Luận văn thạc sĩ về đặc điểm trầm tích biển Đồ Sơn phục vụ xây dựng công trình biển

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu đặc điểm trầm tích trên cơ sở địa chấn nông phân giải cao khu vực bán đảo đồ sơn phục vụ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2017

100
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

1.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO

1.3. ĐẶC ĐIỂM KHÍ HẬU

1.4. ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN, HẢI VĂN

1.4.1. Đặc điểm thủy văn

1.4.2. Đặc điểm hải văn

1.5. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT

1.5.1. Trước Đệ tứ

1.6. ĐẶC ĐIỂM KIẾN TẠO

2. CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ, CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

2.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

2.2. CƠ SỞ TÀI LIỆU

2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu hiện trường

2.3.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu trong phòng

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

3.1. ĐỘ SÂU VÀ BỀ DÀY TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.2. ĐẶC ĐIỂM TRƯỜNG SÓNG VÀ TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.2.1. Đặc điểm trường sóng khu vực nghiên cứu

3.3. ĐẶC ĐIỂM TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.3.1. Giai đoạn Pleistocen sớm (Q11)

3.3.2. Giai đoạn Pleistocen giữa (Q12)

3.3.3. Giai đoạn Pleistocen muộn (Q13b)

3.3.4. Giai đoạn Holocen sớm – giữa (Q21-2)

3.3.5. Giai đoạn Holocen muộn (Q23)

3.4. MỐI TƯƠNG QUAN TRẦM TÍCH ĐỆ TỨ VỚI PHÂN LOẠI ĐẤT TRONG ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH VÀ GIẢI PHÁP XỬ LÝ PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

4.1. HIỆN TRẠNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN KHU VỰC BÁN ĐẢO ĐỒ SƠN

4.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN

4.2.1. Phân loại cấp độ đất

4.2.2. Đánh giá đặc điểm trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn

4.2.3. Một số vấn đề địa chất công trình

4.3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU PHỤC VỤ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH BIỂN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn phục vụ xây dựng

Nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn là một lĩnh vực quan trọng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng ven biển. Khu vực này có đặc điểm địa chất phức tạp, với nhiều loại trầm tích khác nhau. Việc hiểu rõ về trầm tích không chỉ giúp trong việc thiết kế công trình mà còn đảm bảo an toàn cho các dự án xây dựng. Đặc biệt, trầm tích biển Đồ Sơn có ảnh hưởng lớn đến các công trình xây dựng như cảng biển, đường ống cấp nước và các dự án khác.

1.1. Đặc điểm địa chất khu vực Đồ Sơn

Khu vực Đồ Sơn có cấu trúc địa chất đa dạng, bao gồm nhiều loại trầm tích với tuổi và nguồn gốc khác nhau. Đặc biệt, sự xuất hiện của tầng đất yếu trên bề mặt gây ra nhiều thách thức cho các công trình xây dựng. Việc nghiên cứu địa chất là cần thiết để đánh giá khả năng chịu tải và độ ổn định của nền đất.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu trầm tích

Nghiên cứu trầm tích không chỉ giúp xác định các đặc điểm vật lý và hóa học của đất mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc lập kế hoạch xây dựng. Điều này giúp giảm thiểu rủi ro và chi phí cho các dự án xây dựng trong tương lai.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về trầm tích biển Đồ Sơn, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết. Các vấn đề như lún, xói lở và sự biến đổi của địa hình biển đang gây ra nhiều khó khăn cho các công trình xây dựng. Việc thiếu tài liệu khảo sát địa chất công trình cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các sự cố trong xây dựng.

2.1. Các vấn đề địa chất công trình

Các vấn đề như lún nền đất và xói lở bờ biển đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Những tai biến này không chỉ ảnh hưởng đến an toàn của các công trình mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế. Việc đánh giá đúng tình trạng địa chất là rất quan trọng để đưa ra các giải pháp khắc phục hiệu quả.

