Chương I TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về từ điện trở khổng lồ 1.1 Điện trở của kim loại Điện trở của kim loại là do sự tán xạ của điện tử dẫn với các nguyên tử tạp chất hay dao động mạng tinh thể (phonon). Trong trường hợp chung, có thể hiểu điện trở suất của kim loại dưới dạng định luật Mathiesen[1].1) Trong đó ρph là thành phần do tán xạ bởi phonon, còn ρ i là thành phần tán xạ bởi các loại sai hỏng tĩnh (gồm các tạp chất và các sai hỏng cấu trúc). Đối với các kim loại từ tính, chẳng hạn như các kim loại sắt từ, còn có thêm thành phần của ρ m do những tán xạ có nguồn gốc từ tính.
Chẳng hạn như trong các kim loại này, tồn tại mạng spin của các spin định xứ ở nút mạng và thực hiện tương tác trao đổi với điện tử dẫn. Do đó có thể viết điện trở suất của các kim loại sắt từ dưới dạng: ρ = ρ ph + ρi + ρ m (1.2) Ở nhiệt độ 0K, tất cả các spin ở nút mạng đều song song với nhau, tạo ra trường thế tuần hoàn nên không gây ra tán xạ điện tử. Khi đó thành phần ρ m = 0. Ở nhiệt độ cao mạng spin dao động gây nên sự tán xạ bất thường trong các kim loại sắt từ, dẫn đến thành phần ρm ≠ 0.
Vì thế điện trở suất trong các kim loại sắt từ nói chung thường cao hơn so với các kim loại thường. Ở vùng nhiệt độ cao, ρm bằng: * 2 3π m I0 S(S + 1) 1 M 2 ρm = 2neε F −M 2 (1.3) 0 trong đó e, n và m* tương ứng là điện tích, nồng độ và khối lượng hiệu dụng của điện tử, I 0 là đại lượng đặc trưng cho tương tác trao đổi giữa mạng spin -9- và điện tử dẫn, S là spin ở mỗi nút mạng và ε F là năng lượng Fermi. M và M0 là độ từ hóa của kim loại sắt từ ở nhiệt độ T và 0K. Như vậy, nếu T > T C , M = 0, dẫn đến ρm = const.
Còn khi T < TC (trật tự sắt từ), M ≠ 0 thì ρ m ∼ T2 1.2 Hiệu ứng từ điện trở thường OMR (Ordinary Magneto Resistance) Hiệu ứng từ điện trở thường quan sát thấy ở các kim loại và theo nguyên tắc tồn tại ở mọi kim loại và thường là hiệu ứng dương (điện trở tăng theo từ trường tác dụng lên mẫu). Hiệu ứng này được giải thích như sau: Dưới tác dụng của từ trường ngoài, hạt dẫn chịu tác dụng của hiệu ứng Hall, lực Lorentz làm hạt dẫn có thêm thành phần chuyển động tròn so với phương dòng điện và thành phần này không đóng góp vào dòng điện (vận tốc trung bình bằng không trong một chu trình) cho đến khi bị tán xạ. Sau khi bị tán xạ, hạt dẫn tham gia chuyển động tròn tiếp theo. Như vậy, thời gian hồi phục càng lớn (điện trở càng thấp) thì ảnh hưởng của từ trường ngoài lên điện trở càng lớn.3 Hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR-Ansitropic Magneto Resistance) Hiệu ứng AMR là hiệu ứng xảy ra khi điện trở của mẫu thay đổi khác nhau dưới tác dụng của từ trường ngoài theo các phương khác nhau so với dòng điện.
Hiệu ứng AMR xảy ra đối với các kim loại sắt từ, hơn nữa sự thay đổi của điện trở suất trong hiệu ứng AMR cũng lớn hơn nhiều so với OMR, lên đến vài phần trăm. Ví dụ, ở màng mỏng Fe tỷ số MR ∼ 0.2%, hay ở màng Ni là ∼ 2% và pecmalôi (hợp kim NiFe) là một trong những loại vật liệu từ có tỷ số MR lớn nhất đạt được khoảng 4-5%. Màng pecmalôi đã từng được sử dụng rộng rãi làm các cảm biến từ trường, đặc biệt là đầu từ MR. Khác với các kim loại thường, do các kim loại sắt từ có cấu trúc domen nên dưới tác dụng của từ trường ngoài, ngay cả khi có cường độ nhỏ cũng dẫn đến làm tăng rất mạnh từ trường nội của mạng tinh thể vì từ độ tự phát ở các - 10 - domen từ sắp xếp lại song song với nhau theo phương từ trường ngoài.
