi hay biến dạng cấu trúc tinh thể, đồng thời không xuất hiện pic riêng lẻ của oxit pha tạp do hàm lượng nhỏ và độ phân tán cao.

Thứ hai, kích thước hạt nano đạt độ đồng đều tối ưu. Ảnh hiển vi TEM của mẫu đại diện 5% (NiO, CuO)/TiO2 ghi nhận các hạt xúc tác có dạng hình học đồng nhất với kích thước trung bình khoảng 30 nm. Kết quả này chứng minh quá trình biến tính tẩm ướt và nung ở 500°C không gây hiện tượng kết tụ hạt. Phổ EDX xác nhận mẫu chỉ chứa 4 nguyên tố Ti, O, Ni và Cu đúng tỷ lệ thiết kế.

Thứ ba, sự mở rộng dải hấp thụ ánh sáng khả kiến mạnh mẽ. Phổ DRS cho thấy dù bờ hấp thụ cơ bản nằm tại bước sóng 394 nm (tương ứng Eg = 3,15 eV), nhưng cường độ hấp thụ trong dải khả kiến (400 - 800 nm) tăng vọt theo tỷ lệ phần trăm NiO và CuO. Mẫu 5% (NiO, CuO)/TiO2 đạt khả năng hấp thụ ánh sáng nhìn thấy cao nhất, vượt trội hoàn toàn so với mẫu TiO2 trắng thuần túy.

Thứ tư, hoạt tính quang xúc tác tăng trưởng tỷ lệ thuận với thời gian chiếu xạ. Sau khi đạt cân bằng hấp phụ trong bóng tối ở phút thứ 30, dưới tác dụng của đèn halogen 500W, hiệu suất phân hủy xanh metylen (nồng độ 10 mg/l) của mẫu 0,5% (NiO, CuO)/TiO2 đạt 4,1% sau 30 phút, 10,1% sau 60 phút và 15,7% sau 90 phút. Đặc biệt, mẫu 1,0% (NiO, CuO)/TiO2 nâng hiệu suất lên tương ứng là 5,9% (30 phút), 11,8% (60 phút) và đạt 17,8% (90 phút), tức tốc độ xử lý nhanh hơn 13,3% so với mẫu 0,5% tại cùng mốc thời gian.

Thảo luận kết quả

Hiệu quả quang xúc tác vượt trội của vật liệu được giải thích bởi cơ chế bẫy điện tử và phân tách hạt mang điện tại mặt tiếp xúc dị thể. Các phân tử CuO và NiO phân bố trên bề mặt TiO2 đóng vai trò như các trạm trung chuyển điện tử, tiếp nhận các electron kích thích từ vùng dẫn của TiO2, ngăn chặn electron tái hợp với lỗ trống. Điều này giúp kéo dài thời gian sống của lỗ trống tự do để tạo thêm nhiều gốc hydroxyl HO• oxy hóa phẩm màu.

Khi so sánh với các nghiên cứu đơn pha tạp trước đây, hệ đồng xúc tác NiO - CuO thể hiện ưu thế vượt trội nhờ hiệu ứng hiệp đồng giữa hai kim loại chuyển tiếp, vừa thu hẹp dải hấp thụ quang học vừa cải thiện tính dẫn điện bề mặt.

Dữ liệu nghiên cứu được trực quan hóa mạch lạc thông qua bảng đối chiếu hằng số mạng tinh thể giữa anatase (a = 3,78 Å, c = 9,49 Å) và rutile (a = 4,58 Å, c = 2,95 Å), kết hợp cùng biểu đồ cột thể hiện động học phân hủy quang H(%) theo các mốc thời gian 30 - 60 - 90 phút. Cách trình bày này giúp làm nổi bật mối quan hệ nhân quả giữa tỷ lệ biến tính oxit và tốc độ suy giảm mật độ quang của chất ô nhiễm.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đạt được, luận văn đưa ra 4 giải pháp hành động cụ thể nhằm thúc đẩy khả năng ứng dụng thực tiễn của vật liệu:

  1. Tối ưu hóa công nghệ chế tạo ở quy mô bán công nghiệp: Mở rộng mẻ tổng hợp vật liệu từ quy mô phòng thí nghiệm 1 gam lên quy mô pilot 500 gam đến 1 kg mỗi mẻ, kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ nung 500°C và tốc độ gia nhiệt 5°C/phút nhằm đảm bảo kích thước hạt ổn định ở mức 30 nm. Lộ trình thực hiện trong 6 tháng, do các nhóm nghiên cứu vật liệu tại các trường đại học và viện chuyên ngành chủ trì.