2.2. Thiếu hụt tài liệu khảo sát

Nhiều công trình xây dựng chưa được khảo sát địa chất đầy đủ, dẫn đến việc áp dụng các giải pháp không phù hợp. Việc thiếu tài liệu khảo sát địa chất công trình ven biển là một thách thức lớn trong việc đảm bảo an toàn cho các dự án xây dựng.

III. Phương pháp nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn hiệu quả

Để nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn, cần áp dụng các phương pháp hiện đại như địa chấn nông phân giải cao kết hợp với khảo sát địa chất công trình. Những phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về đặc điểm trầm tích và tình trạng địa chất của khu vực.

3.1. Phương pháp địa chấn nông phân giải cao

Phương pháp địa chấn nông phân giải cao cho phép xác định cấu trúc địa chất dưới đáy biển một cách chính xác. Kỹ thuật này giúp phát hiện các lớp trầm tích và đánh giá độ ổn định của nền đất, từ đó đưa ra các giải pháp xây dựng phù hợp.

3.2. Khảo sát địa chất công trình

Khảo sát địa chất công trình là bước quan trọng trong việc đánh giá tình trạng đất. Việc thu thập mẫu đất và phân tích các chỉ tiêu vật lý, hóa học giúp xác định khả năng chịu tải và độ ổn định của nền đất, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý nền đất yếu.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn

Nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn trong xây dựng. Các kết quả nghiên cứu giúp cải thiện thiết kế và thi công các công trình biển, đồng thời giảm thiểu rủi ro và chi phí cho các dự án.

4.1. Cải thiện thiết kế công trình

Thông qua việc hiểu rõ đặc điểm trầm tích, các kỹ sư có thể thiết kế các công trình phù hợp với điều kiện địa chất cụ thể. Điều này giúp tăng cường độ bền và an toàn cho các công trình xây dựng.

4.2. Giảm thiểu rủi ro trong xây dựng

Nghiên cứu trầm tích giúp xác định các khu vực có nguy cơ cao về lún và xói lở, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Việc này không chỉ bảo vệ an toàn cho công trình mà còn giảm thiểu thiệt hại kinh tế.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn

Nghiên cứu trầm tích biển Đồ Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững cơ sở hạ tầng ven biển. Tương lai của nghiên cứu này cần được tiếp tục mở rộng, áp dụng các công nghệ mới và cải thiện quy trình khảo sát để đảm bảo an toàn cho các công trình xây dựng.

5.1. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về đặc điểm trầm tích và mối liên hệ với địa chất công trình. Việc áp dụng công nghệ mới sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong khảo sát địa chất.

5.2. Tăng cường hợp tác nghiên cứu

Hợp tác giữa các cơ quan nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp xây dựng là cần thiết để nâng cao chất lượng nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn. Điều này sẽ góp phần phát triển bền vững cho khu vực Đồ Sơn.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đặc điểm trầm tích trên cơ sở địa chấn nông phân giải cao khu vực bán đảo đồ sơn phục vụ xây dựng công trình biển

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Chƣơng 2. Lịch sử, cơ sở tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Đặc điểm trầm tích khu vực bán đảo Đồ Sơn Chƣơng 4.

Một số vấn đề địa chất công trình và giải pháp xử lý phục vụ xây dựng công trình biển khu vực bán đảo Đồ Sơn Kết luận và kiến nghị 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Bán đảo Đồ Sơn nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 22,0 km về phía Đông Nam với tổng diện tích đất tự nhiên là: 4.248,07 ha và 22,5 km bờ biển. Phía Tây và Tây Bắc giáp quận Dƣơng Kinh, huyện Kiến Thụy Phía Nam và phía Đông giáp vùng biển vịnh Bắc Bộ Phía Đông Bắc giáp với cửa sông Lạch Tray và huyện đảo Cát Hải Phía Tây Nam giáp với cửa sông Văn Úc Hình 1. Sơ đồ vị trí các lỗ khoan và các tuyến địa chấn khu vực nghiên cứu Với ƣu thế về vị trí địa lý, bán đảo Đồ Sơn có nét đặc trƣng riêng so với các quận, huyện khác trong thành phố Hải Phòng, có vai trò quan trọng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng khu vực Bắc Bộ nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng.

