Chương 1 - Tiêu chí Nhận diện và phân loại từ ngữ Hán Việt trong tác phẩm Lục Vân Tiên và dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc DẪN LUẬN Trong quá trình xây dựng nền văn chương tiếng Việt, dù là bình dân hay bác học, các thi nhân, dịch giả song ngữ Việt – Hán cũng đã để lại những thành quả đáng kể trên lĩnh vực hoạt động sáng tạo nghệ thuật ngôn từ. Trong đó, nổi bật nhất chính là lớp từ ngữ Hán mang vỏ ngữ âm Hán Việt. Tuy cùng là sản phẩm của sự giao lưu, tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ – văn hóa Việt – Hán, và được coi là một bộ phận trong toàn bộ từ Việt gốc Hán, nhưng ở lớp từ ngữ Hán Việt này lại thể hiện sắc thái trang trọng hơn so với lớp từ Việt gốc Hán nói chung. Cho nên, sự phân biệt giữa từ Hán Việt và từ Việt gốc Hán, cũng như tìm hiểu sơ lược về nhân tố tiêu biểu đã hình thành lớp từ ngữ Hán Việt là vấn đề cần thiết để tiến hành nghiên cứu một cách có hiệu quả về từ ngữ Hán Việt trong tác phẩm Lục Vân Tiên và dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc.
PHÂN BIỆT TỪ VIỆT GỐC HÁN VÀ TỪ HÁN VIỆT Theo các tác giả Nguyễn Ngọc San (Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử, tr. 141–167) và Đặng Đức Siêu (Dạy và học từ Hán Việt ở trường phổ thông, tr. 9 – 44) thì tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt ngay từ đầu Công nguyên, nhưng vì tiếng Việt vốn đã có cơ sở vững chắc và hoạt động một cách phổ biến, nên tiếng Hán cũng chỉ hành chức với tư cách là một sinh ngữ. Ở những giai đoạn này, một số lẻ tẻ từ tiếng Hán đọc âm Hán Thượng cổ như : bùa, mây, muỗi, đục, đuốc v.
được người Việt vay mượn để lấp vào những chỗ thiếu hụt trong nói năng giao tiếp hàng ngày. Những từ này được gọi là từ tiền Hán Việt. Đến khi tiếng Hán văn ngôn truyền sang Việt Nam và người Việt đã cải biên, sáng tạo ra một hệ thống ngữ âm Hán Việt hoàn chỉnh, đồng thời chủ động sử dụng phổ biến trong hành chánh, khoa cử và sáng tác thì tiếng Hán không còn là một sinh ngữ nữa. Nó trở thành một thứ ngôn ngữ viết quen thuộc trong thế song hành với ngôn ngữ nói hàng ngày của người Việt lúc bấy giờ.
Ở giai đoạn này, nhiều từ ngữ tiếng Hán văn học 11 biểu thị các khái niệm trừu tượng của các phái Nho, Thích, Lão như : trung hiếu, qui y, tinh thần v. cũng được người Việt học hỏi và vay mượn để điền vào những khoảng trống trong ngôn ngữ văn học của mình. Những từ này đều hành chức trong tiếng Việt bằng âm Hán Việt nên được gọi là từ Hán Việt. Trong những giai đoạn tiếp theo, tiếng Việt vẫn có sự biến chuyển về ngữ âm và luôn tác động vào bộ phận từ ngữ Hán Việt, nhất là những từ trong sinh hoạt đời thường, làm cho nó phái sinh ra những âm mới, như: : kính gương, bổn vốn, hoạch vạch v.
Những từ này cũng có các nét nghĩa và phong cách khác với từ Hán Việt và thường được gọi là từ Hán Việt Việt hóa. Nhìn chung, sở dĩ tiếng Việt có sức sống trường cửu và sức dung nạp to lớn như thế là vì nó luôn có sự thanh lọc các yếu tố ngoại ngữ theo phương hướng thích dụng. Trong đó, đặc biệt nhất là lớp từ ngữ Hán Việt. Với sức sản sinh khá cao, chúng có một khả năng dồi dào để tham gia tạo từ mới, nhằm cung ứng cho nhu cầu diễn đạt những khái niệm mới của người Việt.
