Chương 1 NHUNG VAN DE CHUNG VE TU HAN VIET VA CA DAO NAM BO 1.1 KHAI QUAT VE TU HAN VIET 1.1 Khai niém tir Han Viét Khái niệm từ Hán Việt cho đến nay vẫn là một khái niệm chưa được nhất trí mặc dù cả những người nghiên cứu văn học lẫn những người nghiên cứu ngôn ngữ đều quan tâm đến nó. —_ Theo Nguyễn Thị Thu Thủy trong quyền bài giảng Từ vựng học tiếng Việt có viết “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán đời Đường - Tống được biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt. Do thông qua con đường sách vở là chủ yếu, những từ Hán Việt được hình thành một cách có hệ thống, biểu đạt những khái niệm cân thiết cho việc giao tế lúc đó, nhất là trong ngôn ngữ viết. Xét về mặt nội dung, có thể thấy từ Hán Việt được sử dụng để biểu đạt những khải niệm thuộc nhiễu lĩnh vực khác nhau như chính trị, kinh tế, khoa học, tôn giáo.
63] —_ Tác giả Lê Đình Khân cũng nói đến khái niệm từ Hán Việt trong quyển Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt: "Từ Hán Việt là lớp từ Hán mà tiếng Việt vay mượn từ đời Đường và đựa trên cơ sở âm đọc ở Trường An là âm đọc chính lúc bấy giò. Một số tác giả cho rằng, có thể âm đọc Hán Việt là sự phản ánh ngữ âm đời Đường được dùng để dạy chữ Hán trên địa bàn Giao Châu vào khoảng thế kỷ thứ VII - IX”. 29] —_ Ngoài ra, quyên bài giảng này còn đưa ra khái niệm: “7 Hán Việt là lớp từ tiếng Việt mượn tiếng Han, doc theo dm Han Việt. Cách đọc này có từ đời Đường, là kết quả trực tiếp của sự giao thoa ngôn ngữ giữa tiếng Trung Quốc đời Đường với tiếng Việt cùng thời điểm.
Sau đời Đường, hẳu hết các từ mượn Hán qua con đường sách vở được người Việt đọc theo cách này và đi vào kho từ vựng tiếng Việt được coi là từ Hán Việt”. 29] — Nguyễn Thiện Giáp, trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt đã khẳng định: “Các ừ ngữ gốc Hán đọc theo âm Hán - Việt, gọi tắt là từ Hán - Việt”. 241-242] — Trong Từ vựng học tiếng Việt Nguyễn Thiện Giáp có nói: “Cách đọc Hán- Việt là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam của người Việt Nam. Cách đọc đó phản ánh dạng ngữ âm của chữ Hán đời Đường được day va hoc ở Việt Nam lúc bấy giờ: Tất nhiên, so với dạng ngữ âm của chữ Hán đời Đường thì cách đọc Hán Việt cũng đã được Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thời đó ”.
242] Tóm lại, dù được hiểu theo cách này hay cách khác, thì từ Hán Việt nhìn chung lại là những từ có nguồn gốc từ đời Đường của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam do giao lưu văn hóa và ngôn ngữ. Những từ này có âm đọc theo âm Hán Việt, nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, có tác động đến ngữ âm của tiếng Việt và dùng đề diễn đạt nhiều nội dung khác nhau trong ngôn ngữ.2 Đặc điểm từ Hán Việt 1.1 Đặc điểm về nội dung Do sự du nhập của từ Hán Việt vào nước ta chủ yếu qua con đường sách vở và được dùng để thi cử trong các triều đại phong kiến nên từ Hán Việt về mặt nội dung có các đặc điểm riêng như: —_ Màu sắc phong cách: thường được dùng trong giao tiếp nghi thức; một số từ Hán Việt do tính chất cổ kính và không thông dụng nên chỉ xuất hiện trong một số phong cách ngôn ngữ như báo chí và phong cách ngôn ngữ hành chính. — Sắc thái ý nghĩa: Các từ Hán Việt cũng biểu đạt một khái niệm như từ thuần Việt có nghĩa tương đương nhưng từ Hán Việt lại có sắc thái ý nghĩa trừu tượng và khái quát, mang tính chat tĩnh tại, không sinh động gợi hình. Hiểu rõ đặc điểm này sẽ giúp ta vận dụng thích hợp hơn trong từng ngữ cảnh.