4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH, ĐỊA MẠO Đồ Sơn là vùng đất quy tụ tƣơng đối đầy đủ các loại địa hình cơ bản: đồi, đồng bằng, bờ và đáy biển. Toàn bộ địa hình cơ bản trên lại đƣợc phân bố trong một không gian lục địa - biển - đảo. Do vậy, địa hình Đồ Sơn khá phong phú về kiểu loại, đa dạng về nguồn gốc [8].

Địa hình đồi của Đồ Sơn cao không quá 130 m, chia thành ba bậc: Bậc trên cùng cao 80 ÷ 127 m gồm các đỉnh Vạn Hƣơng, Ngọc Xuyên, Chòi Mòng, Đồ Sơn, liên kết với nhau thành dãy kéo dài theo phƣơng tây bắc - đông nam, có lẽ đƣợc hình thành và nâng cao từ cuối Đêvôn - đầu Pleistocene. Bề mặt thứ hai cao 40 ÷ 70 m gồm các đỉnh Ba Đì, Nà Hầu, Bến Tầu, Ba Phúc, kéo dài thành dãy theo phƣơng tây bắc - đông nam và Hòn Dáu, có lẽ đƣợc hình thành và nâng cao vào Pleistocene giữa. Bề mặt thứ ba cao 20 ÷ 30 m gồm các đỉnh Núi Độc, Đỉnh Vung, Bến Thốc có lẽ đƣợc nâng cao vào đầu Pleistocene muộn. Sƣờn và chân các đồi núi phổ biến các vách mài mòn cũ của sóng các thềm biển tích tụ, tích tụ mài mòn hoặc mài mòn có độ cao khác nhau.

Địa hình đồi cấu tạo chủ yếu bằng các đá trầm tích hệ tầng Đồ Sơn rất rắn chắc. Đỉnh dạng vòm tƣơng đối bằng phẳng, đƣờng chia nƣớc không rõ, sƣờn thẳng hoặc hơi lồi, đƣờng nét trơn tru, thƣờng dốc 15 ÷ 20o. Trên các đỉnh và sƣờn đồi, nƣớc mƣa đã bóc mòn, rửa trôi các sản phẩm phong hoá và vận chuyển dần xuống dƣới chân đồi, tạo nên dải tích tụ hẹp ven các chân đồi. Địa hình nguồn gốc hỗn hợp biển sông, trong đó sông và bồi tích sông đóng vai trò chủ đạo, gồm hầu hết đồng bằng phía trong đê biển, trừ các đê cát ở Ngọc Hải, đƣợc bồi tụ trong thời gian khoảng 2.

Đồng bằng Đồ Sơn khá bằng phẳng, độ cao trung bình 1,0 ÷ 1,2 m, hầu hết đất đang còn chua mặn, trừ vùng ven chân đồi và các dải cồn cát ở Vạn Sơn, Ngọc Xuyên. Địa hình có hƣớng chung thấp dần về phía đông, đông nam, độ nghiêng bề mặt đồng bằng rất nhỏ, <30', những nơi sát chân đồi và cồn cát cổ, góc dốc bề mặt tăng lên 1 ÷ 2o. Bề mặt địa hình có tính tƣơng phản rõ với các địa hình đồi núi xung quanh và với sự có mặt của các đê cát cổ, chạy dài thành tuyến theo hƣớng tây bắc - đông nam. Đồng bằng cồn bãi hình thành khoảng 7 thế kỷ trƣớc, nằm sát biển ở đông nam khu vực, thuộc 4 xã Tú Sơn, Đoàn Xá, Đại Hợp, Bàng La.

Đồng bằng cao 2 ÷ 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 m, gồm 2 dãy với nhiều cồn nằm phân cách nhau qua các lạch trũng thấp, trong đó có cửa Đại Bàng, một cửa lạch lớn giữa địa phận hai xã Bàng La và Đại Hợp. Đồng bằng nguồn gốc vụng biển (lagoon) nằm ở Đông Bắc khu vực, thuộc một số xã nhƣ Tân Phong, Đại Đồng, Anh Dũng, Hợp Đức. và khu kinh tế mới đƣờng 14. Vụng biển đƣợc hình thành và bồi lấp kể từ khi có các cồn bãi chắn ngoài.