Chính vì vậy, lớp từ ngữ Hán Việt này thường xuyên xuất hiện trong hệ thống từ vựng tiếng Việt với tư cách là những thành viên thực sự suốt bao thế kỷ qua, vừa đóng vai trò quan trọng trong hoạt động ngôn ngữ của người Việt, lại vừa có thể giữ được bộ mặt Hán Việt tương ứng với ba phạm trù : hình – âm – nghĩa của chữ Hán. Trong văn vần, lớp từ ngữ Hán Việt này luôn chiếm ưu thế về sắc thái trang nhã, đài các; đồng thời, với ý nghĩa phong phú, dồi dào nó còn có đủ khả năng diễn đạt những tư duy của người Việt một cách cô đúc theo số chữ hạn định cũng như niêm luật bằng trắc, tạo ra âm điệu trầm bổng, du dương theo từng thể loại truyện thơ và khúc ngâm thuần tuý Việt Nam. Và đây cũng chính là lớp từ ngữ Hán Việt hiện diện trong tác phẩm Lục Vân Tiên và dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc mà luận văn đặt trọng tâm nghiên cứu. NHÂN TỐ TIÊU BIỂU HÌNH THÀNH LỚP TỪ NGỮ HÁN VIỆT Khách quan mà nói thì nhờ vào quá trình tiếp xúc tốt đẹp giữa hai ngôn ngữ Việt – Hán ở Việt Nam trung đại đã dẫn tới sự hình thành một trạng thái song ngữ luôn có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ dân tộc và ngoại ngữ.
Trạng thái song ngữ phối hợp này có thể gọi là trạng thái song ngữ văn hóa. Nó chính là con đường để người Việt tiến hành 12 Việt hóa những yếu tố ngôn ngữ Hán mà trước hết là phải kể đến các thi nhân, dịch giả luôn đặt tiếng Việt lên hàng đầu khi cần sử dụng từ ngữ tiếng Hán. Trong những thời kỳ nền Hán học Việt Nam trung đại hình thành và phát triển mạnh mẽ, lớp từ ngữ Hán Việt lại càng được định hình và phát huy tác dụng từ trong lòng tiếng Hán sang tiếng Việt qua sự tác động sâu sắc của các nhà trí thức Đại Việt. Nói rõ hơn, khi ngôi trường đại học đầu tiên mang tên Quốc tử giám do người Việt thành lập vào năm 1076, chương trình giáo dục ở đây chủ yếu là giảng dạy một cách tập trung và có hệ thống về các văn bản tiếng Hán.
Thế nhưng, trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, cũng như trong các tư liệu liên quan đến lịch sử Việt Nam đều không thấy ghi về việc người Việt thời đó phải mời chuyên gia ngoại quốc sang giảng dạy. Tình hình này cho thấy tiếng Việt đương thời đã có đủ khả năng giúp người dạy và người học tiếp cận, lí giải cũng như trình bày, diễn giảng những nội dung sâu rộng thuộc các lĩnh vực văn hóa chính trị và văn học nghệ thuật trong các sách vở tiếng Hán văn ngôn. Chính những phương thức tổ chức có quy củ, có hệ thống chặt chẽ về việc học hành, thi cử trong nhà trường là cơ sở khoa học khiến cho lớp từ ngữ Hán Việt trong tiếng Việt càng được bổ sung, tăng cường thêm nhiều về mặt số lượng, đồng thời cũng giúp cho lớp từ ngữ Hán Việt này hoạt động một cách chuẩn xác và có hiệu quả hơn về mặt chất lượng. Như vậy, có thể nói bộ phận Hán ngữ liên quan, gắn bó với việc hình thành lớp từ ngữ Hán Việt chính là hệ thống từ vựng tiếng Hán thuộc thể văn ngôn.