— Sắc thái biểu cảm: Đại đa số từ Hán Việt có sắc thái biểu cảm đương tính tạo tính chất thanh nhã khi sử dụng trong môi trường giao tiếp nghỉ thức mà nó có.2 Đặc điểm về hình thức s* Về mặt ngữ âm: Do tiếng Hán Trung cổ ở thế kỷ VIII - IX không thật sự tương xứng về lượng và chất với hệ thống ngữ âm tiếng Việt thời kỳ ấy, cho nên khi bị Việt hóa, nó vẫn giữ lại dau ấn ngoại lai nhất định về mặt ngữ âm trong cách đọc âm Hán Việt. Chẳng hạn, trong cách đọc âm Hán Việt, không có phụ âm đầu /y/ (g/gh) va /z/ (rt). Sự phân bố vần và thanh điệu trong các âm tiết cũng không hoàn toàn như nhau. Nhờ vậy, ta có thể dựa vào những đặc điểm ngữ âm đó đề nhận điện từ Hán Việt.
* Về mặt ngữ pháp: Có những từ đơn tiết Hán Việt được Việt hóa trong thời gian dài và hòa nhập sâu vào lời ăn tiếng nói của người Việt nên rất khó nhận ra nó là từ ngoại lai. Đối với từ đa tiết Hán Việt lại có đặc điểm ngữ pháp rất đặc trưng: — Trong các từ ghép chính phụ Hán Việt thì thành tố phụ đứng trước, thành tố chính đứng sau còn từ thuần Việt thì hoàn toàn ngược lại. Có trường hợp từ ghép chính phụ Hán Việt có thành tố chính chỉ hoạt động đứng trước, thành tố phụ bổ sung ý nghĩa nào đó cho thành tố chính đứng sau nhưng các kết hợp này không bao giờ thay đổi trật tự như: hợp lý, hiếu danh, bãi chức, thất học. — Những từ ghép đắng lập Hán Việt như: hạnh phúc, cơ hàn, phú quý, phong phú, trang nghiêm.
khác với từ ghép đẳng lập thuần Việt ở vị trí các thành tố cấu tạo hầu như cố định trừ vài trường hợp như giản đơn = đơn giản, đấu tranh = tranh đấu. —_ Trong vốn từ đa âm tiết Hán Việt có một số yếu tố (tiền tổ hay hậu tố) có khả năng sản sinh như: sĩ, giả, viên, nhân, phi, vô, sở, bắt,. Ví dụ: chiến sĩ, bác sĩ, thạc sĩ, tiễn sĩ,.; khán giả, thính giả, đọc giả,.; giáo viên, thành viên, hội viên,.; phạm nhân, tội nhân, công nhân, thương nhân,.; phi lí, phi nghĩa, phi pháp,.; vô lý, vô cảm, vô tội,.; sở trường, sở đoản, sở hữu, sở nguyện,.; bắt công, bat động sản, bắt trắc,.3 Phân biệt từ Hán Việt và từ thuần Việt Do quá trình hình thành và phát triển của từ Hán Việt trải dài theo lịch sử phát triển của dân tộc. Đến nay từ Hán Việt đã chiếm hơn nửa tổng số từ tiếng Việt và hòa nhập ngày càng sâu vào lời ăn tiếng nói của dân tộc ta nên việc phân biệt từ Hán Việt với từ thuần Việt không phải 1a dé dàng.
Tuy nhiên cũng có một số cách để phân biệt như: —_ Khi có một chữ có nghĩa nhưng không hoạt động thành một từ được mà chỉ làm thành một bộ phận của từ thì đó là một chữ Hán Việt. 7 Vi dụ: Chúng ta đều biết các chữ “øJấ/” là một, “nhị” là hai, “nhân” là người, “giz” là nhà, “gốc” là nước nhưng các chữ này không bao giờ đứng một mình làm thành từ. Ta chỉ nói “ôi có một chiếc xe” chử không thể nói “2ởôi có nhất chiếc xe” hay nói “?ôi yêu nước” chứ không nói “?ôi yêu quốc ”. Vậy “nhất”, “nhị”, “nhân”, “gia”, “quốc” là các chữ Hán Việt.
