Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học tổng hợp hydrocarbon trên cơ sở phản ứng fischer tropsch từ khí tổng hợp trên xúc tác cobalt

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu công nghệ hóa học tổng hợp hydrocarbon từ khí tổng hợp qua phản ứng Fischer-Tropsch trên xúc tác cobalt.

Trường đại học

Đại học Bách Khoa

Chuyên ngành

Công nghệ Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2010

99
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hydrocarbon và khí tổng hợp

Nghiên cứu về hydrocarbon từ khí tổng hợp thông qua phản ứng Fischer-Tropsch với xúc tác cobalt đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong công nghệ hóa học. Quá trình này không chỉ giúp chuyển hóa khí tổng hợp thành các sản phẩm hữu ích mà còn góp phần vào việc phát triển các nguồn năng lượng bền vững. Khí tổng hợp là hỗn hợp khí chủ yếu bao gồm carbon monoxide (CO) và hydrogen (H2), có thể được sản xuất từ nhiều nguồn khác nhau như khí hóa than đá hoặc sinh khối. Việc sử dụng xúc tác cobalt trong phản ứng Fischer-Tropsch đã cho thấy hiệu suất cao trong việc sản xuất hydrocarbon lỏng, đặc biệt là các sản phẩm C5+ có giá trị kinh tế cao. Theo nghiên cứu, xúc tác cobalt có khả năng hoạt động tốt ở nhiệt độ và áp suất cao, giúp tối ưu hóa quá trình chuyển hóa khí tổng hợp thành hydrocarbon.

1.1. Tính chất và ứng dụng của hydrocarbon

Các sản phẩm hydrocarbon từ phản ứng Fischer-Tropsch có nhiều ứng dụng trong ngành công nghiệp, đặc biệt là trong sản xuất nhiên liệu lỏng. Hydrocarbon có thể được sử dụng để sản xuất xăng, dầu diesel và các hóa chất khác. Việc chuyển hóa khí tổng hợp thành hydrocarbon không chỉ giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào dầu mỏ mà còn góp phần vào việc giảm phát thải khí nhà kính. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa các điều kiện phản ứng như nhiệt độ, áp suất và thành phần xúc tác có thể nâng cao đáng kể hiệu suất sản xuất hydrocarbon. Điều này mở ra cơ hội cho việc phát triển các quy trình sản xuất nhiên liệu sạch và bền vững hơn trong tương lai.

II. Phản ứng Fischer Tropsch và xúc tác cobalt

Phản ứng Fischer-Tropsch là một quá trình hóa học quan trọng trong việc chuyển hóa khí tổng hợp thành hydrocarbon. Quá trình này diễn ra thông qua sự kết hợp của CO và H2 dưới tác động của xúc tác cobalt. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng xúc tác cobalt có khả năng tạo ra các sản phẩm hydrocarbon với độ chọn lọc cao, đặc biệt là các sản phẩm C5+. Các yếu tố như nhiệt độ, áp suất và thành phần xúc tác có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất và độ chọn lọc của phản ứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng xúc tác 15%Co/γ-Al2O3 đạt hiệu suất C5+ tốt nhất ở nhiệt độ 220oC và áp suất 7at. Việc sử dụng xúc tác cobalt không chỉ giúp tăng cường hiệu suất phản ứng mà còn giảm thiểu sự hình thành các sản phẩm không mong muốn.

2.1. Cơ chế phản ứng và ảnh hưởng của các yếu tố

Cơ chế phản ứng Fischer-Tropsch bao gồm nhiều giai đoạn, trong đó CO được chèn vào các liên kết carbon để hình thành các chuỗi hydrocarbon. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh các yếu tố như nhiệt độ và áp suất có thể ảnh hưởng đến độ chuyển hóa CO và độ chọn lọc sản phẩm. Cụ thể, khi tăng nhiệt độ, độ chuyển hóa CO tăng lên, nhưng độ chọn lọc cho các sản phẩm C5+ có thể giảm. Ngược lại, áp suất cao thường dẫn đến tăng độ chọn lọc cho các sản phẩm lỏng. Việc tối ưu hóa các điều kiện này là rất quan trọng để đạt được hiệu suất cao nhất trong quá trình sản xuất hydrocarbon.

III. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng xúc tác cobalt trong phản ứng Fischer-Tropsch mang lại hiệu suất cao trong việc sản xuất hydrocarbon. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng xúc tác 15%Co/γ-Al2O3 có thể đạt hiệu suất C5+ lên đến 36.5% khi được xúc tiến bằng Pt ở nhiệt độ 240oC. Điều này cho thấy rằng việc tối ưu hóa thành phần xúc tác và điều kiện phản ứng có thể tạo ra những sản phẩm có giá trị cao từ khí tổng hợp. Ứng dụng của công nghệ này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn góp phần vào việc phát triển các nguồn năng lượng bền vững, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về năng lượng sạch.

3.1. Tính khả thi và triển vọng phát triển

Công nghệ Fischer-Tropsch với xúc tác cobalt có tiềm năng lớn trong việc phát triển các quy trình sản xuất nhiên liệu sạch. Việc nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới có thể giúp tối ưu hóa quá trình chuyển hóa khí tổng hợp thành hydrocarbon. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch mà còn góp phần vào việc bảo vệ môi trường. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện hiệu suất xúc tác và giảm chi phí sản xuất để công nghệ này có thể được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp năng lượng.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Vaán ñeà naêng löôïng Trang 1 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS.1 Tình hình sử dụng năng lượng trên thế giới Năng lượng là một vấn đề quan trọng, có tác động to lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước trên thế giới. Những cuộc khủng hoảng năng lượng trong các thập kỷ đã qua là minh chứng xác thực cho tác động đó. Năm 1859, ngành công nghiệp chế biến dầu mỏ được xem như bắt đầu ra đời khi mà Edwin Drake (Mỹ) khai thác được dầu thô, khi đó lượng dầu thô khai thác được rất ít, chỉ dùng cho mục đích thắp sáng. Nhưng chỉ vài năm sau đó, không chỉ riêng ở Mỹ mà ở các nước khác người ta cũng tìm thấy dầu, từ đó sản lượng khai thác ngày càng được tăng lên rất nhanh, và đến ngày nay các sản phẩm năng lượng dầu mỏ đã chiếm đến 70% tổng số năng lượng tiêu thụ trên thế giới [3].

Tuy nhiên, dầu mỏ là một nguồn nhiên liệu hóa thạch cần một thời gian rất dài để hình thành, trong khi đó nhu cầu phát triển của con người ngày càng mạnh mẽ hơn, con người lại càng đẩy mạnh việc khai thác dầu mỏ, và ngày càng làm cho nguồn tài nguyên này trở nên cạn kiệt. Đặc biệt, nhu cầu năng lượng của các nước đang phát triển ở châu Á và Trung Nam Mỹ, dự báo có thể sẽ tăng gấp hơn bốn lần trong thời gian từ 1999 tới 2020, chiếm khoảng một nửa tổng dự báo giá tăng tiêu thụ năng lượng của thế giới vào khoảng 83% tổng gia tăng năng lượng của riêng thế giới đang phát triển.1 Nhu cầu năng lượng trên thế giới [3, 4] 1997 2000 2003 2005 2007 Dầu thô 3433.8 Khí thiên nhiên 2026.5 Năng lượng hạt nhân 541.2 (Đơn vị: triệu tấn dầu quy đổi) Trong đó các nước phát triển với 3/4 dân số thế giới tiêu thụ 25% tổng năng lượng toàn cầu.2 Trang 2 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS. Nguyeãn Höõu Löông Bảng 1.2 Nhu cầu năng lượng theo khu vực trên thế giới năm 2007 [3, 4] Dầu thô Khí thiên Than đá Năng lượng Thủy điện nhiên hạt nhân tr. tấn % Bắc Mỹ 1134.6 Mỹ Châu Âu 949.1 Châu Á – Thái Bình 1185.3 Dương Thế giới 3952.1 Tiêu thụ dầu Dự báo tiêu thụ dầu của thế giới sẽ tăng khoảng 2,2%/năm, từ 75 triệu thùng/ngày (năm 1999) lên 199 triệu thùng/ngày (năm 2020).

Mặc dù các nước công nghiệp hoá vẫn tiếp tục tiêu thụ nhiều sản phẩm dầu hơn các nước đang phát triển, song khoảng cách này đang thu hẹp khá nhanh. Năm 1999, các nước đang phát triển chỉ tiêu thụ 58% lượng dầu các nước công nghiệp hoá tiêu thụ; nhưng đến năm 2020, dự báo các nước này sẽ tiêu thụ tới 90% lượng dầu tiêu thụ bởi các nước công nghiệp hoá. Dự báo sự tăng tiêu thụ dầu ở các nước công nghiệp hoá chủ yếu sẽ xảy ra trong lĩnh vực giao thông vận tải,bởi hiện tại chưa có nguồn nhiên liệu thay thế nào có thể cạnh tranh được với dầu. Ở các nước đang phát triển, nhu cầu về dầu dự báo sẽ tăng trong tất cả các ngành vì cơ sở hạ tầng năng lượng ở các nước này đang được hoàn thiện, nên nhân dân các nước này đang chuyển từ sử dụng các nhiên liệu truyền thống như củi để sưởi ấm.