Đó là một thứ ngôn ngữ viết phản ánh những nét đặc trưng tiêu biểu của tiếng Hán thuộc loại hình đơn lập, âm tiết tính; quan hệ ngữ pháp của nó được biểu đạt bằng trật tự sắp đặt trước sau của từ và bằng sự vận dụng thích đáng một số hư từ. Trong hệ thống từ vựng tiếng Hán văn ngôn, từ đơn âm chiếm ưu thế tuyệt đối về mặt số lượng. Tương ứng với đặc điểm này, về mặt chữ viết thì các chữ vuông Hán phần lớn đều là những đơn vị hoàn chỉnh bao hàm cả ba mặt : kí hiệu văn tự – ý nghĩa – âm đọc. Những từ được biểu thị bằng một chữ vuông như vậy đa số đều là những từ nòng cốt trong vốn từ vựng cơ bản tiếng Hán, chúng có khả năng bảo tồn ý nghĩa nguyên khởi cho đến ngày nay.
Từ ghép trong tiếng Hán văn ngôn xuất hiện muộn hơn, và thường là được hình thành qua phương thức ghép hai từ đơn đơn âm độc lập lại 13 với nhau thành một chỉnh thể. Theo phương thức tạo từ này, càng về sau từ ghép tiếng Hán xuất hiện càng nhiều và càng đa dạng hơn. Từ ghép Hán vừa phong phú về nội dung, vừa đa dạng về sắc thái, nên khi hành chức trong tiếng Hán, chúng có thể đạt tới chỗ “lời ít ý nhiều”, “ý ở ngoài lời” rất mực tinh tế, hàm súc. Khi đi vào tiếng Việt và trở thành từ ngữ Hán Việt, lớp từ ngữ tiếng Hán văn ngôn này tất nhiên cũng đã trải qua nhiều biến cải.
Dù là vậy, những ưu điểm của chúng về mặt kết cấu ngữ nghĩa, về công năng biểu đạt v. phần lớn vẫn được lưu giữ, cho nên chúng đã góp phần làm cho tiếng Việt phát triển thuận lợi, mạnh mẽ hơn về nhiều mặt. Tóm lại, trong những thời kỳ hiện hành của nền song ngữ Việt – Hán, con đường chủ yếu mà ngôn ngữ – văn tự Hán có thể du nhập một cách thuận lợi vào tiếng Việt chính là con đường gắn bó với những sinh hoạt ngôn ngữ theo phương thức chuyển hóa của người Việt thuộc hai hệ: văn chương bác học và văn chương bình dân. Về phương diện này có thể minh chứng qua tác phẩm Lục Vân Tiên và dịch phẩm Chinh phụ ngâm khúc.
Hai ngòi bút song ngữ Việt – Hán kiệt xuất là Trọng Phủ tiên sinh và Hồng Hà nữ sĩ, mặc dù một bên là sáng tác một bên là dịch thuật, song họ cũng đều thể hiện tài năng độc đáo trong việc chuyển hóa các ngữ liệu văn học Hán, cũng như sử dụng từ ngữ Hán Việt một cách tự nhiên, thông thoáng, làm giàu thêm cho tiếng Việt văn học. KHÁI NIỆM TỪ NGỮ HÁN VIỆT Từ ngữ Hán Việt là một thực thể hiển nhiên, có vai trò quan trọng trong hai văn bản nghệ thuật nói riêng và trong tiếng Việt nói chung, cho nên từ trước đến nay cũng có không ít đáp án mang tính đại đồng tiểu dị nhằm trả lời cho câu hỏi: từ Hán Việt là gì ? Theo các sách Từ vựng học tiếng Việt (Nguyễn Thiện Giáp. Nxb Giáo Dục 1998, tr. 241-248) và Tiếng Việt 6 nâng cao (Diệp Quang Ban (chủ biên).
Nxb Giáo dục. Hà Nội, 1999, tr. 36) thì chỉ các “từ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán Việt” mới là “từ Hán Việt”, nhằm phân biệt với các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt. Như vậy là, hai tác giả trên đều dựa vào tiêu chí ngữ âm Hán Việt để minh định từ ngữ Hán Việt và gạt ra ngoài những từ ngữ cũng mượn từ tiếng Hán song không đọc theo âm Hán Việt.
Sự phân định từ ngữ Hán Việt theo tiêu chí ngữ âm tiếng Hán đời Đường là có sức thuyết phục.