— _ Nếu có một chữ mà ta không hiểu nghĩa, không làm thành từ, lại xuất hiện trong hai từ có một sự giống nhau nào đó về nghĩa thì đó là chữ Hán Việt. Ví dụ: Chữ “#zơng” xuất hiện một mình ta không hiểu nghĩa của nó chính xác là gì nhưng khi thấy có hai chữ như “„ê hương” hay “hương thôn” thì ta thấy chữ “#ương” có nghĩa liên quan tới làng xóm và chữ “#ơng” không làm thành từ. Nếu dừng lại ở đây thì các từ “đo” trong “đo đỏ” hay “xí?” trong “a xit” cũng là chữ Hán Việt vì chúng cũng không thể đứng một mình để tạo được từ nên ngoài việc đòi hỏi một chữ Hán Việt xuất hiện ít nhất là hai từ thì cần phải có thêm điều kiện là hai từ đó phải có một sự giống nhau nào đó về nghĩa. Vậy chỉ có “hương ” là chữ Hán Việt.
Từ hai cách trên ta có thể phân biệt được ba phần tư chữ Hán Việt ở trong tiếng Việt. Còn một phần tư còn lại thì có thể làm thành từ như “ôøg”, “?iển”, “đảng”, “quân”. vậy ta có thêm cách thứ ba. —_ Trong một từ Hán Việt thì các yếu tố, các chữ của nó đều là Hán Việt.
Nếu ta tạo nên một từ có một yếu tố theo cách hiểu ở trên (không đứng một mình thành từ, dùng đề tạo nên ít nhất là hai từ) thì mặc dầu chữ này có thể làm thành một từ, đây cũng không phải là chữ thuần Việt mà là Hán Việt. Ví dụ: chữ “ôøg” có khả năng đứng một mình nhưng trong “#ø⁄ ông” thì “ngư” lại không thể đứng một mình, vậy “ông” ở đây là chữ Hán Việt. Tương tự các chữ “đảng” có “đảng kì” thì “kì” là chữ Hán Việt; “iên” có “tiển tệ”, “quân” có “quân trang”. Từ những cách này chúng ta không cần học chữ Hán Việt cũng có thể nhận diện chúng.
Riêng đối những ai không quen làm việc với cấu tạo từ thì chúng tôi có thêm các cách sau: md be, — Chúng ta chắp thêm các chữ “øhát”, “hữu”, “vô”, “đân”, “nhân”, “bất” ở trước hoặc sau các chữ mà ta cân xét. Ví dụ: chữ “ích” là từ Hán Việt vì ta có “hữu ích”, “đao ” là từ Hán Việt va ta có “nhân đạo”, “quyên” cũng vậy vì có “nhân quyên”, “học” vì có “vô học”, ‘ 3 “tài” vì có “bát tài”. —_ Ta cần nhớ các từ Hán Việt không có các phụ âm đầu bằng “r” và “ø”; ee nes không có âm “ø” trừ bôn trường hợp “sơn”, “hợp”, “thời” và “đơn”; không có từ Hán Việt việt với vân “#m” trừ “kửz”; không có chữ việt với vân “ảâng” và “ác”; không có chữ Hán Việt nào viết với “oe” ngoài “#ỏe” trong “cáp hòe”; không có ene chữ Hán Việt nào việt với “ø” trừ van « ” oc” (nhu hoc, troc) va “ong (nhu trong vong) — Ngoai cdc trường hợp trên ta còn có các vần không có trong chữ Hán Việt: “ v3, + Với nguyên âm “z”: oam, oap, oac, oay, uao, ay, au. + Với nguyên âm “ă”: ăp, ăm, ät, oăn, oăm, oăp, oắt.
+ Với nguyên âm “ê”: êm, êp, êt, êch, êu, uên, uêt, uêy. coo + Với nguyên âm “i”: im (trit chit “kim” trong “kim c6”, “kim khí”), ip, it, iu. + Với nguyên âm “2”: ôm, ôp, ôt. + Với nguyên âm “2”: um, un, ut, ui.