Hiện đây là nơi trũng thấp chua mặn nhất Hải Phòng, độ cao bề mặt chỉ 0,5 ÷ 0,8 m. Trầm tích bề mặt chủ yếu là bột sét và cát bột màu vàng nâu. Dƣới bề mặt 30 ÷ 40 cm có lớp sét dẻo quánh, xám xanh, có chỗ chứa vô số thân xác thực vật ngập mặn. Đồng bằng nguồn gốc hỗn hợp đầm lầy - biển phân bố hạn chế ở phía bắc thị xã, nơi vốn là một vùng biển cổ bị lấp đầy trong khoảng 700 ÷ 1.

Độ cao bề mặt đồng bằng thƣờng 0,5 ÷ 0,8 m. Trầm tích cấu tạo bề mặt đồng bằng là bột sét, cát bột màu xám, xám nâu dẻo quánh. Nằm sâu dƣới bề mặt 20 ÷ 40 cm thƣờng bắt gặp lớp sét bột hoặc cát bột màu xám xanh dẻo quánh chứa nhiều di tích thân rễ thực vật ngập mặn và các hợp chất lƣu huỳnh ở dạng khử. Địa hình tích tụ do sóng gồm các bậc thềm biển tích tụ - mài mòn phân bố ở các độ cao khác nhau, tuổi thềm càng lớn thì thềm phân bố càng cao.

Thềm bậc III cao 10 ÷ 15 m, đá gốc thƣờng nằm dƣới mặt thềm một vài mét. Ở tây bắc núi Nà Hầu, thềm có dạng yên ngựa, dài 200 ÷ 300 m, rộng 100 ÷ 150 m, cấu tạo từ cuội, sỏi cát, bột màu nâu vàng, gắn kết yếu. Các chỗ khác thềm hẹp, chỉ rộng vài chục mét, cấu tạo từ cát thạch anh màu xám trắng. Thềm bậc II cao 4 ÷ 6 m, có thể đƣợc cấu tạo từ cát trắng, xám vàng chứa vỏ sò ốc hoặc từ cuội sạn sỏi tạo thành các dải hẹp, ngắn ven các cung bờ lõm của đồi núi, dƣới chân núi Ngọc Xuyên, Đồ Sơn, Ba Đì, Bến Sét, hoặc nằm trên các yên ngựa giữa các đỉnh đồi thấp kế nhau.

Diện tích các mảng thềm có thể rộng tới 10 ha (khu II Đồ Sơn). Mặt thềm thƣờng có lớp phủ mỏng cuội, sỏi, sạn cát nằm trên nền đá gốc, một vài nơi tảng đá gốc nhô cao trên bề mặt thềm. Thềm bậc I cao 3 ÷ 3,5 m, là bậc thềm trẻ nhất và còn đang đƣợc bảo tồn khá tốt, cấu tạo bề mặt là cát hạt nhỏ màu vàng xám đôi chỗ lẫn vỏ sinh vật biển. Thƣờng gặp những mảng thềm rộng từ vài mét tới 200 ÷ 300 m, dài vài trăm mét nằm kế sát các vách sóng cũ.

Một số nơi thềm có dạng hỗn hợp tích tụ - mài mòn, cấu tạo từ các vật liệu hạt thô nhƣ cuội, sỏi, đá gốc nổi cao trên mặt. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đê cát ở Ngọc Hải cao 3,5 ÷ 4 m, rộng từ 50 m đến vài trăm mét, dài một vài km. Lớp cát nhỏ nằm trên dày 50 ÷ 80 cm, màu xám, có độ mài mòn tròn, chọn lọc tốt, lớp cát nằm dƣới có màu vàng, dày 200 ÷ 250 m, chứa nhiều vỏ sò ốc biển, dƣới 300 m là lớp bùn màu nâu. Đê cát ở Bàng La chỉ cao 2 ÷ 2,5 m hình thành sau đê cát Ngọc Hải trong cơ chế biển lùi, vào giai đoạn phát triển đồng bằng tam giác châu Bắc Bộ mở rộng tới Yên Lập.