  2. Thử nghiệm xử lý nước thải dệt nhuộm thực tế: Ứng dụng mẫu xúc tác 5% (NiO, CuO)/TiO2 để xử lý mẫu nước thải công nghiệp thực tế có chỉ số COD vượt ngưỡng 200 mg/l và chứa hỗn hợp nhiều phẩm màu hữu cơ, hướng tới mục tiêu làm sạch trên 85% chất hữu cơ dưới ánh sáng mặt trời tự nhiên trong thời gian 120 phút. Thời gian thực hiện trong vòng 12 tháng, do các kỹ sư môi trường phối hợp cùng doanh nghiệp dệt may triển khai.

  3. Nghiên cứu cố định hóa vật liệu xúc tác lên giá thể: Phát triển kỹ thuật phủ màng nano composite lên các bề mặt cố định như thủy tinh, gốm xốp hoặc lưới thép không gỉ nhằm loại bỏ công đoạn ly tâm tách bột sau xử lý, đảm bảo khả năng tái sử dụng xúc tác trên 10 chu kỳ với độ suy giảm hoạt tính dưới 5%. Kế hoạch thực hiện giai đoạn 2021 - 2023, do các chuyên gia công nghệ hóa học đảm nhiệm.

  4. Đánh giá độc tính sản phẩm trung gian và hoàn thiện quy chuẩn: Ứng dụng kỹ thuật sắc ký khối phổ lỏng (LC-MS) để phân tích chi tiết các hợp chất trung gian trong quá trình quang phân hủy, đảm bảo phản ứng chuyển hóa hoàn toàn chất độc hại thành CO2 và H2O an toàn trước khi xả thải. Dự kiến hoàn thành trong 9 tháng, do các phòng thí nghiệm trọng điểm môi trường thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn thạc sĩ này là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hóa vô cơ, Khoa học Vật liệu: Tiếp cận quy trình thực nghiệm chi tiết về phương pháp tẩm ướt kết hợp xử lý nhiệt để tổng hợp vật liệu nano composite, làm cơ sở khoa học cho các đề tài biến tính quang xúc tác trên nền bán dẫn.

  2. Kỹ sư công nghệ môi trường và vận hành trạm xử lý nước thải: Vận dụng các thông số kỹ thuật (liều lượng xúc tác 50 mg/50 ml, nồng độ xanh metylen 10 mg/l, thời gian hấp phụ 30 phút) để thiết kế các module phản ứng quang hóa tiên tiến (AOPs) tận dụng ánh sáng mặt trời trong xử lý nước thải công nghiệp.

  3. Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các viện, trường đại học: Bổ sung nguồn số liệu thực chứng phong phú và các phân tích chuyên sâu về giản đồ XRD, ảnh TEM, phổ EDX và phổ phản xạ khuếch tán DRS vào giáo trình giảng dạy chuyên đề vật liệu nano và xúc tác quang hóa.

  4. Doanh nghiệp sản xuất sơn, vật liệu xây dựng và màng phủ tự làm sạch: Khai thác nguyên lý biến tính TiO2 bằng NiO và CuO để phát triển các dòng sơn phủ quang xúc tác hoặc gốm sứ thông minh có khả năng diệt khuẩn, khử mùi và tự làm sạch bề mặt dưới ánh sáng đèn chiếu sáng trong nhà.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao cần biến tính TiO2 đồng thời bằng cả hai oxit NiO và CuO thay vì sử dụng riêng lẻ? Sự kết hợp đồng thời NiO và CuO tạo nên hệ đồng xúc tác dị thể p-n tối ưu trên nền TiO2. Cơ chế này vừa mở rộng khả năng hấp thụ quang học sang dải ánh sáng khả kiến (400 - 800 nm), vừa tạo hiệu ứng bẫy điện tử kép, ngăn chặn tái tổ hợp electron - lỗ trống hiệu quả hơn nhiều so với việc chỉ biến tính bằng một oxit đơn lẻ.