nấu nướng sang điện, ga. Ngoài ra các sản phẩm hoá dầu cũng đang được sử dụng trong công nghiệp. Trang 3 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS.2 Tiêu thụ khí thiên nhiên Khí tự nhiên (KTN) được dự báo là nguồn năng lượng có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất, tăng gần gấp đôi trong thời kỳ dự báo, và đạt tới 460 m3 tỷ vào năm 2020. Lần đầu tiên tiêu thụ KTN vượt qua tiêu thụ than đá vào năm 1999, dự báo năm 2020, sẽ vượt mức tiêu thụ than khoảng 38%.

Tỷ lệ tiêu thụ KTN trong tổng tiêu thụ năng lượng dự báo sẽ tăng từ 23% năm 1999 lên 28% năm 2020. KTN cũng sẽ chiếm phần gia tăng lớn thất để sử dụng trong phát điện, và chiếm khoảng 43% tổng gia tăng năng lượng dùng trong phát điện.3 Tiêu thụ than Khoảng 65% tiêu thụ than của thế giới là để phát điện. Tiêu thụ than của thế giới đã bắt đầu gia tăng chậm kể từ thập kỷ 80 và dự báo xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong suốt thời kỳ dự báo, với tốc độ tăng trung bình 1,7%/năm. Năm 1999, than cung cấp 22% tiêu thụ năng lương sơ cấp của thế giới, trong khi năm 1985 con số đó là 27%; dự báo tới 2020, sẽ giảm xuống còn 20%.

Trong khi nguồn dầu thô đang ngày càng cạn kiệt thì trữ lượng than vẫn còn rất nhiều trên thế giới và phân bố tương đối đồng đều. Ước tính, trữ lượng than của Mỹ đạt gần 276 tỉ tấn, của Nga là 173 tỉ tấn, của Trung Quốc là 126 tỉ tấn và của Ấn Độ là 93 tỉ tấn. Nếu quy theo đương lượng dầu mỏ, trữ lượng than của Trung Quốc cao gấp đôi dự trữ dầu mỏ của Arập Xê-út. Theo dữ liệu khảo sát của Công ty British Petrol [7, 11], với mức tiêu thụ và khai thác như hiện tại thì thế giới có đủ than để sử dụng trong 164 năm nữa.2 Lượng dầu dự trữ trên thế giới Các chuyên gia dự báo “trong điều kiện đà khai thác thường nhật vẫn duy trì như hiện nay, trữ lượng dầu mỏ trên hành tinh sẽ hết sạch vào năm 2051”.

Trung bình mức độ khai thác thường niên là 3 tỉ thùng, nghĩa là chỉ đủ sử dụng trong 42 năm (hình 1.1) Trang 4 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS. Nguyeãn Höõu Löông Hình 1.1 Trữ lượng dầu xác minh tính đến thời điểm cuối năm 2007 [8].3 Trữ lượng khí thiên nhiên Liên Xô có trữ lượng khí thiên nhiên xác minh lớn nhất, ước tính 1,680 Tcf, gấp đôi Iran với trữ lượng lớn tiếp theo vào năm 2004 (hình 1.2 20 nước có trữ lượng khí lớn nhất (đơn vị Tcf) [6] Trang 5 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS.4 Các nguồn thay thế trong nước 1.1 Nguồn than trong nước [1] - Bể than Antraxit Quảng Ninh: Nằm về phía Đông Bắc Việt Nam, kéo dài từ Phả Lại qua Đông Triều đến Hòn Gai- Cẩm Phả - Mông Dương- Cái Bầu- Vạn Hoa dài khoảng 130Km, rộng từ 10Km đến 30Km, có tổng trữ lượng khoảng 10,5 tỉ tấn. Than Antraxit Quảng Ninh có chất lượng tốt, phân bố gần các cảng biển, đầu mối giao thông. rất thuận lợi cho khai thác và tiêu thụ sản phẩm.