Vì thế hiệu ứng MR trong các kim loại sắt từ còn do tương tác của điện tử dẫn với từ trường nội, lớn hơn nhiều so với từ trường ngoài tác dụng. Hiệu ứng MR gây ra bởi sự tương tác này luôn có mặt ngay khi không có từ trường ngoài (gọi là từ điện trở tự phát). Bản chất vật lý của AMR được giải thích dựa trên mô hình hai dòng của Mott và mô hình của J.Smit về liên kết spin-quĩ đạo (liên kết Spin- Orbital) và J.Smit cho rằng bản chất của AMR là liên kết SO khi hệ spin tương tác với mạng tinh thể. Mô hình hai dòng của Mott được trình bày ở phần sau, Mô hình của J.Smit có thể tìm thấy trong [7].1 minh họa hiệu ứng dị hướng của điện trở suất đối với phương từ trường tác dụng của các kim loại sắt từ, trường hợp a) từ trường song song với dòng điện, trường hợp b) từ trường vuông góc với dòng điện, ρs// và ρs⊥ là các giá trị bảo hoà.
Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng từ điện trở dị hướng (AMR), hiệu ứng này là phổ biến cho tất cả các kim loại sắt từ.1: Sự thay đổi điện trở suất của kim loại sắt từ theo từ trường ngoài 1.4 Hiệu ứng từ điện trở khổng lồ GMR (Giant Magneto Resistance) - 11 - 1.1 Đôi nét lịch sử về hiệu ứng từ điện trở khổng lồ Hiện tượng từ điện trở (Magneto Resistance-MR) lần đầu tiên tìm thấy vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XIX bởi Lord Kelvin. Hiện tượng MR là hiện tượng thay đổi điện trở của vật dẫn hoặc bán dẫn dưới tác dụng của từ trường ngoài. Sự thay đổi này thường vào khoảng vài phần nghìn và được giải thích là do tác dụng của từ trường ngoài làm điện tích thay đổi hướng chuyển động. Vào năm 1988 một nhóm của Albert Fert của trường Đại học tổng hợp Nam Paris[5] đã quan sát được sự thay đổi 50% của điện trở suất của màng đa lớp dưới tác dụng của từ trường ngoài (hình 1.2), với cấu trúc [Fe(30A0)/Cr(9A0)]40 nghĩa là các lớp Fe, Cr dày tương ứng là 30A0 và 9A0 và hệ gồm 40 lớp kép, đây là một sự thay đổi lớn chưa từng được quan sát thấy từ trước đến nay.2: (a)Từ điện trở của ba siêu mạng Fe/Cr đo ở nhiệt độ 4.
Dòng điện và từ trường cùng được đặt dọc theo phương tinh thể [110] trong mặt phẳng của các lớp[5] (b)Cấu trúc của một siêu mạng từ. - 12 - Vì vậy mà hiệu ứng này được gọi là hiệu ứng từ điện trở khổng lồ (Giant Magneto Resistance-GMR). Gọi như vậy không phải chỉ bởi sự ‘khổng lồ’ của sự thay đổi điện trở mà còn bởi cơ chế hoàn toàn mới của hiện tượng này, ‘Cơ chế tán xạ phụ thuộc spin của các điện tử dẫn’. Sau đó không lâu vào đầu những năm 90, hiệu ứng từ trở khổng lồ (GMR) được quan sát thấy trong các hệ đơn lớp còn được gọi là hệ dạng hạt, do một nhóm của A.