  2. Cấu trúc pha tinh thể anatase có ưu thế gì vượt trội so với rutile trong xúc tác quang? Pha anatase có thế đáy vùng dẫn ở mức -0,52 V, âm hơn đáng kể so với mức 0,00 V của pha rutile. Điều này cung cấp thế khử cực mạnh để chuyển hóa phân tử oxy hòa tan thành anion superoxit O2•-. Kết quả XRD khẳng định tất cả các mẫu nghiên cứu đều bảo toàn 100% pha tinh thể anatase với kích thước hạt 30 nm.

  3. Mục đích của việc khảo sát cân bằng hấp phụ trong bóng tối 30 phút là gì? Các vật liệu nano có diện tích tiếp xúc lớn luôn có khả năng bám hút chất màu. Khảo sát mẫu 5% (NiO, CuO)/TiO2 trong bóng tối chứng minh quá trình hấp phụ đạt cân bằng sau 30 phút với độ hấp phụ rất nhỏ, giúp loại trừ hoàn toàn yếu tố hấp phụ vật lý để đo lường chính xác hiệu suất quang phân hủy thực tế.

  4. Tỷ lệ biến tính NiO và CuO nào đem lại khả năng hấp thụ ánh sáng nhìn thấy tốt nhất? Theo kết quả phổ phản xạ khuếch tán UV-Vis DRS, mẫu 5% (NiO, CuO)/TiO2 thể hiện khả năng hấp thụ ánh sáng khả kiến mạnh nhất trong dải bước sóng từ 400 đến 800 nm. Cường độ hấp thụ tăng tuyến tính theo phần trăm khối lượng oxit biến tính bổ sung vào mạng nền.

  5. Việc sử dụng nguồn sáng từ đèn halogen 500W mang lại ý nghĩa thực tế như thế nào? Đèn halogen 500W cung cấp phổ bức xạ liên tục mô phỏng dải quang phổ khả kiến của ánh sáng mặt trời tự nhiên. Kết quả mẫu 1,0% (NiO, CuO)/TiO2 đạt hiệu suất phân hủy 17,8% sau 90 phút dưới đèn halogen chứng minh vật liệu hoàn toàn có khả năng hoạt động hiệu quả ngoài trời mà không cần đến nguồn phát tia UV nhân tạo đắt đỏ.

Kết luận

  • Tổng hợp thành công hệ vật liệu nano composite x% (NiO, CuO)/TiO2 với các tỷ lệ biến tính chính xác từ 0,5% đến 5,0% bằng phương pháp tẩm ướt kết hợp xử lý nhiệt ở 500°C trong 5 giờ.
  • Giữ nguyên cấu trúc tinh thể pha anatase bền vững của TiO2 nền với kích thước hạt nano phân bố đồng đều khoảng 30 nm và thành phần hóa học tinh khiết.
  • Mở rộng mạnh mẽ vùng hấp thụ quang học sang dải ánh sáng nhìn thấy (400 - 800 nm), trong đó mẫu 5% (NiO, CuO)/TiO2 thể hiện khả năng hấp thụ bức xạ khả kiến cao nhất.
  • Gia tăng rõ rệt hoạt tính quang xúc tác phân hủy phẩm màu xanh metylen dưới ánh sáng đèn halogen 500W, đạt hiệu suất 17,8% sau 90 phút đối với mẫu 1,0% (NiO, CuO)/TiO2, vượt trội so với mức 15,7% của mẫu 0,5%.
  • Xác lập quy trình công nghệ điều chế đơn giản, chi phí thấp, tận dụng hiệu quả nguồn năng lượng mặt trời cho xử lý môi trường.

Luận văn đã đóng góp một giải pháp khoa học thực tiễn trong việc phát triển vật liệu quang xúc tác dị thể thế hệ mới. Trong giai đoạn 2021 - 2022, các nghiên cứu tiếp theo cần đẩy mạnh việc phủ màng composite lên giá thể cố định và thử nghiệm trên nước thải dệt nhuộm thực tế. Hãy kết nối và chia sẻ công trình này tới cộng đồng nghiên cứu khoa học vật liệu để cùng thúc đẩy các ứng dụng công nghệ xanh vào đời sống.