- Bể than Đồng bằng sông Hồng: nằm trọn trong vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, có đỉnh là Việt Trì và cạnh đáy là đường bờ biển kéo dài từ Ninh Bình đến Hải Phòng, thuộc các tỉnh thành phố: Thái Bình, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Sơn Tây, Hà Nam, Phủ Lý, Phúc Yên, Vĩnh Yên và dự kiến còn kéo dài ra vùng thềm lục địa của biển Đông Việt Nam. Với diện tích khoảng 3500km2, với tổng trữ lượng dự báo khoảng 210 tỷ tấn. Than thuộc loại Á bitum B (Subbituminous B), rất thích hợp với công nghệ nhiệt điện, xi măng, luyện thép và hoá chất. - Các mỏ than vùng Nội địa: Có trữ lượng khoảng 400 triệu tấn, phân bố ở nhiều tỉnh, gồm nhiều chủng loại than: Than nâu-lửa dài (mỏ than Na Dương, mỏ than Đồng Giao); than bán Antraxit ( mỏ than Núi Hồng, mỏ than Khánh Hoà, mỏ than Nông Sơn); than mỡ ( mỏ than Làng Cẩm, mỏ than Phấn Mễ, mỏ than Khe Bố)., có nhiều mỏ than hiện đang được khai thác - Các mỏ than Bùn: Phân bố ở hầu khắp 3 miền: Bắc, Trung, Nam của Việt Nam, nhưng chủ yếu tập trung ở miền Nam Việt Nam, đây là loại than có độ tro cao, nhiệt lượng thấp, ở một số khu vực có thể khai thác làm nhiên liệu, còn lại chủ yếu sẽ được sử dụng làm phân bón phục vụ nông nghiệp.

Tổng trữ lượng than bùn trong cả nước dự kiến có khoảng 7 tỉ mét khối. Từ các số liệu thực tế trên cho thấy Việt Nam có nguồn than dồi dào, tương lai đủ sức để thay thế dầu thô trong khi lại chưa có kế hoạch khai thác hợp lý để biến nó thành sản phẩm có giá trị hơn. Chính vì thế đây là nguồn nguyên liệu triển vọng đáng tin cậy cho phản ứng Fischer-Tropsch nhằm giảm bớt sự phụ thuộc của con người vào dầu thô và đảm bảo an ninh năng lượng cho quốc gia. Trang 6 Hoïc vieân: Traàn Bình Troïng Chöông 1: Vaán ñeà naêng löôïng GVHD: TS.2 Nguồn sinh khối Ngoài than đá-một nguồn nguyên liệu hóa thạch-còn một nguồn nguyên liệu khác đó chính là biomass đang thu hút sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới bởi lẽ không chỉ nguồn cung cấp đa dạng mà còn thân thiện với môi trường nhất là trong tình hình thế giới đang bị đe dọa bởi nạn ô nhiễm đặc biệt là hiệu ứng nhà kính thì biomass lại càng đóng vai trò quan trọng hơn nữa.

Việt nam là một nước nông nghiệp và hàng năm thải ra một lượng lớn đến hàng chục triệu tấn các chất phế thải(sinh khối) như trấu, bã mía, vỏ hạt điều, mùn cưa, rơm. Sử dụng nguồn sinh khối này một cách thích hợp để sản xuất nhiệt và điện năng sẽ đem lại cơ hội mới cho nông nghiệp, cải thiện an ninh năng lượng, và mang lại lợi ích cho môi trường và xã hội. Sinh khối ở nước ta có nhiều dưới dạng phế thải nông nghiệp (trấu, rơm,vỏ lạc …), phế thải của sản xuất, chế biến gỗ (mùn cưa, dăm bào, gỗ vụn. Ngoại trừ mía đường thì các nguồn sinh khối khác ở Việt Nam vẫn chưa được khai thác sử dụng hiệu quả.

Phụ phẩm thừa từ nông nghiệp bao gồm: vỏ trấu (100 triệu tấn), mùn cưa (250 triệu tấn), vỏ lạc (4,5 triệu tấn), vỏ hạt điều, bã mía, gỗ vụn (400 triệu tấn), rơm rạ… (số liệu thế giới năm 1987). Theo thống kê 60% lượng này là ở các nước đang phát triển và hầu hết bị thải ra môi trường. Việt Nam từ khi gia nhập WTO đã mở rộng thị trường hợp tác đầu tư, mở ra cơ hội thách thức cho tất cả các ngành kinh tế, đặc biệt là nông nghiệp với nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực: thóc gạo, gỗ, cà phê… Do đó lượng phế thải sẽ tập trung quy mô lớn và nhu cầu cần xử lý sao cho có hướng tốt nhất để phát triển tiềm năng sinh khối từ đó mang lại. Lượng phụ phẩm sinh ra ở một số vùng được trình bày ở bảng 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