Young của trường đại học California (Hình 1.3: Đường cong GMR của hệ hợp kim dạng hạt Co-Cu Sau những khám phá này nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành đối với cả hai hệ màng đa lớp và màng dạng hạt và cũng đã thu được hiệu ứng GMR rất lớn, ví dụ như vào năm 1991 nhóm SSP. Parkin lần đầu tiên chế tạo hệ màng mỏng đa lớp đa tinh thể Co/Cu bằng phương pháp phún xạ với các lớp Co và Cu dày khoảng cỡ 8-10A 0, hiệu ứng GMR đo ở từ - 13 - trường 10(kOe) đạt được 65% ở nhiệt độ phòng và 115% ở 4. Năm 1992 nhóm của John Q Xiao, J.Samuel Jiang và C. Chien chế tạo màng đơn lớp Co/Cu và hiệu ứng đạt được là 13% ở nhiệt độ 5K và 8% ở nhiệt độ phòng[24].Belien chế tạo hệ đa lớp [Fe(4,5)/Cr(12)] 50 với lớp sắt rất mỏng, kết quả tại 1,5K hiệu ứng GMR >220%, ở 300K là 42%[25].
Đối với tình hình trong nước cho đến nay hiệu ứng GMR được nghiên cứu vẫn còn ít chủ yếu là hai nhóm: Một của GS.TS Nguyễn Hoàng Nghị chế tạo băng Co-Cu bằng phương pháp nguội nhanh ngoài không khí, cho kết quả GMR khoảng 5.5% ở nhiệt độ phòng[2,4] và nhóm thứ hai là của TS. Nguyễn Anh Tuấn, nhóm này tiến hành chế tạo vật liệu GMR dạng màng mỏng bằng phương pháp phún xạ RF chủ yếu với hai hệ Co-Cu và Co-Ag đơn lớp và ba lớp, kết quả cho hiệu ứng GMR khoảng 3-4% đối với màng ba lớp và 2,5% với màng đơn lớp[1,3]. Cho đến nay hiệu ứng GMR đã được nghiên cứu rất kỹ và hoàn thiện cả về hiệu ứng lẫn mô hình lý thuyết, sau đây là phần trình bày của một số mô hình lý thuyết giải thích cơ chế vật lý của hiệu ứng GMR.2 Một số mô hình giải thích hiệu ứng GMR Mô hình hai dòng Mott Mott nhận thấy rằng khi nhiệt độ T<Tc , spin của hạt dẫn (điện tử) được bảo toàn trong hầu hết các tán xạ. Nguyên nhân của hiện tượng này là, dưới nhiệt độ Cuire T c số magnon, nguyên nhân gây nên quá trình “trộn” 2 trạng thái spin up và down, sinh ra ít.
Vì vậy các hạt dẫn có spin up và spin down tạo nên hai kênh tương ứng song song với nhau. Mô hình hai dòng này có thể được biểu diễn bằng mạch song song, trong đó điện trở Hình 1.4: Mô hình hai kênh dẫn - 14 - suất của hai loại hạt dẫn được ký hiệu là ρ↑ và ρ↓ (Hình 1. Vì vậy điện trở suất của mẫu là: ρ↑ρ↓ ρ= (1.4) ρ ↑ +ρ ↓ Với ρ↑ và ρ↓ được tính theo biểu thức sau: m* ρ = (1.6) Trong đó: n là nồng độ, m* là khối lượng hiệu dụng ,τ là thời gian hồi phục của điện tử, Vtx là thế tán xạ của tâm tán xạ đối với điện tử. Nguồn gốc nội tại của sự phụ thuộc spin của ρ liên quan đến sự phụ thuộc spin của n, m* tại mức Fermi của điện tử dẫn.
Nguồn gốc bên ngoài liên quan đến sự phụ thuộc spin của thế tạp chất hoặc thế sai hỏng. Trong vật dẫn đơn chất, điện trở suất là tổng các đóng góp từ các tán xạ của hạt dẫn trên phonon, tạp chất, tán xạ s-d, và các tán xạ khác. Như vậy, điện trở suất của kênh up và kênh down có thể khác nhau do: m* khác nhau, n khác nhau, τ khác nhau, mật độ trạng thái tại mức Fermi N ( E F ) của các điện tử có spin up và spin down khác nhau.