Địa hình bờ biển và bờ đảo Đồ Sơn gồm hai kiểu đặc trƣng: Kiểu bờ tích tụ, thấp, bằng phẳng bao gồm các đoạn bờ cát, bờ bùn đƣợc trải rộng, nghiêng thoải ra phía biển. Bãi cát biển đƣợc cấu tạo bởi cát lục nguyên hạt nhỏ màu xám độ chọn lọc tốt. Cát của bãi tắm I và II có thành phần độ hạt tƣơng đối đồng nhất, cát của bãi III có thành phần phức tạp hơn gồm nhiều cấp hạt, độ phân tuyển cũng kém hơn bãi I và II. Kiểu tích tụ - mài mòn với những vách xâm thực dốc đứng cao một vài chục mét nhô ra biển, nằm xen kẽ với các cung lõm tích tụ, phân bố chủ yếu trên đoạn bờ của bán đảo Đồ Sơn và đảo Hòn Dáu.

Dƣới chân các vách dốc đứng là các bãi đá tảng, cuội, rộng khoảng trăm mét khi thuỷ triều hạ thấp nhất, nghiêng thoải về phía biển. Theo nguyên tắc nguồn gốc hình thái, bờ biển ở khu vực đƣợc phân thành kiểu ứng với ba đoạn sau: Đoạn phía bắc bán đảo thuộc kiểu bờ thuỷ triều - rừng ngập mặn, nằm trong phạm vi vùng cửa sông hình phễu Bạch Đằng, đƣờng bờ bị chia cắt phức tạp và lõm lùi đáng kể về phía lục địa trong vòng 5 ÷ 7 thế kỷ qua. Đoạn bờ ở khu bán đảo Đồ Sơn thuộc kiểu tích tụ - mài mòn do sóng, phổ biến các thềm biển bãi biển, các vách mài mòn do sông. Bờ đang phát triển theo hƣớng mài mòn các mũi nhô, bồi tụ các bãi ở các cung lõm để đạt tới cân bằng trắc diện dọc.

Đoạn ở phía tây nam bán đảo Đồ Sơn từ cửa Họng tới cửa Văn Úc thuộc kiểu bờ châu thổ nhƣng tốc độ bồi lấn ra biển chậm. Hiện nay, đoạn bờ này đang bị xói lở mạnh dù đƣờng 0 m hải đồ vẫn tiến ra phía biển. Địa hình tích tụ do thuỷ triều gồm: Bãi biển cao ngoài đê quốc gia, cao 0 ÷ 0,5 m, khá bằng phẳng, bề mặt đƣợc phủ một lớp trầm tích sét bột màu nâu xám, chỉ bị ngập khi thuỷ triều từ trung bình đến cực đại, thực vật ngập mặn phát triển tốt. Bãi triều thấp: cao trung bình (-) 0,5 ÷ 1,1 m, khá bằng phẳng, thƣờng xuyên ngập triều, trừ khi triều rút thấp, hoàn toàn vắng bóng thực vật ngập mặn.

7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Địa hình tích tụ hỗn hợp triều - sóng và hải lƣu ven bờ gồm: Tích tụ bờ ngầm, từ độ sâu 6 m trở vào, do sóng bị biến dạng mạnh khi ma sát với đáy. Vật liệu trầm tích từ các cửa sông đƣa ra đƣợc dòng triều và các dòng chảy ven bờ phát tán ra xa cửa sông và lan toả vào ven biển. Bề rộng của bờ ngầm tới 6 ÷ 7 km. Vật liệu tích tụ của bờ ngầm chủ yếu là cát bột, bùn bột màu nâu hồng.

Tích tụ biển nông ven bờ nằm trong khoảng độ sâu 6 m tới 20 ÷ 25 m.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